Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Nghi Tàm là một thiết chế tín ngưỡng mang tên gọi gắn liền với địa danh Nghi Tàm. Bên cạnh tên gọi phổ biến là “đình Nghi Tàm”, di tích này trong dân gian còn được biết đến với tên “đền Nghi Tàm” hay “miếu Nghi Tàm”. Hiện nay, công trình tọa lạc tại cụm dân cư số 4, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
Chạ Nghi, tức làng Nghi Tàm nay thuộc phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội, là một vùng đất cổ giàu truyền thống lịch sử và văn hóa. Từ thời Lý, địa danh này được gọi là trại Tàm Tang; sang thời Trần đổi thành phường Tích Ma; đến thời Lê lấy tên phường Nghi Tàm, thuộc tổng Thượng, huyện Vĩnh Thuận. Từ năm 1893 đến 1942, vùng này trực thuộc huyện Hoàn Long (Hà Đông), và từ sau năm 1943 lại trở về địa giới Hà Nội. Nghi Tàm mang dấu ấn đặc biệt của vùng đất Long Đỗ – nơi Hồ Tây lưu giữ linh khí của non sông ngàn năm.
Lịch sử và nhân vật
Căn cứ vào văn bia lập năm Chính Hòa thứ 24 (1703) có thể khẳng định đình ít nhất có từ thời điểm này. Theo sách Tây Hồ chí, làng Nghi Tàm tôn thờ nhiều vị thần, trong đó có hai nhân vật lịch sử – huyền thoại nổi bật là Võ Trung và Võ Quốc. Tương truyền, hai ông vốn là đôi bạn nối khố, giỏi võ nghệ, từng phò tá vua Thục An Dương Vương đánh tan giặc Phí Công Nguyên bằng mưu lược nghi binh. Về sau, khi Triệu Đà xâm lược, hai ông lập căn cứ chống giặc tại Ba Điểm, nhiều lần thắng lợi. Tuy nhiên, khi âm mưu Trọng Thủy được thực hiện, cả hai xin cáo quan trở về quê. Trong một trận giao tranh khốc liệt, Võ Quốc tử trận, còn Võ Trung cùng nghĩa binh rút về vùng Hồ Tây, tiếp tục tụ nghĩa, ngâm thơ, bày tỏ chí khí chiến đấu đến cùng. Truyền thuyết kể rằng, sau khi hóa, ông rẽ nước xuống Hồ Tây và để lại điềm lành. Đến thời Lý Thánh Tông, trước khi nam chinh đánh Chiêm, vua đã đến đây cầu đảo, sau thắng trận sắc phong hai ông là thượng đẳng thần. Nhân dân còn tin rằng Võ Trung và Võ Quốc là hóa thân của Hàn Minh Vương và Động Đình Vương, hai vị tướng thời Hùng.
Ngoài việc thờ hai danh tướng họ Võ, đình Nghi Tàm còn phối thờ những vị thành hoàng có công với làng nghề dâu tằm tơ lụa như công chúa Từ Hoa (con vua Lý Thần Tông, 1128-1138), bà Quỳnh Hoa thời Hậu Lê, và quan ngự sử Trương Đỗ thời Trần. Đặc biệt, đình còn thờ Hoàng Hiệp Tây Hồ – một thủy thần của Hồ Tây. Theo sắc phong, vị thần này được đưa vào phối thờ từ giữa thế kỷ XIX, với sắc phong sớm nhất mang niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853). Như vậy, hiện nay đình Nghi Tàm thờ bốn vị thần chính, trong đó ba vị được phụng thờ từ rất sớm, còn Hoàng Hiệp Tây Hồ mới bổ sung muộn hơn.
Trong hệ thống thờ tự tại đình Nghi Tàm, ngoài các vị đại vương, còn có sự hiện diện của Lỗ Quốc Thái Sư. Theo truyền khẩu của các bậc cao niên trong làng, vị thần này vốn thuộc họ Sĩ, xuất thân từ nước Lỗ, nổi tiếng trong giới nho học. Ngài di cư sang nước Nam vào thời nhà Hán, dưới triều vua Bình Đế, rồi lập cư tại địa phương, dựng trường mở lớp, đào tạo được nhiều sĩ tử ưu tú. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, ngài trở về Bắc quốc. Nhân dân bản ấp cảm niệm công đức liền lập đền thờ tại chính nơi ngài từng dạy học. Từ đó, ngôi đền ngày càng linh ứng, được các triều đại sắc phong, tôn xưng là “Lỗ Quốc Thái Sư” và phối thờ cùng các vị thành hoàng bản phường.
Ngoài ra, đình Nghi Tàm còn thờ Quỳnh Hoa Đoan Trang công chúa. Thần tích chép rằng vào triều Lê Thánh Tông, tại tỉnh Hà Nam có quan Trần Vĩ, sau khi về trí sĩ đã mở trường dạy học tại làng Nghi Tàm. Ông bà nhân từ, hay làm việc thiện nhưng tuổi đã ngoài 50 vẫn chưa có con. Một hôm, khi ngồi nghỉ bên Hồ Tây, ông mộng thấy được lên thượng giới, chứng kiến triều đình Ngọc Hoàng ban lệnh cho công chúa Quỳnh Hoa hạ phàm đầu thai vào gia đình ông. Quả nhiên sau đó, bà Trần sinh một ái nữ, đặt tên là Quỳnh Hoa. Lớn lên, nàng sắc đẹp trác việt, được gả cho Liễu Nghị – người bạn thân của cha, thi đỗ tiến sĩ và làm quan tại Hà Trung. Khi có giặc Chiêm Thành, Quỳnh Hoa cải trang nam tử, đem quân trợ chiến cho chồng. Sau khải hoàn, gia đình về Thăng Long sinh sống.
Khi Liễu Nghị qua đời, Quỳnh Hoa xin về Nghi Tàm cư trú. Bà không chỉ tinh thông văn võ mà còn đặc biệt giỏi nghề dâu tằm, truyền dạy cho nhân dân, khiến nghề tằm tang ở đây trở nên thịnh đạt. Về sau, bà được tôn xưng là bà chúa tằm, trở thành thành hoàng làng, được hơn 60 làng phụng thờ.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Nghi Tàm hiện tọa lạc trên một doi đất ven Hồ Tây. Theo ký ức của các bậc cao niên trong ban quản lý di tích, trước đây ngôi đình có quy mô kiến trúc khá bề thế, gồm năm gian tiền tế, ba gian hậu cung, cùng tả mạc và hữu mạc đối xứng hai bên. Toàn bộ kiến trúc đều làm bằng gỗ lim lớn, thân gỗ to đến mức một người ôm không xuể; phần cột hiên và bậc thềm chế tác từ đá xanh, có kích thước lớn, tạo nên sự vững chãi và bền chắc.
Đại đình – trung tâm chính của di tích – được dựng trên nền cao khoảng 40 cm so với sân đình, có kết cấu năm gian hai chái, mái lợp ngói hai lớp (ngói dải và ngói lợp). Kết cấu mái theo kiểu tàu đao lá mái, toàn bộ kiến trúc dựa trên 06 bộ vì làm theo dạng giá chiêng chồng rường, tiền kẻ hậu bẩy, với 06 hàng cột lớn đặt trên các chân tảng đá đường kính từ 47-54 cm. Nghệ thuật chạm khắc tập trung tại các bức cốn nách, đầu dư và con rường cụt, chủ đề trang trí chủ yếu gồm hình tượng rồng, tứ linh, tứ quý, phản ánh phong cách điêu khắc truyền thống.
Hậu cung nối liền gian giữa đại đình, tạo thành bố cục kiến trúc hình chữ Đinh. Kiến trúc hậu cung đơn giản, chủ yếu bào trơn, ít trang trí. Trung tâm hậu cung đặt khám thờ, trong có long ngai bài vị của thành hoàng làng; phía trước bày mũ, hia, áo thờ của thần. Đặc biệt, long ngai có điểm độc đáo: thân ngai trang trí đôi rồng chầu quay mặt vào nhau theo dạng cánh cung. Trước ngai còn đặt nhiều đồ thờ tự: bát hương thời Hậu Lê chạm hoa cúc dây và lá lật, cùng hai pho tượng phỗng hầu nhỏ, cao khoảng 40 cm, hình dáng mình trần, đóng khố, tai trái cầm binh khí giơ cao, thể hiện nét độc đáo trong hệ thống hiện vật thờ tự.
Hiện vật
Đình Nghi Tàm hiện còn lưu giữ một hệ thống di vật phong phú, đa dạng cả về loại hình lẫn chất liệu, bao gồm bia đá, thần tích, sắc phong, chuông đồng, ngai thờ, cửa võng, hoành phi, câu đối…, tất cả đều mang giá trị thẩm mỹ và lịch sử đáng kể. Trong đó, đặc biệt nổi bật là 32 đạo sắc phong bản gốc dành cho các vị thành hoàng làng, trải dài từ thời Lê đến Tây Sơn. Đây là một con số hiếm thấy trong kho tàng di sản đình làng Hà Nội, tạo nên giá trị độc đáo của đình Nghi Tàm. Các sắc phong không chỉ có giá trị như nguồn tư liệu thành văn vô cùng quý báu, giúp làm sáng tỏ thân thế, công trạng của các vị thần được thờ phụng trong hệ thống thần điện Việt Nam, mà còn phản ánh tiến trình phát triển của thiết chế đình làng qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau.
Ngoài ra, đình còn bảo tồn được năm tấm bia đá, trong đó bốn tấm thuộc thời Lê, đều được chế tác tinh xảo và công phu. Nghệ thuật tạo tác văn bia tại đây đạt đến trình độ cao, được thể hiện qua các mô-típ trang trí giàu tính biểu tượng như hoa dây, đường sin, lá đề, sóng nước, hoa cúc, rồng chầu, cá chép… Từng đường nét chạm khắc vừa mạnh mẽ, dứt khoát, vừa phóng khoáng, cho thấy tài nghệ điêu luyện và sự tinh tế của các nghệ nhân xưa.
Hệ thống di vật bằng gỗ của đình cũng rất phong phú, bao gồm cửa võng, ngai thờ, kiệu gỗ, hương án, hoành phi, câu đối… với các kỹ thuật chạm thủng, chạm lộng, chạm bong đặc sắc. Các họa tiết trang trí truyền thống như rồng, phượng, hoa lá được thể hiện sinh động, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, góp phần hoàn thiện giá trị tổng thể của di tích.
Lễ Hội
Lễ hội lớn tại đền được ghi nhận lần cuối vào khoảng năm 1924, với sự tham gia của mười ba làng – trại trong khu vực, tạo nên một sinh hoạt tín ngưỡng – văn hóa quy mô rộng lớn. Nghi thức rước kiệu khi ấy được tổ chức hết sức long trọng: ngày mồng 10 tháng Hai, đoàn rước xuất phát từ Thụy Khuê sang Thủ Lệ; ngày 11 tháng Hai, đoàn tiếp tục từ Thủ Lệ sang Hào Nam – biểu trưng cho mối quan hệ kết nghĩa bền chặt giữa hai làng. Xưa kia, làng Thủ Lệ duy trì lệ thờ cúng theo ba giáp (Bắc, Nam, Đông), đồng thời giữ vai trò chủ tế trong kỳ đại hội tổ chức năm năm một lần, trong khi làng Vạn Phúc đảm trách việc đọc chúc văn. Riêng các lễ hội thường niên, hai làng này luân phiên nhau: Vạn Phúc giữ vai trò chủ tế, còn Thủ Lệ đảm nhiệm đọc chúc văn. Vào chính hội, bài vị thành hoàng được rước từ đình hàng tổng Vạn Phúc về đền Thủ Lệ, đi cùng kiệu bát cống do trai đinh khiêng qua nhiều quả đồi. Đặc biệt, đoạn đường gập ghềnh khiến người khiêng vừa phải bò, vừa giữ nhịp, tạo nên hình ảnh độc đáo gắn với địa danh dốc Núi Bò (gần Đại sứ quán Thụy Điển ngày nay).
Không khí lễ hội rực rỡ, vàng tươi sắc hoàng anh hòa cùng sắc kiệu, mũ áo, cờ lọng. Không chỉ mười ba trại tham gia, mà còn có đoàn từ các làng xa như Bồng Lai, Chí Trung, Tăng Non, Đình Vĩ (Hà Tây), Đình Bảng (Bắc Ninh), Thọ Vực (Hưng Yên)… Đám rước được tổ chức trang trọng với cờ quạt, chiêng trống, phường bát âm, đội sênh tiền, các cô gái múa bông, cùng kiệu rước sắc vua phong và kiệu long đình nghi ngút khói hương. Dưới hồ, thuyền rồng lướt sóng, tiếng trống dội vang, hòa cùng bước chân quan tế, các bậc kỳ lão và đội nữ trong trang phục rực rỡ. Đoàn rước dù chỉ di chuyển hơn 300 mét, từ cổng đền vào nội tự, nhưng kéo dài đến hai giờ, thể hiện tính trang nghiêm đặc biệt.
Sau phần rước và tế lễ, hội kéo dài ba ngày, với nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc: ngâm thơ, triển lãm thư pháp chữ Hán, hát quan họ, đấu cờ người… Du khách đến dự hội vừa dâng hương, vừa được trải nghiệm không gian cổ kính với gò, ao, hồ, tam quan lát gạch Bát Tràng, hàng muỗm xanh, cây si cổ thụ rễ buông, nổi bật giữa khung cảnh đô thị hiện đại.
Xếp hạng
Với giá trị đặc biệt về lịch sử và cảnh quan, đền đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, thắng cảnh từ năm 1962.
Tham khảo
- Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên (chủ biên), Địa chí Thăng Long – Hà Nội trong thư tịch Hán Nôm – phần Thăng Long cổ tích khảo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nhà xuất bản Thế Giới.
- Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
- Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.
- Trần Thanh Đạm (1962). Tây Hồ chí, Nxb Bộ Giáo dục.