Đình Hoàng (Đình Cổ Nhuế – Bắc Từ Liêm, Hà Nội)

Đình Hoàng (Đình Cổ Nhuế – Bắc Từ Liêm, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Hoàng, còn được biết đến với các tên gọi khác như đình Cổ Nhuế hay đình Chạ, là một di tích thờ tự lâu đời của cư dân vùng Bắc Từ Liêm. Ngôi đình tọa lạc tại vị trí đối diện ngõ 488 đường Trần Cung, thuộc địa phận phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Với vị thế gắn liền cùng làng Cổ Nhuế cổ xưa, một làng có bề dày lịch sử, khoa bảng và văn hóa, đình Hoàng giữ vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng của người dân địa phương.

Lịch sử và nhân vật

Đình Hoàng, còn gọi là đình Cổ Nhuế hay đình Chạ, là một trong những di tích tiêu biểu của vùng đất cổ Kẻ Noi (Cổ Nhuế), mang niên đại lâu đời và gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử – văn hóa quan trọng. Đây là nơi thờ phụng và tưởng niệm Đông Trịnh Vương, hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, vị tướng tài có công lớn trong việc dẹp tan giặc ở Văn Châu (Lạng Sơn) dưới triều Lý.

Tương truyền, vào tháng Tám năm Đinh Mão, niên hiệu Thuận Thiên thứ 18 (1027), Đông Trịnh Vương phụng mệnh vua cha cầm quân đi đánh giặc Văn Châu. Trên đường hành quân, Ngài và đoàn quân đã được dân vùng Cổ Nhuế, khi ấy còn thưa thớt, nhà cửa đơn sơ, nhiệt thành tiếp đón. Đến tháng Hai năm sau, sau khi toàn thắng trở về, dân làng lại ra nghênh đón một cách thành kính. Ngài đã tâu với vua cha rằng: “Đội ơn uy linh của trời đất, quân đi đến đâu thắng đó. Phàm những nơi đi qua và trở về có người dân ra đón hai bên đường, gồm 82 xã, đều muốn xin hoàng nhi làm phúc thần địa phương”. Vua Lý Thái Tổ đã chấp thuận, ban cho dân Cổ Nhuế 1.600 mẫu ruộng và miễn tô thuế.

Đến năm Thiên Thánh thứ 2, hoàng tử cho lập chùa ở Cổ Nhuế, nhờ thầy phong thủy chọn đất tốt. Công chúa Tả Minh Hiền, thấy dân nghèo khó, đã bỏ tiền riêng để xây dựng chùa Sùng Quang Tự (chùa Cả). Dân làng cũng lập đền thờ công chúa bên tả chùa. Trải qua thời gian, vùng Cổ Nhuế ngày càng trù phú, chia thành hai phường với 14 thôn, trong đó có bốn thôn cổ: Hoàng, Đống, Trù, Viên. Ngoài đình Hoàng còn có đình thôn Viên, đền Bà Chúa và ba ngôi chùa cổ: Sùng Quang, Trùng Hưng, Anh Linh.

Theo tư liệu lịch sử, đình Hoàng xưa được dựng từ đời Cảnh Hưng (1745), nhiều lần trùng tu. Đến tháng 3-1986, đình được di chuyển về vị trí hiện nay, đối diện ngõ 488 phố Trần Cung, để nhường đất làm đường lên cầu Thăng Long.

Kiến trúc cảnh quan

Đình Hoàng, còn được gọi là đình Cổ Nhuế hay đình Chạ, là một công trình kiến trúc có quy mô lớn và mang nhiều nét đặc sắc, khác biệt với kiểu kết cấu chữ “đinh” quen thuộc của đình làng vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tổng thể đình được tổ chức theo trục chính gồm tam quan, phương đình, đại bái, nhà cầu và hậu cung, kết hợp hài hòa với sân vườn và các yếu tố cảnh quan, tạo nên một không gian thờ tự vừa bề thế vừa cổ kính.

Mặt đình quay về hướng đông – nam, mở ra một khoảng sân rộng dẫn vào tam quan xây theo kiểu nghi môn với các trụ biểu lớn. Trên bức tường phía trước tam quan có đắp nổi tượng hai vị Hộ pháp, đối diện với đôi voi đá đặt trên bệ ở khu sân hướng ra phố Trần Cung. Khu vực này xưa kia có một cầu đá bắc qua con lạch nhỏ chảy về sông Nhuệ, về sau được thay thế bằng cống ngầm để giữ cho dòng nước vẫn chảy qua dưới nền sân và phố, cho thấy sự kết hợp giữa yếu tố tự nhiên và nhân tạo trong quy hoạch di tích.

Ngay sau tam quan là phương đình gồm ba gian, dựng bằng cột trụ vuông xi măng, mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh với các đầu đao uốn cong thanh thoát. Kết cấu vì kèo theo lối chồng rường, giá chiêng chắc khỏe, vừa truyền thống vừa có sự thích ứng với vật liệu hiện đại. Điểm nhấn nghệ thuật của phương đình là các bức cốn hồi chạm khắc tinh xảo, thể hiện nhiều đề tài mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc như “mai lão hóa rồng”, “trúc lão hóa rồng”, “rùa chở chữ Thọ” cùng các mảng chạm “ngũ linh quần hội” và “mai, cúc, trúc, tùng”, phản ánh tư tưởng nhân sinh và vũ trụ quan của người Việt.

Tòa đại bái nằm ở trung tâm, xây theo lối tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc đắp hình rồng chầu mặt nguyệt, thân rồng trải dài theo sống mái, xen kẽ hình nghê, bốn đầu đao cong vút mang dáng rồng lá. Bên trong gồm ba gian hai chái, tường bao kín, vì kèo giản lược, chủ yếu là bào trơn đóng bén, tạo không gian thờ tự trang nghiêm, là nơi diễn ra các nghi lễ quan trọng của cộng đồng. Nối liền đại bái và hậu cung là nhà cầu, một dãy nhà hẹp chạy song song với đại bái, kết cấu kiểu vỉ ruồi, hai gian bên để trần, đóng vai trò không gian trung chuyển vừa gắn kết vừa phân tách hai khu vực chính.

Hậu cung là hạng mục quan trọng nhất của đình, được xây theo lối chồng diêm hai tầng tám mái, mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc đắp rồng, tám đầu đao cách điệu thành hình rồng uốn vươn. Hậu cung mở ra bốn cửa lớn, các cánh cửa làm theo kiểu thượng song hạ bản, phần nền bản chạm khắc tinh vi với đề tài tứ quý, cột phần lớn bào trơn đóng bén, vừa chắc chắn vừa trang nhã. Đây là không gian linh thiêng nhất, nơi đặt long ngai, bài vị cùng các đồ tự khí, đồng thời cũng là trung tâm hội tụ giá trị nghệ thuật, tín ngưỡng và văn hóa dân gian.

Hiện vật

Ngoài các giá trị kiến trúc, đình Hoàng hiện còn lưu giữ một hệ thống hiện vật phong phú, có niên đại trải dài từ thời Lê Trung hưng đến triều Nguyễn, phản ánh rõ nét truyền thống thờ tự, cũng như quá trình lịch sử của làng xã Cổ Nhuế. Nổi bật nhất là 17 đạo sắc phong ban cấp cho thần, kéo dài qua nhiều triều đại từ Lê Trung hưng cho tới triều Khải Định, thể hiện sự khẳng định và củng cố vị thế của ngôi đình trong đời sống tín ngưỡng địa phương. Bên cạnh đó, một cuốn ngọc phả được lưu giữ như nguồn sử liệu quan trọng, ghi chép về lai lịch, công đức của vị thần được thờ phụng.

Không gian thờ tự còn trang trọng hơn nhờ hệ thống hoành phi câu đối, trong đó có 4 bức đại tự và 1 đôi câu đối sơn son thếp vàng ca ngợi công đức của triều Lý, góp phần tôn vinh lịch sử và khơi gợi niềm tự hào truyền thống cho cộng đồng. Hiện vật gắn liền với tín ngưỡng và nghi lễ còn có 3 long ngai đặt tại hậu cung, 1 kiệu bát cống chạm khắc tinh xảo, trên đó khắc dòng chữ “Cảnh Hưng Giáp Thìn niên” (1784) – một dấu tích quý hiếm cho thấy lịch sử lâu đời và sự liên tục của các sinh hoạt lễ hội. Ngoài ra, đình còn giữ 1 bộ sập thờ, đôi voi đá mang ý nghĩa biểu tượng về sức mạnh và sự bảo hộ, cùng 1 quả chuông đúc dưới niên hiệu Thành Thái Kỷ Hợi (1899), góp phần tạo nên âm vang thiêng liêng trong mỗi dịp tế lễ.

Bổ sung cho hệ thống hiện vật còn có 2 bộ tam sự, 3 bát nhang và nhiều đồ sứ quý, tất cả đều được bảo tồn trong tình trạng tốt. Toàn bộ những hiện vật này không chỉ có giá trị về mặt lịch sử, mỹ thuật, tín ngưỡng mà còn là minh chứng sinh động cho sự gắn bó giữa cộng đồng cư dân Cổ Nhuế với ngôi đình qua nhiều thế kỷ.

Lễ Hội

Theo lệ cổ truyền, dân làng Cổ Nhuế hàng năm đều tổ chức hội đình Hoàng với hai quy mô khác nhau: hội chính được mở năm năm một lần và hội lẻ diễn ra vào những năm xen kẽ. Ngày hội chính được ấn định vào mồng 10 tháng Hai âm lịch, ngày gắn với sự kiện nhà thánh xuất quân đánh giặc Văn Châu thuở xưa, và được tổ chức long trọng, quy mô. Ngay từ đêm mồng 9, không khí lễ hội đã sôi động: khắp các gia đình trong làng đều chuẩn bị bánh trái, lễ vật, còn tại đình, các bô lão tiến hành lễ túc yết suốt đêm, hương khói đèn nến sáng rực.

Sáng hôm sau, từ 8 giờ, nghi lễ rước văn được cử hành, với lễ vật ngoài hương hoa ngũ quả còn có những món giản dị, tượng trưng cho lương khô của quân lính năm xưa như chè kho, bánh dày, bánh rán, gọi là “độ nước lâm trận”. Sau đó, các dòng họ trong làng lần lượt dâng mâm lễ. Lễ tế thần được tiến hành trong bầu không khí trang nghiêm, thành kính. Tiếp đến là lễ rước thánh, trong tiếng trống chiêng vang dội. Đội rước kiệu bát cống gồm hai tổng cờ và tám trai làng tuổi xuân sắc, phục sức quần trắng, áo dài đỏ, thắt lưng xanh, đầu chít khăn nhiễu. Song hành với họ là kíp đối quân, cũng gồm tám trai làng, mặc quần trắng, áo vàng, thắt lưng đỏ. Đi đầu đoàn rước là đội múa sư tử, múa bồng, rồi đến cờ thần ngũ sắc, cờ ngũ hành, tàn lọng, hỏa bài, phường bát âm tấu nhạc cổ. Chính giữa đoàn là kiệu bát cống chạm khắc vàng son, trên có ngai, mâm lễ, đèn nến, hương hoa, được rước qua các địa điểm linh thiêng như chùa Sùng Quang, đền Bà Chúa, chùa Anh Linh trước khi trở lại đình Hoàng làm lễ cúng giã. Cảnh đoàn rước với cờ phướn, lọng tía, hỏa bài, binh khí rực rỡ, uốn lượn qua các ngả đường được ví như một bức tranh sơn mài sống động.

Sau phần lễ là phần hội, diễn ra trên sân đình, sân chùa. Các trò chơi dân gian phong phú như cò bỏi, chọi gà, hát đối, đặc biệt là trò “đánh cò người” với sự tham gia của các cô gái hóa thân thành tướng ông, tướng bà, tạo nên không khí hào hứng, náo nhiệt. Tiếng trống khẩu “tung tung” thúc giục, tiếng reo hò, tiếng vỗ tay không ngớt làm cho hội càng thêm sôi động. Song song với đó, nhiều người dân và du khách thập phương vào chùa, vào đền để cầu tài, cầu lộc. Nếu là hội chính, cuộc vui kéo dài tới năm ngày liên tiếp, để rồi khi hội tan, ai nấy lại mong chờ đến mùa xuân năm sau.

Xếp hạng

Ngày 25-01-1994, Bộ Văn hóa – Thông tin đã chính thức xếp hạng đình Hoàng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia, khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của di tích trong đời sống cộng đồng.

Tham khảo

  1. Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
  2. Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.
5/5 (2 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)