Tiểu sử
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Kỉnh, sinh giờ Thìn ngày 14 tháng 2 năm Giáp Dần (1914), niên hiệu Duy Tân năm thứ 8 tại thôn Vọng Trì, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Xương và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Hoằng.
Được sinh trưởng trong một gia đình kính tin Tam bảo nên cậu bé Kỉnh sớm được đến chùa nghe kinh niệm Phật. Với chủng tánh sâu dày, khi vừa tròn 10 tuổi thì Ngài được song thân đưa đến chùa Viên Thông, núi Ngự Bình xã An Cựu, huyện Hương Thủy lạy Hòa thượng Thị Bình – Diệu Khai xin xuất gia và được Hòa thượng hoan hỷ nhận làm môn hạ nhập chúng tu học.
Sau một thời gian dài hành điệu, với bổn tánh cần mẫn hiền hòa, Ngài rất được Bổn sư yêu mến. Vào tháng 10 năm Giáp Tuất (1934), Ngài được Hồ thượng Bổn sư cho thọ giới Sa-di với pháp danh Đồng Chơn, tự Thông Niệm, kế tiếp dòng pháp Lâm Tế đời 43 và thế hệ thứ 10 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Ất Dậu (1945), Ngài xin Bổn sư được vân du hành đạo.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Hòa thượng vào Quảng Nam và được Tổng hội Phật giáo Trung phần cử làm Trụ trì chùa Pháp Bảo – Hội An. Tại khu phố nhỏ cổ kính này, Ngài gặp Hòa thượng Phổ Thoại – Tổ khai sơn chùa Long Tuyền, cảm mộ đạo phong của Tổ, Ngài đến cầu pháp và được ban pháp hiệu là Long Hưng.
Năm Đinh Hợi (1947), Ngài thỉnh tượng Phật và đại hồng chung về lại chùa xưa vào mùa thu năm Kỷ Sửu (1949). Bấy giờ, chùa Tỉnh Hội (nay là chùa Pháp Bảo – Hội An) bị chiến tranh tàn phá cháy sém một góc, hai năm sau mới trùng tu lại.
Vào ngày 14 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1949), Ngài chính thức thọ Cụ túc giới tại giới đàn Hộ Quốc chùa Báo Quốc – Huế, do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới. Cùng thọ giới với Ngài còn có Hòa thượng Thích Trí Giác và Hòa thượng Thích Quang Thể.
Sau khi thọ đại giới, Ngài được Giáo hội Tăng già Quảng Nam Đà Nẵng cử làm Trụ trì chùa Bảo Thắng. Tại nơi đây, Ngài tận tâm xây dựng ngôi Tam bảo nên Bảo Thắng dần dần trở thành một ngôi chùa hiện hữu sinh động trong khu phố cổ bên dòng sông Hồi hiền dịu.
Năm Đinh Dậu (1957), thể theo yêu cầu của anh Ngài là Hồ thượng Chơn Không (Nguyễn Văn Tùy) – khai sơn chùa Bát Nhã, Ngài ra đảm nhiệm Trụ trì chùa Bát Nhã tại thị xã Đà Nẵng, chùa Bảo Thắng được Giáo hội cử Sư bà Đàm Minh về làm Trụ trì để phát triển Ni bộ tại Quảng Nam. Từ đây, đạo hữu Phật tử dần dần quy tụ về chùa Bát Nhã tu học dưới sự hướng dẫn của Ngài.
Năm Quý Mão (1963), Phật giáo Việt Nam bị nạn kỳ thị của chính quyền Ngô Đình Diệm, khắp nơi phong trào tranh đấu dâng lên mạnh mẽ. Tại thị xã Đà Nẵng, Phật giáo đồ hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo xuống đường tranh đấu cho 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo. Mùa tranh đấu này, có lần Ngài xin Ủy ban tranh đấu cho Ngài được tự thiêu để cúng dường chư Phật và bảo vệ đạo pháp, nhưng không được chấp thuận.
Trong sự tu học, Ngài cảm nhận sự mầu nhiệm của đức Bồ tát Quán Thế Âm, đồng thời hình ảnh cứu khổ của Bồ tát gần gũi dễ đưa người đến với đạo. Vì thế, Ngài quyết định tôn tạo một bức tượng Quán Thế Âm tôn trí trong khuôn viên chùa Bát Nhã để tín đồ lễ bái cầu nguyện. Vào ngày 11 tháng 2 năm Quý Mão (1963), Ngài đặt đá xây dựng tượng đài Quán Thế Âm lộ thiên dưới sự chứng minh của nhị vị Hòa thượng Thích Tôn Bảo và Thích Tôn Thắng cùng chư Tăng Quảng Nam Đà Nẵng. Công trình xây dựng kéo dài gần 1 năm và lễ an vị được tổ chức vào ngày Vía Quan Âm 19 tháng 9 cùng năm. Và ngày nay, tượng Bồ tát Quan Thế Âm tại chùa Bát Nhã là một trong những tôn tượng đẹp và linh ứng mầu nhiệm nhất tại thành phố Đà Nẵng.
Năm Canh Tuất (1970), Ngài được cung thỉnh làm Tả giám đàn cho Đại giới đàn Vĩnh Gia do Hòa thượng Thích Giác Nhiên – Đệ nhị Tăng thống GHPGVNTN làm Đàn đầu.
Năm Tân Hợi (1971), nhận thấy ngôi chùa Bát Nhã đã xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu tu học của chư Tăng và tín đồ Phật tử nên Ngài phát nguyện đại trùng tu tồn bộ. Công trình đang xây dựng dở dang thì đất nước thống nhất vào mùa xuân năm 1975. Trong giai đoạn giao thời còn rất nhiều khó khăn về mọi mặt, nhưng với tâm nguyện và ý chí kiên định, Ngài đã vượt thắng tất cả để công việc trùng tu được hồn tất vào năm 1983. Công trình tái thiết chùa Bát Nhã với kiến trúc một tầng lầu làm chánh điện và tầng trệt làm nhà giảng đã được tổ chức khánh thành trọng thể vào ngày 15 tháng 9 năm Quý Hợi (20/10/1983).
Sau khi công trình trùng tu hồn tất, Ngài chuyên tâm tu niệm, sáng tối hai thời kinh kệ cầu nguyện quốc thái dân an. Lần lần, môn đệ tín đồ quy tụ khiến cho chốn Già lam Bát Nhã ngày càng hưng thịnh.
Thành, trụ, hoại, không là định luật xưa nay vẫn vậy, Hòa thượng đã thuận theo quy luật ấy, giã từ tứ chúng vào lúc 0 giờ ngày 15 tháng 5 năm Canh Ngọ (1990), hưởng thọ 77 xuân thu và 41 mùa hạ an cư kiết giới. Bảo tháp được kiến tạo trong khuôn viên Tổ đình Phước Lâm – Hội An.
Chùa Bát Nhã – Đà nẵng
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản 2011.