Ni trưởng Như Hoa (1909–1989)

Ni trưởng Như Hoa (1909–1989)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Ni trưởng  sinh năm 1908 ( Mậu Thân) tại huyện Thanh Hưng, tỉnh Đồng Tháp, thế danh Chế Thị Ngàn, Pháp danh Như Hoa, Pháp hiệu Chơn Ngạn. Ni trưởng là con cả trong một gia đình trung nông, Nho giáo nhưng có lòng tin Phật. thân phụ là cụ ông Chế Văn Cảnh, Pháp danh Tế Thời và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Xương, Pháp danh Huệ Phụng, lúc xế chiều song thân đều xuất gia học Phật.

Ngay từ lúc 7 tuổi, ngoài việc học ở trường làng, Ni trưởng còn được cụ ông hướng dẫn chắt chiu về Nho học.

Ni trưởng có hai người em gái, một người thuận theo dòng đời để kế thừa gia nghiệp, còn người em út về sau cùng nối gót Ni trưởng xả tục cầu chân ( đó là Ni trưởng Như Ngọc– Viện chủ chùa Phước Huệ tỉnh Đồng Tháp).

Với lứa tuổi trăng tròn tràn nhứ sống, Ni trưởng nhiều lần xin xuất gia học đạo và đều bị song thân ngăn cấm nhưng không làm lây chuyển được tấm lòng quyết chí của nữ nhi. Năm 1928 khi 19 tuổi, với ý chí kiên định, Ni trưởng quyết định xuất gia dù biết rằng song thân sẽ buồn. Ni trưởng cầu xin hòa thượng Tọa chủ chùa Kim Huê cho phép được cắt tóc xuất gia, học đạo và đã được Hòa thượng chấp thuận. Tuy học đạo ở chùa Tăng, Nhưng lúc nào Ni trưởng cũng khép mình theo quy luật của thiền môn, một mực tinh cần nghiêm thân tấn đạo, được hai giới xuất gia và tại gia quý mến.

Năm 1932, Ni trưởng ra Huế tham học tại Ni trường Diệu Đức, trong thời gian này, Ni trưởng tiếp thu được nhiều tinh hoa từ giáo điển.

Năm 1936, chiến sự bùng nổ ở các tỉnh miền Tây nhất là tại Đồng Tháp và đạo pháp cũng không ngoài sự thịnh suy của đất nước. Được tin quê nhà đang có chiến sự, Ni trưởng xin phép Ban Giám viện cho trở về để hòa mình trong thương đau.

Khi trở về quê nhà, Ni trưởng một mặt khắc phục khó khăn trong đời sống do thời cuộc, một mặt vẫn tham cưu đạo mầu với quý Hòa thượng như: Hòa  thượng Vạn An, Bửu Chung, Phước An, Long An…

Năm 1941 lúc cuốc chiến gay go, kinh tế chùa Kim Huê ngày càng eo hẹp, Hòa thượng Kim Huệ có ý định lãnh ngôi chùa Phước Huệ và đưa Ni chúng trên 30 vị về đây tu học và giao cho Ni trưởng đảm trách, Hòa thượng chỉ làm cố vấn.

Năm 1946, Hòa thượng Kim Huê giao việc Trụ trì chùa Phước Huệ cho Ni trưởng, vì biết Ni trưởng có đủ trình đọ Phật pháp lại có bản chất hài hòa lịch thiệp. Trong giai đoạn này, chùa đang lâm vào cảnh kinh tế khó khăn mà Ni chúng thì đông, nhưng với tài thao lược của Ni trưởng nên mọi việc trong ngoài đều ổn định. Một mặt lo kinh tế nhà chùa, mặt khác lo chỉnh đốn sự tu học của Ni chúng, kiến tạo lại ngôi Tam Bảo đã bị hỏa hoạn do chiến tranh.

Từ năm 1958 đến năm 1960, Ni trưởng làm giám viên Ni trường Dược Sư, nhận thấy không thể bó mình trong môi trường nhỏ hẹp cá nhân mà phải có trách nhiệm dấn thân lợi tha vô kỷ. Với suy nghĩ này, Ni trưởng dốc hết sức lực, tâm trí vào việc xiển dương Phật pháp làm cho Ni trường Dược Sư chuyển mình mạnh mẽ, một sự canh tân phù hợp giữa trách nhiệm, quyền lợi và kết quả là Ni trường Dược Sư ngày càng phát triển, Ni tài được đào tạo ngày càng đông.

Cũng trong giai đoạn này (năm 1959), Ni trưởng lãnh thêm chùa Thiên Hậu ( Phước Hậu ngày nay) để làm cơ sở cho Ni chúng tu học.

Pháp nạn 1963, nhiều Tăng, Ni bị bố ráp, giam cầm trên khắp hai miền Trung-Nam đất nước, có một số vị bị đày đi Rạch Cát,bị giam cầm ở Chí Hòa…Trong hoạn nạn đó Ni trưởng  đều chung lo chia sẻ.

Sau Pháp nạn năm Quý Mẹo (1963), Ni trưởng  đã tích cực tham gia vào việc thành lập Ni bộ có trụ sở Trung ương tại chùa Từ Nghiêm.

Năm 1963-1969, lại một biến cố bi đát của thời đại đã đưa Phật giáo lâm vào đại nạn, nhiều Thượng tọa, Đại đức Tăng, Ni bị chính quyền Sài Gòn giam cầm, nhiều cuộc biểu tình đòi quyền sống, chấm dứt chiến tranh của Tăng Ni, Phật tử diễn ra làm chấn động thế giới. Ý thức hệ từ cuộc chiến chống Mỹ cứu nước đã đưa nội bộ Phật giáo lúc đó ngày càng mâu thuẫn chia ngăn và điển hình là Việt Nam Quốc Tự ngôi chùa hiện hữu do thành quả tranh đấu bình đẳng tôn giáo đã chìm trong tang tóc. 

Từ năm 1968 đến năm 1975, biến cố thiên tai bão lụt khủng khiếp xảy ra tại miền Trung, ở Hải ngoại thì bà con Việt kiều đang sinh sống tại Campuchia bị chế tại đây đàn áp nên phải hương hồi. Đây là trọng tâm cứu trợ của Giáo hội, Ni trưởng là một trong những cán bộ đắc lực theo phương châm:”Nơi nào Phật sự cần thì đến, Phật tử cần thì đi, không ngại gian lao chẳng từ khó nhọc”.

Những tưởng thời gian nhàn hạ trong lúc tuổi già để tấn tu niệm Phật, cùng sớm hôm với mẫu từ tuổi quá 80. Nhưng không ! Gánh nặng còn mang, ân Phật pháp phải đền.

Thế rồi, một sáng tinh sương theo tiếng gọi của tinh thần trách nhiệm, Ni trưởng đã đến Từ Nghiêm để dấn thân vào công tác với chức năng Giám Viện Phật học Từ Nghiêm trong nhiệm kỳ hai năm, Ni trưởng luôn tỏa ra xứng đáng với trách nhiệm lợi mình lợi người.

Mùa xuân Đại thắng 1975, nước nhà thống nhất, Đảng và nhà nước đặt trọng tâm kiến tạo lại quê hương cho giàu đẹp ; Phật giáo Việt Nam cũng cần phải thống nhất thành một thể, theo nguyện vọng của Tăng Ni, Phật tử.

Năm 1981, Đại hội Đại biểu Phật giáo Việt Nam lần thứ nhất đã diễn ra tại Thủ đô Hà Nội, Ni trưởng đã tham dự tại Đại hội này và được Đại hội suy cử chức vụ Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tiếp theo năm 1982, là thành viên Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhiều lần không kháng cự nổi với huyễn thân tứ đại, Ni trưởng vào điều trị tại bệnh viện An Bình, Chợ Rẫy, tại những nơi này Ni trưởng thường động viên, tâm sự với các bệnh nhân nhằm xoa dịu cơn đau bệnh tật.

Mặc dù đã điều trị nhưng bệnh nhưng bệnh không thuyên giảm, Ni trưởng về lại chùa, sẵn sàng đón nhân sự phân ly khi vô thường đã đến, Ni trưởng vẫn cứng rắn với nội tâm, nụ cười luôn nở trên môi, vẫn thường giảng dạy đạo pháp cho đệ tử.

Để thanh nhàn trong đường bệnh, Ni trưởng trở về ngôi chùa Phước Huệ và đại chúng thân thương tỉnh Đồng Tháp, nơi đã chan hòa sức sống, tình nghĩa đệ huynh thuở xa xưa.

Hơn 80 năm với cuộc đời và 60 năm làm Phật sự, Ni trưởng đã dâng trọn niềm tin lên ngôi Tam Bảo

Với 8 tháng kể từ khi lâm trọng bệnh, âu cũng chỉ dòng sông đổ về biển, những khoảng khắc âu lo hồi hộp lướt nhẹ, những phút giây tím ngắt cõi lòng của người đệ tử, giờ đã trở thành sự thật.

Trong một buổi sáng mờ sương, chùa Phước Huệ đón nhận một tin dữ-Ni trưởng đã viên tịch lúc 8 giờ 40 ngày 28 tháng 9 năm Kỷ Tỵ ( ngày 27/10/1989), trụ thế 81 năm và 60 năm Hoằng đạo.

Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản 2011.

5/5 (6 bình chọn)
Chia sẻ
Ni truong nhu hoa 1909 1989

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)