Bảo Hựu Đại Vương – Quý Minh Đại Vương

Bảo Hựu Đại Vương – Quý Minh Đại Vương

Thông tin cơ bản

Thân thế

Thần Quý Minh, còn được tôn xưng là Quý Minh Đại Vương, là một vị thần quen thuộc trong kho tàng truyền thuyết dân gian Việt Nam. Theo quan niệm tín ngưỡng truyền thống, ngài cùng với Sơn Tinh và Thần Cao Sơn đều được xem là con cháu của Lạc Long Quân và Âu Cơ, tức thuộc dòng dõi các vua Hùng. Có truyền thuyết còn cho rằng ngài là em của các vua Hùng hoặc là vị tướng đã phò tá Hùng Vương đời thứ mười tám trong công cuộc dựng nước và giữ nước.

Tuy nhiên, nếu Sơn Tinh và Cao Sơn thường gắn với núi rừng và được thờ phụng ở những vùng cao, thì Thần Quý Minh lại mang đặc trưng của một vị thủy thần. Ngài được nhân dân tôn thờ nhiều ở những khu vực đồng bằng hoặc nơi sông nước. Đặc biệt, tại cố đô Hoa Lư, Thần Quý Minh được suy tôn là một trong bốn vị thần trấn giữ kinh thành, thuộc hệ thống Hoa Lư tứ trấn, giữ vai trò bảo hộ và che chở cho vùng đất linh thiêng này.

Tấm bia Tôn thần sự tích bi chí của đền Nam Lạng ở Trực Tuấn, Trực Ninh, Nam Định ghi:

Đại Vương húy là Tuấn, tên tự là Quý Minh, là em của thần núi Tản Viên. Vương cùng với Tản Viên Quân từ biển đi từ cửa khẩu Thần Phù mà về qua đất xã ta thì có dừng xe nghỉ. Tiếp đó lại đi đến bến Đông Hải Long Đỗ, rồi yêu thích nơi cao ráo đó nên nghỉ ngơi mà hiển thánh rạng rỡ. Đời sau rất linh dị nên phong là Thượng đẳng thần. Thiên hạ chúng sinh rất sùng kính phụng thờ. Đền chính ở tại hai giáp Đông Đoài, phường Đông Hà, huyện Thọ Xương. Triều trước mỗi năm vào mùa xuân đều sai quan đến tế lễ 

Tấm bia Thần chi đức thịnh dựng vào năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739), hiện còn tại miếu xã Linh Hựu, xã Bồng Lai, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, có chép về sự tích hai vị thần Linh Hựu và Quý Minh vào cuối thời Hùng Vương, dưới triều Duệ Vương. Theo nội dung văn bia, Quý Minh được ghi là người con thứ ba, hiệu là Hữu Kiên Thần.

Bia Thần tích bi ký hiện còn tại đình thôn Bến Thần, xã Trà Dương (xưa thuộc tổng Võng Phan, huyện Phủ Cừ, tỉnh Hưng Yên) có chép về sự tích Quý Minh Đại vương như sau: Ông được coi là con của bà Âu Cơ và là vị thần ngự tại núi Tản Viên. Vào đời vua Hùng thứ sáu, ngài giáng thế, cùng Phù Đổng Thiên Vương ra trận chống giặc Ân và giành thắng lợi. Đến thời Hùng Duệ Vương, tức đời Hùng thứ mười tám, ông lại một lần nữa hạ phàm. Trong lần này, ông học được phép thuật của thần tiên, đảm nhiệm việc trinh sát. Nhờ cứu sống con của Diêm La nên được nhà vua gả công chúa, trở thành phò mã. Sau khi hóa, ông trở về núi Tản Viên và thường hiển linh phù trợ. Đến thời Lê Thánh Tông, ông được cho là đã linh ứng giúp triều đình đánh giặc, nên được vua ban phong hiệu Quý Minh Đại vương. Tương truyền trước đó dân làng từng làm thất lạc thần tích; mãi đến năm tìm lại được mới cho khắc nội dung lên bia đá để lưu truyền về sau.

Sự đa dạng phức tạp về danh tính của Quý Minh Đại Vương

Trong hệ thống các vị thượng đẳng thần được thờ phụng rộng rãi ở miền Bắc nước ta, Quý Minh là một trong những vị thần có phạm vi thờ cúng rất lớn. Theo thống kê từ danh mục thần tích, thần sắc lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học xã hội, có tới 502 nơi thờ Quý Minh. Ở phần lớn các di tích này, truyền thuyết về ngài tương đối thống nhất: Quý Minh được coi là em họ của Tản Viên Sơn Thánh, từng cùng Tản Viên và Cao Sơn đánh giặc Thục, phò trợ vua Hùng Duệ Vương. Sau chiến công ấy, ông được phong là Hữu Kiên Thần của Sơn Thánh. Tuy nhiên, cũng giống như trường hợp danh hiệu Cao Sơn Đại Vương tồn tại với nhiều dị bản, tên gọi Quý Minh Đại Vương dường như không chỉ gắn với một nhân vật lịch sử duy nhất.

Tại một số địa phương như Bình Lục và Lý Nhân (Hà Nam), truyền thuyết lại kể rằng Quý Minh là con của Lạc Long Quân và Âu Cơ, tương tự cách lý giải về Cao Sơn. Điều này tạo ra sự chồng lấn về niên đại, bởi có nơi xem ngài thuộc buổi đầu thời Hùng Vương, có nơi lại đặt vào cuối thời Hùng Duệ Vương. Vì vậy, có thể hiểu rằng dưới danh xưng Quý Minh Đại Vương tồn tại ít nhất hai lớp nhân vật khác nhau: một thuộc giai đoạn đầu thời đại Hùng Vương và một thuộc giai đoạn cuối.

Phức tạp hơn nữa, bên cạnh hình ảnh Quý Minh gắn với dòng Sơn thần theo hệ thống Tản Viên, nhiều nơi lại thờ ông như một vị Thủy thần. Trong trường hợp này, ngài thường được tôn phong với danh hiệu Đông Hải Đại Vương, thể hiện rõ yếu tố gắn bó với sông nước.

Sách Kinh Triều Bảo Lục: Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc thị đã đưa ra khá nhiều dẫn chứng cho thấy Quý Minh Đại Vương nghiêng về phía là một vị thủy thần:

Đền thờ Quý Minh Đại vương ở Hà Nội trước đây là đình Đông Hà ở số 46 Hàng Gai. Đây là ngôi đền tham gia vào lễ tế xuân ngưu hằng năm dưới thời nhà Lê (theo Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ) 

Chi tiết đáng chú ý trong sự tích đền Nam Lạng là việc thần Quý Minh đi từ cửa biển Thần Phù lên bến Đông Hải ở Long Đỗ, rồi biến hóa tại đó. Chi tiết này cho thấy rất rõ Quý Minh là một vị Thủy thần sông biển, đồng thời cũng giải thích tên gọi Đông Hải Quý Minh và chỉ ra mối liên hệ giữa Quý Minh và vùng Long Đỗ (tức là vùng hồ Tây ngày nay). Di tích thờ Quý Minh ở vùng ven Hồ Tây là đình Đông Xã nay năm trên đường Thụy Khuê ở Hà Nội.

Vị Hữu kiên thần Quý Minh còn có tên là Lãng Nhạc. Chữ Lãng nghĩa là sóng nước, đối lập với tên Nộn Nhạc (Nộn hay non, chỉ núi) của Tả kiên thần Cao Sơn. Như thế trong cặp Cao Sơn – Quý Minh thì Cao Sơn là Sơn thần, còn Quý Minh là Thủy thần.

Câu đối khác ở đền Nam Lạng:

Kiên thần hiệp lực bình Thục kiến hồng huân, tổ tự Hùng triều sổ thiên tải hất kim, Nhạc phủ uy thanh do hách hách.

Tây quận hồi sư đằng vân phi hạc giá, ngật nhiên Thiên Nam đệ nhất phong chi hữu, Lãng sơn linh tích tự  y y.

Dịch là:

Kiên thần chung sức dẹp Thục dựng cơ đồ, chính từ triều Hùng mấy ngàn năm đến nay, tiếng uy Nhạc phủ còn vang dội.

Quận Tây rút quân đi mây cưỡi xe hạc, tự nhiên trời Nam một ngọn đầu bên phải, tích thiêng núi Lãng vẫn như nguyên.

Trong sách Tản Lĩnh ngọc ký có chép rằng Tản Viên Sơn Thánh hai lần thống lĩnh tướng sĩ của vua Hùng chống lại quân Thục. Ở lần thứ nhất, Sơn Thánh chặn đánh địch tại vùng Mộc Châu. Khi giao chiến ác liệt, có một thiên tướng nghe tiếng ốc tù và liền giáng xuống trợ giúp, nhờ đó quân Thục bị đánh tan.

Đến lần thứ hai, quân Thục mở cuộc tấn công quy mô lớn, chia làm năm đạo tiến quân cả đường bộ lẫn đường thủy. Sơn Thánh phân các tướng ra trấn giữ từng hướng. Trong đó, Quý Minh Đại vương thường đảm nhận việc chống đạo quân thủy tiến vào từ cửa Hội Thống thuộc Hoan Châu. Sau cuộc kháng chiến này, theo lời khuyên của Sơn Thánh, vua Hùng đã nhường ngôi cho Thục Vương, khép lại mười tám đời Hùng Vương.

Đối chiếu các truyền tích về Quý Minh Đại vương với bối cảnh lịch sử thời Hùng Vương (còn gọi là thời Lạc Vương), có thể thấy hình tượng Quý Minh dường như thuộc về hai giai đoạn khác nhau. Ở buổi đầu thời Hùng, bộ ba Tản Viên Sơn Thánh tượng trưng cho ba nhóm cộng đồng lớn. Dòng Tản Viên, đứng đầu là Kinh Dương Vương, được xem là giữ vai trò chủ quản thiên hạ sau khi tiếp nhận ngôi vị theo lối truyền hiền. Tả kiên thần Nộn Nhạc Cao Sơn đại diện cho cư dân miền núi, được coi là Sơn thần. Còn Hữu kiên thần Lãng Nhạc Quý Minh đại diện cho cộng đồng cư dân vùng sông nước ven biển, vì thế được tôn là Thủy thần.

Quý Minh là thủy thần?

Ở buổi đầu, sau khi Kinh Dương Vương (Tản Viên Sơn) qua đời, đã nảy sinh sự tranh chấp quyền lực giữa người con là Lạc Long Quân với dòng vua Hùng thuộc nhánh Đế Nghi nhằm xác lập quyền làm chủ thiên hạ. Nhờ có sự hậu thuẫn từ phía họ ngoại là tộc người vùng sông biển, tiêu biểu là Long Nữ Động Đình, Lạc Long Quân đã đánh bại Đế Lai và lên ngôi Vua cha, thống lĩnh toàn cõi. Truyền thuyết xem đây là cuộc xung đột Hùng – Thục lần thứ nhất, kết thúc với phần thắng thuộc về dòng Hùng Vương do Lạc Long Quân đứng đầu.

Trong cuộc chiến ấy, Quý Minh với vai trò đại diện cho cộng đồng cư dân sông nước đã theo phe Long Quân chống lại lực lượng Thục. Ông góp phần đẩy lùi nhóm cư dân miền núi do Đế Lai – Âu Cơ đại diện, khiến họ phải rời đi về phía Tây. Thần tích Việt Nam gọi nhóm Thục này bằng nhiều tên khác nhau như Hồ (Hồ Tôn, Tây Hồ), Di (Tử Di), thậm chí có khi gọi là Chiêm, bởi nguồn gốc ban đầu của họ được cho là ở vùng Tây Nam nước ta. Truyền thuyết còn kể rằng Hữu Kiên thần Quý Minh đã chỉ huy thủy quân giao chiến với giặc Chiêm, giặc Hồ tại cửa Hội Thống.

Cần lưu ý rằng Quý Minh trong giai đoạn này không được xem là một trong những người anh em cùng bọc sinh ra với Lạc Long Quân. Theo hệ thống truyền thuyết, Quý Minh thuộc hàng bậc cha chú, ở vị thế ngang với Kinh Dương Vương (Tản Viên Sơn Thánh). Những vị cùng sinh với Lạc Long Quân như Ngũ vị tôn quan hay Lục bộ Thủy phủ về sau trở thành các quan trấn giữ những khu vực khác nhau trong Thủy phủ. Trong khi đó, Quý Minh Đại vương lại mang ý nghĩa là đại diện chung cho dòng Thủy phủ Động Đình, chứ không trực tiếp đi cai quản từng nơi như các vị tôn quan thuộc Thoải phủ.

Trong hệ biểu tượng, Cao Sơn và Quý Minh được nhìn nhận như một cặp lưỡng nghi Âm – Dương, tượng trưng cho hai phương diện “lên rừng – xuống biển”, hoặc hợp thành bộ Tam Tài trong hệ Tam vị Tản Viên. Đây được coi là lớp cấu trúc tín ngưỡng sớm, trước khi phát triển thành những mô hình phân chia chặt chẽ hơn như Tứ tượng hay Ngũ hành, vốn thể hiện rõ trong hệ Ngũ vị tôn quan.

Những nơi thờ Quý Minh với tư cách Thủy thần – tức hình tượng thuộc thời kỳ đầu Hùng Vương chủ yếu tập trung ở các vùng sông nước như Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương. Tiêu biểu, ông được tôn là một trong Hoa Lư tứ trấn và thờ tại đền Trần thuộc quần thể danh thắng Tràng An. Tên gọi “Trần” ở đây không phải chỉ họ Trần, mà mang nghĩa phương Đông (chiết tự là Đông A), tương ứng với danh hiệu Đông Hải Đại vương của Thủy thần Quý Minh.

Quý Minh là sơn thần?

Đến giai đoạn cuối thời Hùng Vương, cuộc xung đột Hùng – Thục lần thứ hai diễn ra khi dòng người theo Đế Lai – Âu Cơ, vốn trước đó đã rút lên vùng núi, quay trở lại tranh giành đất Lạc. Thời điểm này, người đứng đầu vùng đất Lạc được truyền thuyết gắn với danh xưng Bắc Bá hầu Sùng Hầu Hổ, một trong Tứ bá hầu của nhà Ân Thương. Sùng Hầu Hổ cùng các anh em đã chống lại cuộc tiến công của Thục Vương Cơ Xương (được đồng nhất với Âu Cơ trong cách lý giải này), nhưng cuối cùng thất bại. Vị vua Hùng cuối cùng, thường được liên hệ với Ân Trụ Vương, buộc phải “nhường ngôi”, trao lại đất Lạc cho dòng Âu ở miền núi. Sau đó, Thục Vương trở về Phong Châu và lập nên nước Âu Lạc.

Theo một số cách lý giải trong sử liệu và truyền thuyết, Sùng Hầu Hổ được sử Việt gọi là Sùng Lãm, đồng thời cũng được đồng nhất với Sùng Công Cao Sơn, bởi chữ “Cao” vốn có nghĩa là “Sùng”. Nếu hiểu theo mạch này thì người anh em họ Sùng đi cùng Cao Sơn chính là Quý Minh. Tuy nhiên, Quý Minh ở giai đoạn sau này không còn mang đậm tính chất Thủy thần như ở thời kỳ đầu, mà được nhìn nhận như một vị Sơn thần, song hành cùng Cao Sơn.

Các di tích thờ Cao Sơn – Quý Minh với tư cách sơn thần hiện tập trung chủ yếu ở vùng trung du và bán sơn địa như Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Yên Bái, Lạng Sơn, cùng một phần Hưng Yên và Quảng Ninh. Sự phân bố này cũng cho thấy rõ tính chất miền núi của hệ thống thờ tự nói trên.

Một minh chứng tiêu biểu là việc thờ Quý Minh tại đền Phú Mẫn trên núi Hàm Sơn, thuộc thị trấn Chờ (Yên Phong, Bắc Ninh). Tại đây còn có mộ Quý Minh Đại vương, tương truyền là nơi ngài hy sinh khi đi đánh giặc trở về. Gần thị trấn Chờ là núi Thất Diệu, nơi có đền Bạch Kê và gắn với truyền thuyết về những “quỷ núi” từng hiện hình cản trở An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Trong truyện Rùa Vàng của tập Lĩnh Nam chích quái có đoạn kể: “Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước, muốn báo thù cho nước. Lại có con gà trắng sống lâu ngàn năm, hóa thành yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu. Trong núi có ma, đó là hồn người nhạc công triều trước chôn ở đây.”

Chi tiết “tinh khí ở núi là con vua đời trước” cùng hình ảnh “nhạc công triều trước” cho thấy sự liên hệ với lớp nhân vật thuộc thời đại trước, tương ứng với hình tượng Cao Sơn và Quý Minh được thờ tại khu vực đền Chờ gần đó. Điều này càng củng cố nhận định rằng Quý Minh ở giai đoạn sau mang sắc thái của một vị Sơn thần hơn là Thủy thần như trong lớp truyền thuyết sớm.

Kết luận 

Việc phân biệt đâu là Quý Minh mang tính chất Thủy thần từ thời Kinh Dương Vương, đâu là Quý Minh với tư cách Sơn thần vào cuối đời Hùng Duệ Vương, trên thực tế không phải lúc nào cũng rạch ròi trong các di tích và truyền thuyết dân gian. Nhiều nơi thờ tự đã hòa trộn các lớp tín ngưỡng khác nhau, khiến hình tượng vị thần này càng trở nên phức hợp.

Quý Minh thuộc bộ ba Tản Viên vốn được xem là lớp cổ thần từ buổi đầu dựng nước, vì vậy phạm vi thờ tự rất rộng. Ông có thể được tôn là Sơn thần, Thủy thần, hoặc rộng hơn là Nhiên thần – vị thần gắn với các yếu tố tự nhiên. Trong khi đó, Quý Minh ở giai đoạn cuối thời Hùng Vương lại có phạm vi thờ hẹp hơn, chủ yếu tập trung ở những nơi gắn với cuộc giao tranh giữa nhà Chu (Âu Thục) và nhà Ân (Hùng Lạc), và thường được nhìn nhận dưới dạng Nhân thần – một nhân vật lịch sử được thần thánh hóa.

Nhận định Quý Minh là Thủy thần trong Tam vị Tản Viên, từng đi từ Thần Phù ra Long Đỗ (Long Biên), còn giúp giải thích mối liên hệ với một số vị thần quan trọng ở Bắc Trung Bộ. Tại đền Nhân Phẩm (xã Yên Lâm, Yên Mô, Ninh Bình) – nơi thờ Thần Phù Hải Khẩu – vị thần được tôn là Áp Lãng Chân Nhân, tức Triệu Việt Vương. Truyền tích vùng ven biển Ninh Bình – Nam Định kể rằng Quý Minh đã báo mộng và trao móng rồng cho Triệu Việt Vương trong chuyện đầm Dạ Trạch. Ở đền Nhân Phẩm, vị thần này được tôn xưng là Cao Các Quý Minh Đại vương. Điều đó cho thấy thần Cao Các – được thờ phổ biến ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và cả miền trong – thực chất chính là Quý Minh, đại diện cho nhóm cư dân sông nước trong bộ ba Tản Viên.

Tại vùng Nghệ Tĩnh, thần Cao Sơn – Cao Các thường được kể có tên húy là Hiển, từng được cử sang làm quan dưới thời Minh hoặc Tống và có công dẹp giặc Hồ. Thực ra, đây có thể chỉ là một dị bản khác về Quý Minh Đại vương – vị tướng miền Bắc từng cầm quân đánh giặc Thục, tức giặc Hồ Di ở phương Nam. Chữ “Minh” mang nghĩa sáng, tỏ, tương thông với chữ “Hiển”, vì thế Quý Minh còn được gọi là Hiển công trong một số truyền tích.

Như vậy, thần Cao Sơn – Cao Các ở Thanh Nghệ có thể đối chiếu với hai vị Cao Sơn – Quý Minh trong tục thờ miền Bắc. Cặp đôi này tượng trưng cho “lên rừng – xuống biển”, đại diện cho các cộng đồng cư dân sinh sống trên đất nước thời khai mở. Chính vì ý nghĩa nguồn cội đó mà các vị được tôn là Thượng đẳng thần và được thờ phụng rộng rãi. Ở huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh), nhiều di tích lớn đều thờ thần Cao Các như miếu Ngu Thạch Trị hay đình Thạch Lạc; hiện vẫn còn sắc phong dành cho thần Cao Các lưu giữ tại đình Thạch Lạc.

Tín ngưỡng miền Trung còn tồn tại bộ ba Cao Sơn – Cao Các – Mạc Sơn, như tại miếu Ngu Thạch Trị thờ thần Cao Các Mạc Sơn. Bộ ba này tương ứng với ba vị trong hệ Tản Viên: Cao Sơn, Quý Minh và Tản Viên. Mạc Sơn (hay Mạch Sơn, Lạc Sơn) được hiểu là chỉ Lộc Tục – tức Kinh Dương Vương. Chữ “Sơn” trong tên Mạc Sơn mang ý nghĩa tôn xưng vị Thánh tổ, tương tự cách gọi ba vua Hùng ở đền Hùng. Thần Mạch Sơn Trấn quốc thờ tại đền Hội (xã Nghi Trung, Nghi Lộc, Nghệ An) được coi là vị thần của cửa Hội Thống – nơi Kinh Dương Vương gặp Thần Long Động Đình theo Ngọc phả Hùng Vương Thánh Tổ.

Vào thời lập quốc họ Hồng Bàng, ba nhóm tộc người lớn đã hợp nhất, tôn Tản Viên Sơn Thánh là Kinh Dương Vương, đồng thời suy tôn hai đại diện của vùng núi và vùng sông nước là Cao Sơn và Quý Minh Đại vương. Dù mang tên Cao Sơn – Quý Minh hay Cao Sơn – Cao Các, các vị thần này vẫn là biểu tượng thiêng liêng của nguồn cội người Việt, được phụng thờ lâu dài trên đất Lạc ở miền Bắc và đất Hồng ở miền Trung.

Thờ phụng 

Quý Minh Đại vương được tôn xưng là Thượng đẳng thần, có công giúp Hùng Duệ Vương đánh giặc Thục, thường được thờ tại các đình đền, miếu đặc biệt gắn liền với các vùng núi, sông nước. Lễ hội chính thường tổ chức vào tháng 10 âm lịch, ví dụ tại đền Trần Tràng An (14-15/10 âm lịch).

Các di tích thờ Quý Minh Đại vương tiêu biểu:

         Tại Ninh Bình (Trọng điểm)

  • Đền Trần (Đền Nội Lâm): Nằm trong khu du lịch Tràng An, nơi thờ chính vị thần trấn phía Nam Hoa Lư tứ trấn.
  • Đền Quý Minh Đại vương (Hang Đền): Xã Ninh Nhất, TP. Ninh Bình, nơi còn gọi là đền Thánh Quý, có hang kho quân lương.
  • Đền Suối Tiên: Trong khu danh thắng Tràng An.
  • Đền Cao Sơn (khu núi chùa Bái Đính): Phối thờ cùng Cao Sơn Đại Vương.
  • Đền Gối Đại: Thuộc Khu du lịch sinh thái Thung Nham.
  • Đình làng Sinh Dược (Gia Sinh, Gia Viễn)đền thờ ở núi Cánh Diềuđền Kê Thượng (Ninh Vân).

    Tại Bắc Giang (Huyện Việt Yên):

  • Đình Văn Xá: Thờ Đức thánh Cao Sơn – Quý Minh.
  • Đình làng Hà Hạ: Thờ 3 vị, trong đó có Cao Sơn – Quý Minh đại vương.
  • Đình làng Vàng: Thờ Đức thánh Cao Sơn – Quý Minh.
  • Đình làng Núi: Thờ Cao Sơn – Quý Minh.

    Các địa phương khác:

  • Đình làng Thủy Trú: (Nơi có truyền thuyết thờ Quý Minh Đại Vương).

Thần tích

Xưa, xét lẽ trời Nam đổi vận, vua Hùng xuất thế, 18 đời kế tiếp, trị vì hơn hai ngàn năm đều xưng là Hùng Vương. Đó là vị vua tổ của trời Nam. Xa thư một mối, hương hỏa trường lưu, dòng dõi hoàng gia, ức vạn năm có lẻ. Vị thánh trời Nam, đời đời kế nổi, cùng với đất trời không bao giờ mất. Về sau, tiên sinh họ Trần có bài thơ ca ngợi rằng:

Hùng đồ triệu tạo,
Để nghiệp trường miên,
Du du dịch diệp,
Lịch lịch kỳ thiên niên.
Thời hữu Tản Viên thánh,
Tương truyền Tả Hữu kiên
Đồng triểu tam thánh vị,
Thiên tải thể lưu truyền.

(Vua Hùng Vương dựng nước,
Nghiệp để mãi dài lâu,
Dằng dặc đời nối nhau,
Trải qua ngàn năm tháng.
Có Tản Viên Sơn thánh
Cùng Tả, Hữu kiên thần.
Đồng triều ba vị thánh,
Ngàn năm mãi lưu danh).

Lại nói, đời Kinh Dương Vương thứ 18 truyền đến đời vua Duệ Vương nối ngôi đều đóng đô ở sông Bạch Hạc, Việt Trì, dựng nước lấy hiệu là Văn Lang, quốc đô là thành Phong Châu. Duệ Vương thiên tư thông triết, tài nghệ anh hùng, kế thừa tổ tông, bồi đắp cơ nghiệp 17 đời vũng mạnh. Bên trong chỉnh trang võ bị, bên ngoài lo giữ biên thùy, dốc lòng trấn hưng thái bình, làm yên lòng dân trong nước. Đời đời được khen là bậc vua hiền.

Lại nói, vào đời vua Hùng, tương truyền ở quận Hải Dương có một gia đình có hai anh em. Người anh tên là Nguyễn Cao Hành, người em là Nguyễn Cao Ban. Gia đình họ rất mực trung hậu. Từ cụ tổ chín đời thường làm việc nhân, dòng họ hiếu thuận, nghĩa khí hơn người, đều là bậc phong lưu quý hiến.

Đến đời hai ông của ít người thưa, trong nhà nghèo túng, chẳng có đất cày cấy. Bấy giờ hai anh em lưu lạc nơi sông hồ, sống bằng nghề buôn bán gỗ rừng. Khi tới đạo Sơn Tây, hai ông trước ghé vào châu Đà Bắc, sau đến động Lãng Sương (động Lăng Sương ở huyện Thanh Châu), (tức động Lăng Sương-NC), ở được một hai năm, hai anh em ai cũng trở nên giầu có, xây dựng gia đình ở đất này. Người anh lấy con gái nhà họ Đính (tức bà Đinh Thị Điên-NC). Người em lấy con gái nhà họ Trương [tức Trương Thị Hoan]. Từ đó hai ông đều có gia đình, giầu có hơn người. Hai ông nhập quán ở quê ngoại, được dân làng bầu vào chức sắc trong làng. Hai ông con dốc chí làm điều nhân, một lòng tích việc thiện. Hai ông ở đất này được hơn 30 năm, tuổi đã ngoài sáu mươi mà vẫn chưa thấy “giấc mộng ngôa chương, điềm lành xa ki” (tức chưa có con cái-ND1), nhưng hai ông vẫn không tỏ ra lo lắng với việc chưa có cháu con quây quần bên cạnh.

Một hôm hai ông ngồi chơi, cùng nhau uống rượu, ông Cao Ban bảo với ông Cao Hành rằng:

Nhà ta đời đời hết lòng làm việc thiện, nhưng sao hai anh em chúng ta chưa ai thừa hưởng một chút niềm vui. Chẳng lẽ chúng ta không nghĩ đến việc thờ cúng tổ tiên sao.

Ngày hôm đó hai ông dựng đàn trai giới ở trước sân, cáo tế trời đất cùng gia tiên. Ba ngày việc xong. Sau đó, một hôm, tiết xuân gió mát, ông Ban đi săn ở núi Thu Tinh (núi ở huyện Bất Bạt-NC). Vừa tới chân núi, ông bỗng thấy một cụ già, tay chống gậy trúc, mũ áo chỉnh tề, râu tóc bạc phơ, thong thả từ trên núi đi xuống. Ông bèn đứng sang bên đường chân núi đón và hỏi rằng:

– Thưa cụ, cụ ở nơi nào mà tìm tới đây? Nơi núi cao rừng thẳm may gặp cụ ở đây dám hỏi cụ hay dỡ thế nào, mong cụ lượng thứ.

Ông già nghe hỏi cười bảo:

– Ta vốn là khách của vùng núi này, là người làm nghề phong thủy, không ở cố định nơi nào. Hoặc ngao du ngắm hoa nơi đồng có, thôn mây khói nước. Hoặc vui thú nơi chân trời góc bể, nước biếc non xanh, tung hoành trời đất, nơi nào chẳng là nhà.

Ông Ban nghe ông già nói vậy khom lưng cúi đầu làm lễ thưa rằng:

– Nhà con phúc hậu may gặp mình sư, xin lấy tấm lòng thành này đáp lại. Anh em chúng con tuổi đã cao mà chưa có con kế nối, không biết mạch đất thế nào mà đường con cái muộn màng làm vậy. Hôm nay gặp tôn sư, chẳng phải là trời xui khiến sao? Trời đã làm ra như vậy sau này ắt thị phúc nhà thêm đẹp, đức độ hưng thịnh, mong tôn sư giúp đỡ cho thế đất đẹp.

Cụ già cười nói:

– Các thày bây giờ người trần, mắt thịt khó biết. Mạch đất tốt ngay trước mắt không xa, cần gì phải đi tìm ở đâu. Ta sẽ xem cho mạch đất tốt.

Nói xong ông già dắt Ban công lên đỉnh núi Thu Tỉnh, lấy gậy trúc chỉ về bên trái đỉnh núi có miệng hình ốc sên. Ông già quay lại bảo Ban công rằng:

Huyệt ở miệng núi kia. Trời đã tạo thành như vậy tất sơn thánh giáng trần, hóa sinh bất diệt. Ông nên cẩn thận, cẩn thận, chớ để lộ, chớ để lộ.

Ông già nói xong bèn đứng về hường chính Quý Đình ngâm rằng:

Hoàng thiên phúc hậu đãi gia quân,
Hữu phúc giai thành tuấn tú nhân,
Thánh tử hiền tôn giai bất diệt,
Sinh vi phụ quốc hóa vì thần.

(Trời cao phúc hậu đãi nhà ngươi,
Có phúc đều thành bậc sáng ngời.
Con thánh cháu hiền truyền mãi mãi, 
Sống thì giúp nước mắt thành thần).

Ngâm xong bỗng có một trận gió nổi lên, trời đất tối sầm, trong khoảnh khắc ông già biến mất. Ban công lấy làm lạ, thầm nghĩ quả thần tiên giáng giúp chăng. Nếu làm tất trời sẽ ban phúc bên quay trở về nhà, kể hết mọi việc cho anh là Nguyễn Hành.

Nguyễn Hành thấy em nói vậy vui mừng khôn xiết. Ngay ngày hôm đó anh em dời mộ gia tiên lên núi có hình ốc sên [tức núi Thu Tỉnh]. Hai anh em định đặt mộ ở đó nhưng phân vân chưa biết [43] đào huyệt ở chỗ nào, bỗng thấy trời đất tối đen, ở miệng hang có tiếng ầm ầm như sấm dậy. Được một lát mối đùn lên thành mộ. Anh em bên làm lễ vái trời đất, thần núi rồi trở về.

Bấy giờ người anh là Cao Hành dã 70 tuổi, Thái bà Đinh Thị Điên tuổi cũng ngoài 50. Người em là Nguyễn Cao Ban 68 tuổi, Thái bà Trương Thị Hoan 50 tuổi. Một hôm, bà vợ của người em nằm mộng thấy mình cưỡi rồng vàng bay lên trời nuốt hai ngôi sao vào bụng rồi quay trở về. Bà chợt tỉnh giấc, từ đó ý hoài tâm động liền có thai. Được 14 tháng, đến ngày 16 năm Giáp Thìn, hôm đó trời đất tối đen, mây ngũ sắc cuồn cuộn từ trên trời bay thẳng xuống đỉnh Lãng Sơn, lại chia ra một đám mây khác bay thẳng đến nhà ông Ban. Gió nhè nhẹ rước Thái bà lên đỉnh núi Lãng Sơn, bỗng thấy hàng trăm loài thú dến chầu hai bên tả hữu. [46] Lúc đó Thái bà sinh ra một bọng, nở ra hai cậu con trai đều là bậc thần phong lẫm liệt, tướng mạo đường hoàng, hình dáng kỳ dị, tay dài quá gối, cha mẹ đều quý như ngọc ngà. Trọn một trăm ngày, cha mẹ đặt lên là Hiển công, Sùng công.

Lại nói, người anh Nguyễn Cao Hành và Thái bà Đinh Thị thấy điềm rồng vàng lấy nước, được khí mây ngũ sắc mà có thai 14 tháng. Đến ngày rằm năm Đinh Tỵ sinh ra Thánh núi Tản Viên2.

Lại nói Ban công sinh được hai con vừa tròn một năm Thái bà tự nhiên mất (tức ngày 12 tháng 3-NC). Ban công lại đem hai con sang nhờ vợ chồng anh nuôi nấng, chăm sóc. Từ đó Cao Hành nuôi dưỡng hai ông. Khi Thánh núi Tản Viên lên ba tuổi lại đặt tên là Nguyễn Tùng. Hai ông cũng được đặt lại tên là Nguyễn Hiền và Nguyễn Quý. [5a] Đến lúc trưởng thành3, tuy nói rằng con chú bác nhưng được nuôi dưỡng như con một nhà. Có lẽ do trời đất xui nên thế bởi cả ba ông đều chứa chất linh khí của núi sông4, bàn tỉnh thông minh trời phú, văn võ toàn tài, có phép thuật cao hơn thiên hạ. Họ đều là bậc siêu quần bạt thế, trí tuệ hơn người5. Tuy nói là bậc thánh khác người nhưng vẫn chịu nhiều đau khổ. Năm đó, thân phụ hai nhà đều qua đời (tức ngày 15 tháng 12-NC), bà Đinh Thái bà làm lễ mai táng chu đáo.

Trải qua 5 năm, bà Đinh Thái bà lại đem 3 người con đến núi Thứu Lĩnh Ngọc Tản Lĩnh sơn (tại xứ Mường Bôi-NC) sống ở đó. Bà có kết thân với cụ bà ở núi đó tên là Ma Thị Cao. Được 3 năm Đinh Thái bà lại đem ba con trở về động Lăng Sương. Bấy giờ gia đình nghèo túng, mẹ con đơn chiếc, không có nơi nương tựa. Một hôm Ma bà thần nữ tới chơi với Đinh Thái bà, thấy vậy bảo bà rằng:

– Tôi với bà vốn có tình thân đã lâu, nay thấy các con bà (tức là 3 ông-NC) đều mặt mũi khôi ngô, ắt sẽ hiền danh về sau. Và lại bấy giờ gia đình nghèo khổ, cái ăn thường ngày còn khó khăn, mẹ con đơn côi, thật khó lấy gì chăm sóc. Tôi với Thái bà vốn chơi với nhau đã lâu, thấy mẹ con bà đơn côi nghèo khổ tôi rất đau lòng6. Tôi có người em trai tên là Ma Lôi, vốn sống ở động núi này, giầu có hơn người nhưng lại không có con. Tuổi tác đã cao, khó có hy vọng. Chẳng bằng nếu được Thái bà cho phép gửi mấy người con sang cho em trai Ma Lôi nuôi nấng, chăm sóc, cũng gọi là cách giúp lúc cơ hàn, há chẳng tốt hay sao?

Thái bà nghe vậy khóc nức nở nhận lời, bèn gọi hai cháu tới bảo rằng:

– Ta nuôi hai con từ thuở còn thơ, ơn bú mớm sâu nặng. Nay các con đã trưởng thành7“, nhưng nay gặp cảnh bần hàn, chẳng có kế gì nuôi thân. Nay được Ma bà thương xót mách cho kế thật hay. Ta gửi hai con cho tới nhà Ma Lôi là em trai của Ma bà gửi làm con nuôi.

Cữu công vâng mệnh nhận hai ông (Nguyễn Hiền và Nguyễn Quý) và đưa hai ông đến nhà Ma công để làm con nuôi. Từ đó, Tùng công chia tay với hai em là Hiền công và Quý công, trong lòng không nguôi thương nhớ.

Lại nói, Ma công vốn là tù trưởng động Lãng Sơn, gia đình giầu có, vợ chồng dốc lòng làm việc thiện. Một hôm, gió mát, dễ chịu, Lôi công nằm nghỉ nhà ngoài, mơ màng thấy hai con nghê từ trên trời đi xuống, xông thẳng vào trong trướng. Lôi công liền bắt được. Mơ tới đây ông bỗng tỉnh dậy thấy Cữu công đem hai cháu đến làm con nuôi. Ma công thấy hai ông mặt mũi khôi ngô, kỳ dị, ngầm nghĩ đến điềm báo trong mộng quả hai cậu bé này không phải tầm thường mà có mộng đó. Lôi công thấy điềm lành trong mộng mà được hai ông làm con nuôi, trong lòng phấn khởi, vui như bắt được châu ngọc, yêu quý hai ông như con dứt ruột đẻ ra. Từ đó hai ông được sống no ấm.

Kịp đến sau này người anh của hai anh em là Tùng công cũng được Ma bà nhận làm con nuôi. Tùng công đến kiếm củi ở Tản Lĩnh Linh sơn làm kế nuôi mẹ. Ôi, anh em mỗi người một phương, không ngờ lại có ngày tái hợp. Làm dòng dõi Ma bà đó chẳng phải là ý trời sao8”. Đến khi Đinh Thái bà mất (tức ngày mồng 10 tháng Giêng-NC) ba anh em ông đã trưởng thành, tuổi ngoài hai mươi bèn làm lễ chôn cất ở núi Tản Viên thuộc đất của Ma bà. Từ đó Tùng công ở với mẹ nuôi Ma bà, ngày ngày hái củi ở núi Tản Viên, may được sơn thần ban cho cây gậy để cứu giúp nhân dân. Sự sống chết đều ở đầu cây gậy hiệu nghiệm đó.

Tùng công từ khi được chiếc gậy thiêng, ban đức khắp thiên hạ, tên tuổi lừng khắp bốn phương, nhân dân đều gọi là Thần sư giáng thế. Lại nói Thái tử ở Long cung biến thành rắn đen lên chơi ở trần gian, khi qua Trường Châu bị trẻ mục đồng làm hại rồi đem ra đùa nghịch. Khi đó vừa hay Thần sư [7a] đi qua nhìn thấy rắn thần bị hại. Ông thấy trên đầu rắn có chữ Vương bèn mua của trẻ với giá 36 văn [mất mấy chữ-ND] rồi lấy phía đầu sống của gậy thiêng chỉ vào, rắn sống lại trườn xuống sông. Trong chốc lát thấy chiếc thuyền rồng nổi trên mặt nước, đi vào Lăng Sương [mất 3 chữ-ND] rước Thần sư đi du ngoạn nước thủy quốc. Long cung thủy thần mở tiệc tạ ơn, lại cho mượn một cuốn sách ước mang về trần gian. Từ đó được muôn vật, lầu vàng gác phượng, ngọc điện lung linh, cửa son xán lạn. Từ đó gọi gió hô mây, xuất thánh nhập thần, giữ núi thiêng non Tản, tên tuổi vang xa khắp nơi, trấn trị cả một vùng rộng lớn.

Lại nói, hai ông được Ma công nuôi nấng trưởng thành, vốn thiên tải xuất chúng, siêu phàm nhập thánh, hồ phục rồng theo, thiên tỉnh thông minh, tư chất thông tuệ, hùng tải đại lược, uy trấn tám man9”. Đến khi vợ chồng Ma công qua đời, hai ông làm lễ chôn cất cẩn thận. Từ đó đất Lãng Sơn do hai ông cai quản10.

Lại nói Tùng công từ khi mẹ nuôi Ma bà mất đi, tất cả mọi người đều nói sông ngòi, ruộng đất, suối khe đều giao cho Tùng công11 (mất 8 chữ-NC). Tất cả đều giao cho (mất 7 chữ-ND). Lúc đó Tùng công gọi hai em là Hiển công và Quý công về lập làm tả hữu kiên thần phụ tả, làm chúa thống lãnh. Một, giao dài cung bên trái Lãng Sơn cho người em thứ hai là Hiến công làm chúa thống lãnh; Một, giao dải đất bên phải núi Nọn cho người em thứ ba là Quý công làm chúa thống lãnh, đều được ăn lộc, đều được xung làm tả hữu kiên thần và là hai em của Tản Viên Sơn thánh12.

Lại nói, bấy giờ cuối đời Hùng Vương, vận nước đã hết. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử đều đã về nơi tiên giới, 6 công chúa chỉ còn có hai. Họ đều là những người hiền hòa, đức hạnh là nữ lưu bậc nhất trong các nữ của vua Nghiêu Thuấn. Người thứ nhất là Tiên Dung công chúa gả cho Chử Đồng Tử ở xứ Sơn Nam Thượng (Xã Đa Hòa, huyện Đông Yên-NC). [8a] Cô con gái thứ hai là Ngọc Hoa công chúa bản tính thanh kỳ, phong tư tuấn nhã13. Đức vua ngầm tìm những bậc anh kiệt, nhưng chưa tìm được ngày đẹp bèn dựng hai lầu ở núi Việt Trì, trước cửa treo biển14 và để công chúa thứ hai ở đó. Lại ban hịch đi khắp nơi. Ai là văn nhân tài từ về hội ở kinh thành cùng nhau đua tài, người tài giỏi được gả cho công chúa.

Nghe tin, các bậc hào kiệt bốn phương ai cũng hoan hỷ về hội tụ ở kinh đô dự thi. Bấy giờ các bậc thông kinh vạn quyền, đều đã qua cửa học Khổng Mạnh, tứ khóa tam trường, tài thao lược chỉ nhường bậc Tôn Ngô; các bậc hiền tài trong thiên hạ đều đã ở trường thi, người được mặt này lại mất mặt kia, lần lượt theo nhau ra đi. Duy chỉ có Tản Viên Sơn Tinh và Động Đình Thủy Tinh, hai bậc vừa là thầy, vừa là bạn, là những người có phép thông trời thấu đất, chưa kịp đến so tài với mọi người. Lúc bấy giờ Tản Viên Sơn thánh và hai anh em là Hiền công và Quý công cùng Động Đình Thủy Tinh ra kinh thành dự thi. Sơn thánh và Thủy Tỉnh làm khải tấu lên vua. Thưa rằng:

Bọn thần tài mọn lạm sống ở nơi đất vua, trộm nghe Thánh thượng mở cuộc thi kén rể, chúng thần đến muộn, cầu mong đức vua mở cuộc đua tài để có cái may không bị bỏ ra ngoài tờ hịch chiêu hiền trong lũ chúng thần.

Đức vua mùng liền vội xa giá về sông Bạch Hạc mở cuộc thi. Sơn Tình [mất 3 chữ] Thủy Tinh trở về thủy cung. Một lúc sau thấy trên sông gió mưa bụi cuốn mù mịt, sấm ẩm ẩm dưới đáy biển, trên không chớp lòe sáng rực, thuồng luồng, ba ba trùng trùng cười ngàn vạn con sóng, cá kình, cá nghê lớp lớp vượt ngàn sông đổ về. Các ngọn sóng hung dữ15, mọi người trông thấy cũng đủ bạt vía kinh hồn. Lúc đó Sơn thánh đứng ở đầu sông, hai em đứng hầu hai bên. Sơn thánh tay trái cầm [sách ước] tay phải cầm gậy, miệng niệm thần chú. Hiển công cầm trống nhỏ, Quý công cầm chiêng [9a] đánh liên tiếp ba hồi. Sơn thánh cầm gậy chỉ vào, lập tức nghìn vạn quái vật đều quét sạch trước đầu gậy. Lúc biến lúc hóa, tất cả do phép thần cơ huyền vì không thể lường được. Vua thấy cả hai đều có phép giỏi, không biết gả cho ai bèn xa giá trở về cung, sai sứ thần triệu cả hai người tới nói rằng:

– Trẫm chỉ có một viên ngọc quý Lam Điền16 mà hai khanh đều là bậc anh kiệt17, ta chẳng biết nên quyết thế nào. Ai mang lễ vật đến trước trẫm sẽ gả con gái cho.

Sơn Tinh, Thủy Tinh hẹn với nhau rằng:

Bọn ta cùng về chuẩn bị đem sính lễ tới, thi xem ai mang tới trước.

Thủy Tinh trở về thủy cung ở Động Đình tìm các vật lạ (các vật lạ như voi trắng chín ngà, ngựa trắng chín đuôi, kim cương 10 hộc, minh châu báu 10 hộc, tóc tiên-NC). Sơn thánh xuống khỏi lầu, cầm gậy chỉ lên trời cầu xin lễ vật, mở sách ước tự ước. Trong chốc lát bỗng thấy voi trắng chín ngà, ngựa trắng chín đuôi, cao lớn lừng lững tới trời; ngọc lạ, tóc tiên [96] tất thảy đều từ trên trời giáng xuống. Một lúc sau lễ vật đã đầy đủ cả, Sơn thánh truyền cho hai em đến lấy lễ vật đó.

Đêm hôm đó, giờ Tý hai anh em mang lễ vật tới lầu rồng. Vua liền triệu công chúa tới gả cho Sơn thánh. Sơn thánh làm lễ dưới bệ. Vua cũng thấy hai ông tướng mạo đường hoàng, oai phong lẫm liệt bèn hỏi Sơn thánh rằng:

– Hai người theo hầu khanh họ tên gì.

Sơn thánh tâu:

– Hai người này là em của thần đi theo xem cuộc thi.

Vua nghe vậy khen rằng:

– Quả đều là thiên tài quốc bảo, thánh thần trên đời. Trẫm ban cho là18 Tào ty19 thống lãnh để phụ giúp chính sự quốc gia.

Ngay ngày hôm đó vua cho rước dâu trở về động Lăng Sương, núi Tản Viên. Cờ quạt, ngựa xe dài ngàn dặm, giữa hàng là xe của Sơn thánh và công chúa. Kèn trống rung đất, đàn sáo rợp trời. Bên trái, Hiền công cưỡi nghê xanh đi trước, hàng trăm loại thú, hơn ngàn tốp theo sau. Quý công mình cưỡi hổ trắng, hàng trăm loài thú, ngàn tốp theo sau20. Thật là ngày hội kỳ lạ còn lưu lại bậc nhất muôn đời của nước Nam.

Lại nói, Sơn Thánh từ khi lấy được con gái của Hùng Duệ Vương được 30 năm. Duệ Vương giữ nước được 115 năm, đến lúc đó nhà vua muốn nhường ngôi cho con rể là Sơn thánh. Sơn thánh từ chối không nhận. Vua nói:

– Cơ đồ họ Hùng đã mạt vận, khanh có thể thay ta. Nếu cố từ chối không nhận thì khanh hãy truyền lại cho hai người em. Triều đình và trẫm thấy không còn ai xứng đáng.

Tản Viên Sơn thánh và hai em do dự không nhận, chỉ một lòng phụ giúp quốc chính. Lúc đó vua Thục (tức An Dương Vương, phụ chúa đất Ai Lao (nay là Lào-ND) (cũng là dòng dõi của vua Hùng-NC), nghe tin Duệ Vương nước Nam ta không có người nối dõi, định nhường ngôi cho con rể là Sơn thánh bèn đem quân đánh nước Nam, truyền hịch cho quan lang các vùng, anh hùng hào kiệt, 7 quận núi sông, 8 man châu quận, nhất tề nổi loạn. Bấy giờ quân vua Thục chiếm đất Nam ta21. Một đạo Kinh châu [sau đổi Nghệ An]; một đạo Ái châu [sau đổi Thanh Hóa].

Vua bèn triệu Sơn thánh cùng hai vị tả hữu kiên thần [tức hai em của Sơn thánh] cùng quần thần nghị bàn tìm cách chống trả. Lúc đó Tản Viên Sơn thánh tâu rằng:

– Thần xin tự chọn tướng tài, cho họ phòng ngự chống với quân Thục.

Vua đồng ý. Sơn thánh cùng hai tả hữu kiên thần bấy giờ làm lễ trước bệ hạ lập tức mở yến hội, chia quân tiến thẳng tới đồn của giặc Thục, đại chiến một trận, quân Thục đại bại. Lại truy đuổi chém được hơn ngàn đầu giặc, số dư đảng còn lại bị bắt sống, đưa về kinh đô. Vua nghe tin bèn xuống chiếu triệu các ông về triều. [Chú – Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “trước chọn cháu của hoàng gia là Vũ công nhạc phủ (tức cháu xa dòng dõi của một trong năm mươi người con nở ra từ trăm trứng của Lạc Long Quân). Sơn bộ (tức một trong năm mươi người con theo mẹ lên núi-ND) Đô đài đại trướng quân cùng án công hưng bình sự phó tướng quân mang ngàn hùng binh chiếm cứ Hoan châu, Ái châu, Bố Chính châu, giữ phía bắc nghênh chiến với quân Thục. (Vũ công vốn là cháu của Hoàng gia, giữ chức Nhạc phủ đô đài, sau khi dẹp xong giặc Thục, ông mất ở Quỳnh Châu ở núi Đồng Cổ, Đan Nê, huyện Yên Định. Đến triều Lý Thái Tông, vua đem quân đi đánh Chiêm Thành. Ngày hôm đó xuất binh ra khỏi thành. Lúc đó thành triều nhà Lý ở địa giới thuộc phường An Thái, huyện Quảng Đức, phía trên dòng sông Tô Lịch-NC].

Đêm đó vua nằm mộng thấy một người áo mũ chỉnh tề, cao lớn vạm vỡ, đàng hoàng đi thẳng vào sân Long thành làm lễ dưới bệ. Vua hỏi:

– Ngươi tên gì, từ đâu đến?

Người đó thưa rằng:

– Tôi vốn là thần núi Đồng Cổ, danh tướng của nhà Hùng. Đế sư tới thăm đền xin ngầm trợ giúp nên được giáng xuống lập công hộ quốc.

Nói xong, biến mất. Vua tỉnh dậy biết được thần báo mộng bèn cho quân tiến đến núi Đồng Cổ, động Đan Nê, huyện phủ Thiệu Thiên, Ái châu, thấy có ngôi đền, vua nhớ đến giấc mộng bèn truyền quan quân làm lễ, sau đó tiến đánh bình định được giặc Chiêm. Sau khi xa giá hồi kinh, vua lại nằm mộng thấy thần báo rằng:

– Ba em trai của vua có ý định làm phản. Ngày hôm sau sẽ khởi sự. Việc gấp lắm rồi.

Nói xong lại trở về ngôi chùa phía đông làng Yên Thái rồi biến mất. Vua giật mình tỉnh dậy, quả thấy có âm mưu làm phản bèn lập đền ở phía nam Đông Sàng, phường Yên Thái, trên sông Tô Lịch, phong thần làm Chủ Minh Linh Vũ Đại vương. Việc quốc tế cùng với ngày sinh hóa, tên tuổi cha mẹ được ghi trong cuốn phả khác ở Cao Lệ, xóm Đông phường Yên Thái.

Đệ nhị khiến tả kiên thần Hiển tướng công (tức em thứ hai của Tản Viên Sơn thánh-NC), Đốc lãnh nhạc phủ hựu kiên ty đại tướng quân cùng Quốc công lĩnh năm ngàn hùng binh chiếm cứ các đạo Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, 16 châu đại man thành,

các xứ mã giang quyết sống mái với quân Thục. Sơn thánh chọn tướng, tuyển tướng xong, các đạo làm lễ bái yết bệ hạ, chia quân tiến đánh. Bấy giờ một đạo của Vũ công cùng với một đạo của Báo công, Quý công cùng tiến đến huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên, men theo con sông nhỏ Tô Lịch. Ngày hôm đó (Ngày 13 tháng 2-NC) hai đạo cùng tiến tới phường Yên Thái, nhân dân làm lễ đón tiếp. Lúc đó trời đã về chiều, ba ông bèn cho dùng giá, đóng quân ở chợ nhỏ bên bờ sông. Cả ba ông đều cho quân dừng ở quán chợ [Bấy giờ phường Yên Thái có hai chòm gọi là chòm Cả và chòm Đông, còn gọi là chòm Thượng và chòm Hạ. Cả ba ông đều cho quân đóng ở chợ nhỏ, chòm Đông, ven sông Tô Lịch, ở đó có miếu thờ thổ thần].

Đêm hôm đó, cả ba ông đều hội quân ở nơi ấy (tức chợ nhỏ chòm Đông, phương Yên Thái-NC). Khoảng giữa canh ba các họ trong làng [tức các dòng họ Đoàn, Lương, Trần, Đặng, Dương… đều mộng thấy một người mặc áo đen, cưỡi ngựa trắng, theo sau có khoảng hơn 50 người đến thẳng các gia tộc trong phường bảo rằng:

Nay đất của dân chúng có ba vị Thiên quan nhạc phủ, phụng mệnh quốc vương đến đây trấn giữ chính khí của Long thần, cai quản đất này, vậy mà các ngươi dùng dưng vô lễ. Làm bề tôi như vậy ắt sẽ mắc tội với thiên đình, tất cả mọi người sẽ không được yên ổn. Ta nay lại được Thiên quân triệu tới cho cai quản nơi này, giữ quyền với dân chúng. Mọi người nên kíp nghênh đón các vị vua quan tới đây.

Nói xong bỗng nhiên bay lên trời biến mất. Mọi người chợt tỉnh giấc. Lúc này trời đã sáng, bỗng thấy dân chúng, vật nuôi trong thôn đều bị bệnh dịch. Mọi người trong thôn thấy mọi việc không yên ổn, ngầm nghĩ tới giấc mộng, cho đó là điềm báo của quan nhỏ giang thần bên hội hợp các gia tộc. Các gia tộc nói ra mới biết cùng một giấc mộng, mọi người lấy làm lạ bảo nhau rằng:

– Việc quả đúng như vậy, dân làng ta không bái lễ xin làm thần từ để cho dân đất này yên ổn nên bị như thế chẳng phải sao?

Nói xong, nhân dân (tức chòm Đông, phường Yên Thái-NC) bái lễ xin làm thần tử của ba ông. Ba ông đồng ý làm lễ, dân lại được yên ổn.

Lại nói, ba ông đóng quân tại đây (tức chòm Đông, phường Yên Thái-NC) được vài ngày, Vũ công bèn chia quân tiến đến đất Hoan châu, còn hai ông (tức Bảo công và Quý công-NC) cho dừng quân, xem thế đất như thế nào rồi hai ông cho đóng đồn lớn ở nơi này phòng chống quân Thục. Ngày hôm đó, hai ông thong thả dạo chơi ngắm nhìn cảnh vật, xem xét địa thế cùng phong tục tập quán người dân nơi đây. Hai ông thấy địa thế đất nơi này cùng một dải dân cư vốn có hình rồng uốn lượn từ La Thành. Phía trước có sông nhỏ Tô Lịch, phía sau có hồ Linh Đàm [sau đổi thành hồ Tây] nước biếc ôm ấp: Phía sau có nước, phía trước mặt trăng, mặt trời đêm ngày mọc lặn (mất mấy chữ-ND). Cái gọi là Long phiến đại dân cư là nói rồng âm, âm dương tương hợp]. Giữa dải dân cư là hình rồng, chùa nằm ở trán rồng, giếng là mắt rồng, mạch nước trong không bao giờ cạn, dân cư ở phía trong nên gọi là chùa Linh Long (rồng thiêng), chùa được xây dựng từ thời đó). Dân phong thuần hậu, giàu có đầy đủ, nam thanh nữ tú. Hai ông thấy đây là nơi đất tốt, lợi cho việc binh bèn lập đồn, phòng chống ở đây.

Ngày hôm đó, nhân dân binh sĩ cùng nhau xây dựng ở nơi này. Đồn doanh ở trước chợ, bên dòng sông nhỏ Tô Lịch, cả một dải đất về phía xa nơi đầu bờ sông. Đồn lập ở đây, nơi có ao hình bán nguyệt, lấy đồn doanh phía trước làm minh đường, phía sau có hồ Tây nước biếc cùng dài sông Tô. Bên ngoài có hình rồng chầu, hồ phục; cờ quạt, voi ngựa, trống phách đều theo hướng sao phong. Đất tuy bằng phẳng cũng có chỗ lồi lõm song tất thảy đều chầu về nơi chính sở đồn doanh (về sau triều Lý dụng đô ở đây-NC), đều là ngôi đất quý [lập Quý, hướng Đỉnh].

Lại nói hai ông truyền cho binh sĩ và nhân dân lập đồn doanh xong liền mở tiệc lớn chúc mừng. Hai ông từ đó đóng đồn ở đây, đồng thời truyền cho tướng sĩ các đạo xây dựng đồn doanh ở các nơi, tất thảy có 22 đồn lớn nhỏ để phòng ngự. Hai ông lại truyền hịch tới các đồn kêu gọi các bậc hào kiệt các nơi. Hai ông cho dừng binh ở đất này (tức chòm Đông, phường Yên Thái), ngày ngày du chơi, yến ẩm, giáo hóa nhân dân để trở thành nơi ai cũng biết lễ nghĩa. Hai ông còn chăm sóc kẻ mồ côi nghèo túng, những người cô đơn, yếu đuối, già trẻ không nơi nương tựa. Công tựa như núi, đức như biển, trời cao đất dày, ơn sâu nghĩa nặng, khắc cốt ghi xương.

Được một năm, hai ông phân ra các đạo, phủ dụ dân tình, hịch truyền đến đâu cũng được bậc hào kiệt các nơi hưởng ứng, như sấm dậy định tai, như thiên uy, không nơi nào không phục. Hồ báo ở núi cao kinh hồn lạc phách; Kình nghê nơi biển cả sợ hãi rụng rời. Hai ông không cần đánh mà dân được yên, cuộc sống của người dân lại như cũ. Từ đó thiên hạ thanh bình, trong phủ vô sự, nhân dân vui vẻ đàn ca, cảnh tượng thái hòa bốn biển. Vua bèn triệu các đạo về triều. Hựu công, Quý công nghe chiếu vua, ngay ngày hôm đó mở tiệc, mời các cụ già tới [tức chòm Đông, phường Yên Thái]. Trong lúc yến ẩm vui vẻ, hai ông còn khảo cứu nơi đồn doanh này, nói với các cụ rằng:

– Ta đóng đồn doanh ở đất này vốn là nơi chân long tủ khí, không phải tầm thường. Đất này sau ắt là nơi để đô, vương phủ; thế đất quý chung đúc linh thiêng cũng sẽ là nơi ở của thánh thần. Hôm nay ta giao lại cho dân chúng giữ gìn hành dinh của chúng ta. Việc làm bề tôi muôn đời, thầy trò ngàn đời, và lại việc chăm sóc dân như cha mẹ vốn là việc thiên đình đã định, lẽ nào lại không phải cả dân sống ở nơi này sao [tức chòm Đông, phường Yên Thái]. Hãy hỏa hành dinh này thành nơi thờ cúng, mọi người và các bề tôi phải nghe theo, không được làm trái.

Nhân dân [tức chòm Đông, phường Yên Thái] tất thảy đều làm lễ nhận mệnh. Hữu công còn làm bài thơ rằng:

Dịch nghĩa:

Lớp lớp rồng xanh trải một dải dài,
Hai bên tả hữu sông hồ nước biếc xanh.
Nơi tiên cung để phủ, đất chung đúc linh thiêng,
Doanh đồn của ta, Yên Thái còn lưu truyền mãi.

Dịch thơ:

Lớp lớp rồng xanh một dải dài,
Tả hữu sông, hồ biếc ban mai
Tiên cung, để phủ, linh thiêng khắp,
Yên Thái lưu truyền chốn linh đài.

Quý công cũng làm thơ rằng:

Sông trước, hồ sau hợp từ một nguồn,
Cờ xí, voi ngựa đứng ở phía trước
Đồn ở giữa dải đất hình rồng
Đời sau xuất hiện anh tài, đời đời lưu truyền.

Dịch thơ:

Sông trước hồ sau hợp một dòng,
Voi ngựa, cờ xỉ, đứng trước song.
Dải đất hình rồng đồn ở giữa,
Anh tài hiện thể mãi lưu công.

Việc giao phó cho dân làng xong, ngay ngày hôm đó hai ông xa giá hồi triều vào yết kiến bệ hạ. Vua mở yến tiệc lớn chúc mừng. Từ đó, vua tôi hiệp sức thiên hạ thái bình. Hai ông thường về thăm nơi hành dinh sở tại [tức xóm Đông, phường Yên Thái). Trong thời gian này, vua tái phong cho Hựu công làm Chưởng lãnh long chu thủy đạo Đại tướng. Bấy giờ, mẹ ông qua đời, Hựu công mời vua về Sơn Tây làm lễ mai táng. Vua đồng ý.

Xét, xưa Hựu công vốn là cháu của một trong trăm trứng, con trai của Lạc Long Quân, tên là Hùng Xi, làm tộc trưởng Sơn Tây, mẹ là đệ nhị phu nhân họ Trần. Thời Tấn, phu nhân đã hai mươi bảy tuổi. Một hôm phu nhân loan giá hồi du thăm cậu ruột ở Minh Châu. Ngày hôm đó khi trở về phu nhân đi theo đường sông, đến xóm Đông, phường Yên Thái, nơi có dòng sông Tô Lịch thì trời đã về chiều bà cho thuyền rồng nghỉ lại. Nửa đêm, trong màn trướng trên thuyền, bà mơ màng nằm mộng thấy một bậc trượng phu áo mũ chỉnh tề, đàng hoàng bước vào trong thuyền đến trước mặt phu nhân thưa rằng:

– Thần vốn được thiên đình sai xuống đầu thai vào phu nhân họ Trần.

Phu nhân hỏi:

– Người là quan gì?

Người đó trả lời rằng:

– Thần vốn là người theo mệnh của Long cung, giữ chức Tào liêu của Thủy để.

Nghe nói tới đây, phu nhân chợt tỉnh lại mới biết mình nằm mơ bèn trở về nơi cung sở thưa lại với Hùng Vương giấc mộng trên. Hùng Vương nghe vậy bảo phu nhân rằng:

– Nếu việc quả thực như mộng, nhà ta phúc dày ắt sinh người hiền. Thần xuất thể sẽ nhập vào làm con nhà ta.

Nói xong, sau ba tháng, quả nhiên phu nhân có thai, đến ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tý thì sinh ra ông. Ông có tướng mạo đường hoàng, cao lớn, dáng vẻ lẫm liệt, khôi kỳ, mặt vuông, tai lớn, ngũ nhạc cháu tiên, mặt rồng mắt phượng. Khi sinh ra, tay dài quá gối, Hùng Vương đặt tên là Hựu công. Đông qua, xuân tới, ông vừa tròn 18 tuổi. Thân cao 9 thước, ở ngực, bụng có hàng giáp đỏ xếp thành 28 vì sao, anh hùng cái thể, dũng lược hơn người, tỉnh thông văn võ toàn tài, lại có khí phách. Lúc đó nước Nam ta giặc giã nổi nên khắp nơi, vua sai ông làm chủ soái vùng Sơn Tây, đi tuần hành khắp các vùng. Hựu công cũng xin cha lên đường đi tuần du, đánh giặc ở các nơi. Vua đồng ý.

Ông bèn cất binh tiến đánh các nơi. Quân đi đến đâu, tiếng vang như sấm dậy. Ông còn lấy đức thu phục lòng người. Qua nửa năm, đồ đàng giặc các nơi đều ra hàng. Ông đưa về kinh hơn 500 thủ lĩnh giặc, dâng biểu tâu lên vua. Vua thấy vậy rất vui phong cho ông chức Bố chính quan, nhậm chức ở Tuyên Quang. Sau được bái làm Điêu bát thiên hạ. Lại được bái tặng làm Chủ tế thiên quan. Sau lại được phong chức Thùy Chưởng lãnh Long chu nội bộ thủy đạo Đại tướng quân, gia tặng Vạn lộc, 64 xã phụng thờ, sách son, khoán sắt cùng mãi với đất nước, sống mãi với núi sông, trường tồn cùng trời đất, các triều đại tặng phong].

Vua bèn sai Quý công làm Đốc lãnh tam giang thành. Được 3, 4 năm, vua Thục lại thu thập binh mã ngoài 20 vạn tiến đánh lấy nước ta. Tiếng quân reo hò như sấm dậy, từ biên ải thư báo về khẩn cấp, vua vô cùng lo lắng bèn triệu quần thần hỏi về kế đánh giặc Quần thần đều tập trung đông đủ nhưng chưa có người quyết đoán, dám tâu lên vua kế sách của mình. Chỉ có Tản Viên Sơn thánh tâu rằng:

Thần xin 3 vạn hùng binh, tự chọn tướng tài bất quá nội nhật trong ngày có thể dẹp được giặc Thục.

Vua nghe vậy mừng lắm liền đồng ý. Vua bái nhận Thần Nỗ Sơn thánh. Sơn thánh nhận mệnh lệnh lập tức cùng Hựu công Sơn thánh trong ngày hôm đó cùng Quý công [tức Hữu kiên thần] phân chia chiến trận trên sông, cùng phụ giúp cho hai đạo thủy bộ. Hai ông cùng nhận 2 vạn hùng binh, 100 chiếc thuyền, hơn 2000 kỵ mã. Bấy giờ 1321 nghĩa binh hảo hán ở phường Yên Thái và trang Bồng Lai đều theo hai ông đánh Thục [tức chủ soái Ai Lao]. Còn hơn 50 người là gia thần các nơi ngày hôm đó chia thành các đạo hành lễ bệ hạ. Quân thủy, bộ cùng tiến; thuyền ngựa song hành.

Lại nói, binh mã chi chính của Sơn thánh Tản Viên cùng 16 châu sơn cước tiến đánh đồn chính quân Thục ở đất Hoa châu và Mai châu. Hựu công và Hữu kiên thần Quý công thống lãnh thủy bộ các doanh tiến thẳng đến sông Lục Đầu, sông Bạch Đằng ở Kinh Bắc và Ôn châu ở phủ Lạng Sơn. Cho hơn 1000 thuyền ngầm tiến đến Ái Quan. Quý công cho hơn 1000 kỵ mã phục binh ở nơi rừng rú, núi non hiểm trở. Quân thủy bộ cùng tiến đánh một trận ở Linh Giang và vùng sơn cước. Quân Thục đại bại, thuyền hỏng, tất cả đều bị lật úp. Dư đáng sống sót lên bở, chạy thẳng đến dải núi Phân Mao. Hữu kiên thần Quý công lại đem binh truy đuổi, phân làm hai đạo cùng tiến đánh một trận. Quân Thục hoảng loạn bỏ chạy tan tác. Hơn 1000 đầu giặc bị chém treo ở Ma Hạ

Bấy giờ Sơn thánh đại chiến với quân Thục ở đồn chính, bắt sống tướng Thục cùng binh mã giải về kinh. Giặc Thục dẹp tan, đất nước trở lại thanh bình, Sơn thánh bèn dâng tấu lên vua báo tin thắng trận. Vua bên xuống chiếu mời về triều. Ngày hôm đó hai ông phụng chiếu khải hoàn. Hai đạo thủy bộ của hai ông trở về đến cung doanh ở phường Yên Thái, nhân dân làm lễ chúc mừng (tức ngày mồng 2 tháng 7]. Hai ông bèn mở tiệc khao sĩ tốt và cho quân lưu lại ở đó 3, 4 ngày. Hai ông còn ban thưởng cho gia thần thủ túc.

Đến ngày mồng 7 hai ông cứ giá về thăm hành doanh tại Bồng Lai. Đến ngày mồng 9 mang quân trở về kinh [Sau ở Bồng Lai cũng phụng sự hai ông] phụng nhập sân triều. Vua cho vào yết kiến, hai ông làm lễ tạ ơn22.

Vua mừng rỡ mở yến tiệc chúc mừng và phong thưởng các bậc công thần lớn nhỏ23 [Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: khao ba quân sĩ tốt, gia phong đại vương. Phong Tản Viên Sơn thánh làm Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần [hiện chính bản còn ở Sơn Tây]; Đệ nhất phong Tả kiên thần Đệ nhị là Hiền công, em của Tản Viên phong làm Cao Sơn hiển ứng Đại vương (còn lưu giữ ở bản khác); Đệ tam phong làm Hào Hữu Đại vương; Đệ tứ phong làm Quý Minh Đại vương. Việc phong tước của các công thần lớn nhỏ khác ghi ở bản khác].

Lại nói, vua tôi hiệp đức, thiên hạ thái bình, con cháu vua nhân du thiên hạ, hai ông bèn mời vua về thăm quê hương bản quán, gia thần của mình còn ở hành doanh các nơi. Vua đồng ý. Hai ông phụng mệnh hành lễ bệ tiền, cử giá hồi hương, thăm tiên lăng, bái yết gia đường, sửa sang từ miếu, ban thường ngân tiền cho phép dân phụng thờ. Sau đó, chu du bốn biển, hành doanh các nơi. Trước dân đặt lễ, cửa ngoài dâng hương; Vạn dặm đào hồng rực rỡ, ngàn sông lấp lánh huy hoàng.

Một hôm hai ông loan giá hồi du cung doanh sở tại [tức phường Yên Thái]. Ngày hôm đó, [tức ngày 15 tháng 10] nhân dân các ấp làm lễ chúc mừng. Lúc đó bỗng nghe có người vào bẩm báo với hai ông rằng:

Vũ công đã hóa ở đỉnh núi Đồng Cổ, Đan Nê, huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên, châu Ái. Thân ngài đã hóa hết, chỉ còn lại một thắt lưng ngọc. Dân địa phương làm lễ lập miếu ở đó.

Hai ông nghe vậy lấy làm lạ, nghĩ tới tình thân bạn bè nhưng đường sá xa xôi cách trở khó đi, bèn truyền lập đàn ở cạnh chùa, [đàn ở bên trái chùa, cạnh chợ thuộc xóm Đông, phường Yên Thái. Hai ông làm lễ cúng chay ở đó). Qua 3 ngày hai ông bỗng nằm mơ thấy mây ngũ sắc cuồn cuộn phía trên đàn. Ban ngày trời tối như đêm. Ngừng nhìn lên thấy Vũ công cưỡi trên lưng hỗ lại nghe thấy tiếng ông sang sảng:

Trời sinh ra ta, giáng làm quan trên trần.
Sống vẻ vang, chết cũng vẻ vang.
Đồng Cổ còn lưu truyền danh tích,
Nghĩa khi sáng như mặt trăng, mặt trời.

Làm lễ ở hành dinh xong [từ ngày 16 tháng 10 đến hết ngày 19] hai ông xa giá về triều yết kiến bệ hạ. Từ đó hai ông cùng nhậm triều với Tản Viên Sơn thánh. Được 2 năm, vua Thục ôm hận lại quyết chí phục thù, nhận trăm vạn hùng binh, tám vạn kiêu mã, một vạn thuyền chiến, phân thành 5 đạo tiến đánh hòng chiếm nước Nam. Cở xí rợp đất, chiêng trống dậy trời, từ biên ải một ngày thư báo 5 lần khẩn cấp. Vua vô cùng lo lắng.

Sơn thánh lại thay vua tuyển chọn tướng tài, lãnh mười vạn hùng binh phân làm 10 đạo. Hai ông nghênh đánh giặc Thục từ Sơn Sam, Kinh Bắc, Hải Dương, Phụng Thiên, Sơn Nam, Hoan châu, Ái châu, Bố Chính cho đến Ái Quan, Thần Phù, Hải Khẩu. Ngày hôm đó, 10 đạo của hai ông nghênh chiến Thượng đạo. Bấy giờ Sơn thánh cùng Tả kiên thần làm lễ trước bệ hạ, phân làm hai đạo binh đàng hoàng tiến vào, thủy bộ song hành đến thẳng đồn Thục đánh lớn một trận. Quân Thục ở các nơi đại bại chạy tán loạn, truy đuổi, chém được hơn ngàn đầu giặc, bắt sống toàn bộ dư đảng, bắt hết không để một xe nào thoát, một con ngựa nào còn, giải tất cả về kinh.

Từ đó vận nước trở lại thanh bình. Các ông làm biểu dâng tấu lên vua. Vua biết tin ra chiếu mời về triều. Hai ông rước cờ xí về triều làm lễ bệ hạ]24.

Vua mở yến tiệc chúc mừng, khao thưởng công thần trên dưới. Việc xong, từ đó đất nước thanh bình, vua Thục y lệ triều cống được 3, 4 năm, vua lại định nhường ngôi cho Sơn thánh nhưng Sơn thánh cương quyết chối từ không nhận. Lại dâng tấu can rằng:

– Thần và bệ hạ đã được phép của thần tiên, siêu phàm nhập thánh, hóa sinh bất diệt. Tuy nói lầu cao, gác phượng nhưng đều nhiễm bụi trần, chỉ là “giấc mộng kê vàng” mà thôi [113]. Chẳng bằng ngao du nơi mây khói, lên trời, xuống đất, thanh nhàn nơi tiên đảo Bồng Lai, sao cứ phải khư khư nơi cõi tục, giữ lấy danh lợi. Chẳng bằng nhường ngôi cho vua Thục để nhàn du cùng trường tồn mãi với trời đất.

Vua ưng thuận nhường ngôi cho Thục chúa An Dương Vương.

Lại nói, hai vị danh thần Hựu công, Quý công nghe tin vua nhường ngôi cho vua Thục bèn tạ triều từ chức xin về dưỡng nhàn. Vua đồng ý. Từ đó hai ông xa giả nhàn du trong thiên hạ, trải ngắm non sông hoặc ngao du nơi ngọn trúc, rừng tùng, thơ rượu đàn hát, niềm vui bất tận.

Hoặc văng du nơi nguồn đào vườn lý, tuyết nguyệt phong hoa. Một hôm (ngày mồng 2 tháng 2-NC) hai ông trở về hành dinh (tức thôn Đông, phường Yên Thái-NC), nhân dân làm lễ bái lạy. Hai ông vui vẻ thết yến cùng gia thần, nhân dân, qua vài chục ngày mới phụng gia du thăm các nơi [116], thăm hơn 300 hành doanh sở tại gần cận ở các nơi.

Khoảng một năm, đến ngày 12 tháng 11, Hựu công cáo biệt Quý công về quê ngoại ở Sơn Nam. Quý công trở về động Lăng Sương thăm lăng mộ cha mẹ. Hựu công theo đường thủy về thăm quê ngoại, việc xong lại trở về trang Thanh Động, phủ Thượng Hồng, qua khúc sông nhỏ (tức ngày mồng 2 tháng 12-NC) một trận gió lớn nổi lên, trời đất tối đen, sóng lớn cuồn cuộn, lát sau tất cả đều phẳng lặng, thuồng luồng, ba ba rắn rết đến chầu hầu xung quanh, thuyền ông tự chìm xuống.

Lại nói cùng thời gian đó Hữu kiên thần Quý công ở quê nhà (tức động Lăng Sương-NC) vui vẻ văng du non sông, xem sông, ngắm núi. Đang trên ngọn Lĩnh Sơn bỗng thấy mây ngũ sắc bay tới, trời đất tối sầm, gia thần ai nấy đều kinh hãi. Tứ linh (long, ly, quy, phượng) từ trên trời bay thẳng xuống, trăm loài thú đến chầu [12a], ông trèo lên đường mây rồi phút chốc hóa sinh bất diệt. Một lát sau, trời đất quang đãng đã không thấy ông nữa. Đời sau còn có thơ rằng:

Diệc đồng thiên bẩm giảng cư trần,
Thượng bảo quân vương hạ bảo dân,
Thập bát Hùng đồ danh tướng tại,
Kỳ tại đồng nhật hóa vì thần. 

(Cũng là trời phú giáng xuống trần,
Trên giúp nghiệp vua, dưới giúp dân.
Vua Hùng 18 danh tiếng mãi,
Kỳ thay cùng lúc hóa thành thần).

Lại nói, khi đó nhân dân ở nơi thần hóa cùng gia thần làm biểu tấu lên vua. Vua vô cùng thương tiếc bậc công thần có công với nước bèn sai đình thần về nơi các ngài hóa làm lễ, truyền cho nhân dân trong vùng dựng miếu để xuân thu nhị kỳ làm lễ. Các gia thần của hai ông ở Bồng Lai, Yên Thái, xóm Đông những người có công theo hai

ông đi đánh giặc đều được phong làm Hộ nhi hương, xuân thu hai mùa được hưởng tế lễ của nhà nước. Vua còn bao phong mỹ tự [126] là Thượng đẳng phúc thần, muôn đời được hưởng huyết thực, thành lệ mãi mãi, bốn mùa hương hỏa thờ cúng.

Một người được phong làm Bảo Hựu Đại vương.
Một người được phong làm Quý Minh Đại vương25.

[Chú – Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: Cho phép thờ chính ở hai nơi thần hóa là Thanh Động và Nọn Sơn. Hai nơi ở của gia thần là phường Yên Thái và Bồng Lai làm đất hộ nhi hương [Xuân thu quốc tế).

Lại nói, các thời Đông Hán, Tấn, Tống, Tề, Lương, trong 349 năm cho đến bốn đời Đinh, Lê, Lý, Trần của nước Nam tạo dựng cơ nghiệp lớn, thần thường giúp nước, cứu dân, anh linh hiển ứng, được Để vương các đời bao phong mỹ tự là Anh linh hiển ứng. Cho đến đại thần Nguyễn Văn Úy thời Lê Trang Tông khởi binh đánh dẹp nhà Mạc đều được bách thần trợ giúp. Sau dẹp được nhà Mạc, vua Trang Tông lên ngôi truy phong cho hai vị thần là Bảo quốc an dân Thượng đẳng thần tối linh Đại vương, cùng với nước hương hỏa muôn đời không mất. Các ngày sinh, hóa, các lễ tiết khánh hạ và tên húy, sắc phục cẩm kỵ đều ghi theo dưới đây.

Thần linh Bảo Hựu Đại vương sinh ngày 12 tháng 2.

Trước ngày lễ một ngày dân làng quét dọn sạch sẽ cung miếu, đường dân, ba xóm trong xã nghênh Thánh giá về làm lễ mộc dục, làm cáo lễ, hiến tế 3 cỗ ngọc bản gồm trà quả, hương hoa, thịt xôi, cơm rượu. Ngày lễ chính gồm bò vàng, xôi, cơm rượu, ca xướng, chơi cờ. Từ ngày chính lễ 12 đến ngày 22 làm lễ tạ [mất 7 chữ].

Quý công Đại vương sinh ngày 16 tháng 8.

Ngày lễ chính có ca xướng, tất cả đều như lệ trước đây không được làm khác. Các vị tham dự đều cùng hưởng lộc.

Hai vị hóa ngày 2 tháng 12.

Trước lễ [mất 4, 5 chữ] dùng gà xôi, trà, rượu, hoa quả. Lễ chính có lợn đen. Toàn ấp chọn lấy gia đình khá giả, còn cả vợ chồng, không có tang ma để mua vật phẩm về từ trước đó 10 ngày [mất 2 chữ] cất cẩn thận, trà quả, bánh trái, xôi, rượu phải thật sạch sẽ. Sau đó có thưởng cho rượu ngon, xem ca xướng và các đồ ăn khác.

Ngày mồng 2 tháng 7 là ngày khánh hạ.

Ngày mồng 2 tháng 12 là ngày khánh hạ mở sắc.

Làm lễ có lợn đen, xôi rượu, ca xướng 3 ngày.

Ngày mồng 2 tháng 9 là ngày khánh hạ Thánh phụ, Thánh mẫu.

Làm lễ có bỏ vàng, xôi, thịt lợn, cơm rượu, ca xướng để các vị đồng phối hưởng.

Ngày 15, 16 tháng 10 đều là ngày khánh hạ.

Làm lễ 3 mâm cỗ chay, bỏ vàng, cơm rượu, ca xướng 3 ngày.

Ngày 10 tháng Giêng là ngày du xuân khánh hạ.

Làm lễ gồm lợn đen, xôi rượu, 3 mâm cơm chay, ca xướng, chọi gà, đánh quần tam.

Kiêng hủy tên Bảo Hựu, Sùng Quý cùng tên cha mẹ thánh.

Khi làm lễ cấm các y phục có màu vàng, tía, trắng, đen.

Ngày mồng 10 tháng Giêng năm đầu niên hiệu Hồng Phúc (1572) [phía dưới có triện nhỏ].

Thần Nguyễn Bính, giữ chức Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ phụng soạn [dưới có triện nhỏ).

Ngày lành tháng 2 năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1735) thần Nguyễn Hiền Quản giám Bách thần trì điện Hùng lãnh phụng sao.

[Sao lại theo đúng bản của các triều trước]

Chú thích:

  1. Viết tắt của hai chữ “người dịch”.
  2. Bản thần tích khác ở làng Đông Xã sau đó chép: Xét xưa, cha của Tân viên Sơn thánh là ông Cao Hành, mẹ là bà Đinh Thị Điên, sống ở động Lăng. Động ở nơi đỉnh cao dệt gắm, nước biếc non xanh như tranh họa, cây cối um tùm, chim ca vượn hót, lầu gác gối mây, lung linh phong cảnh, thật là nơi bậc nhất nước Nam. Lúc đó ông Cao Hành đã 70 tuổi, Thái bà tuổi cũng hơn 50. Họ sinh sống ở đây, làm việc nhân nghĩa, tích thiện tích đức, 3 đời hương hỏa, nhất bậc phong lưu, gia đình giầu có thừa thãi. Được trời ban, đất giúp cả hai đều sinh bậc thánh vương. Một hôm, thấy trên đỉnh núi, nơi hang động mây giăng màn rủ, sương báu lung linh, giao long cuốn nước nhà hạt tỉnh châu; Linh thiêng tỳ bà lăn tăn sóng giếng. Hương thơm lan tỏa đất trời, rồng thiêng trời cao bay vút; gió heo may nhẹ thổi, hương thơm thoang thoảng đâu đây, Thái bà bèn men theo con đường bên trái tường nhà, đi tới giếng nước thấy có bệ đá trắng liền tới tấm ở đó. Tự nhiên bà thấy khói mây ngan ngát, điềm lành rờ rỡ, núi sông chung đúc tỉnh anh, khoan khoái tinh thần, tựa như có niềm vui lớn. Từ đó cảm động mà có thai, đến ngày rằm tháng Giêng năm Định (mất một chữ) bà mang thai vừa tròn 14 tháng, bỗng thấy mây ngũ sắc bao quanh, điềm lành hào quang rực sáng, đến giờ Thìn bà sinh Tản Viên Sơn thánh, tên húy là Nguyễn Tuấn. Sự tích của ngài còn ghi trong chính bản, ở đây kể tóm lược.
    Bản thần tích làng Đông Xã chép: “Xuân qua hè tới, ngày tháng trôi đi”
  3. Bản thần tích làng Đông Xã chép: “Xuân qua hè tới, ngày tháng trôi đi”
  4. Bản thần tích làng Đông Xã chép: “Bấy giờ các con đều chưa có văn tự”
  5. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “cứ định bạt sơn, anh hùng cái thể. Tiếc thay, tiếc thay, tạo hóa đa đoan”
  6. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “Tôi thầm nghĩ, giầu nghèo có lúc” 
  7. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “tình như nuôi cháu, nghĩa hơn cả con sinh”
  8. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “Các ông bẩm sinh thiên tài, tuy không sống cùng một chỗ, ăn cùng một nơi, làm con của hai gia đình nhưng ngày ngày cùng nhau vui chơi, chẳng lúc nào rời xa. Nghĩ đến công lao sinh thành, ơn sâu nuôi dưỡng, lấy gì để báo đáp”.
  9. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “có chí tang bồng hồ thỉ”.
  10. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “Anh hùng bốn bể đều quy phục”.
  11. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “[Trong các di chúc để lại, các nơi Ma bà giao cho như núi sông, đồng ruộng, suối khe ở các phủ huyện nào đều đề khuyết] cai quản. [Bấy giờ Tản Viên Sơn thánh lập miếu phụng thờ mẹ nuôi ở Tân Lĩnh Linh sơn… mất 7 chữ-ND]”.
  12. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: Anh em chia ba nơi trần trị: Người anh thứ nhất là Trung chỉ, nơi cát cứ chính là Tản Lĩnh Linh sơn. Người em thứ hai là chỉ Tà, nơi cát cứ chính là Lãng Sơn. Người em thứ ba là chỉ Hữu, nơi cát cứ chính là ở Nọn Sơn. Cả ba vị đều được ăn lộc, đều là ba vị Tản Viên.
  13. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “người đẹp ở nước Tề, nước Tổng cũng không so được, có thể xếp với các bậc tiên nữ con của Thượng để trên trời”.
  14. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “Cao đãi hiền lâu” (Lầu được người hiển-ND)”
  15. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “như muốn nuốt trôi tất mọi thứ trong trời đất”
  16. Ngọc quý Lam Điển: Là một trong 4 loại ngọc quý của Trung Quốc. Ở đây vua ví công chúa như viên ngọc quý Lam Điền.
  17. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “Nước Ngô vui, nước Sở buồn, nước Hán ca, nước Tần khóc”.
  18. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “Tả hữu thống lĩnh”.
  19. Tào ty: Chức quan, chuyên chăm lo phụ giúp công việc điều hành chính sự
  20. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “Tất cả các loại cầm thú trừ tứ linh đều ra nghênh tiếp”
  21. Bản thần tích làng Đông Xã sau đó chép: “một đạo Bố Chính; một đạo Hải Dương, một đạo Sơn Nam; một đạo Phụng Thiên phủ, một đạo Cao Bằng; một đạo Sơn Tây, một đạo Tuyên Quang, một đạo Hưng Hóa cùng 16 châu đại man thành, Diên Chủ Mã Giang các nơi đều bị vua Thục chiếm hết. Anh hùng nước Nam đều nghe lệnh vua Thục nổi loạn, nhân dân rơi cảnh lầm than”.
  22. Đến đây hết phần dịch của bản thần tích hiện lưu trữ tại làng Đông Xã. Phần tiếp theo là bản dịch nghĩa của thần tích làng Đông Xã, ký hiệu AE.a2/18, từ trang 183, dòng thứ 6.
  23. Đến đây chúng tôi dịch theo bản thần tích hiện lưu trữ tại làng Đông Xã
  24. Từ đây chúng tôi dịch theo bản thần tích hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AE.a2/18.
  25. Bản dịch thần tích làng Đông Xã lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm đến đây là hết. Phần chữ Hán kết thúc ở tr. 122. Từ đây chúng tôi dịch theo bản lưu trữ tại làng Đông Xã.

Tài liệu tham khảo

  1. Văn bia Thần chi đức thịnh 神之德盛, ký hiệu 03286/ 03287, nguồn https://gallery.vietnamica.online/.
  2. Văn bia Hậu thần bi ký 後神碑記, ký hiệu 04257, nguồn https://gallery.vietnamica.online/.
  3. Văn bia Thần tích bi kí 神跡碑記, ký hiệu 17433, nguồn https://gallery.vietnamica.online/.
  4. Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, Lê Hữu Mục dịch, In lần thứ nhất, Nhà sách Khai Trí. 
  5. Nhóm nghiên cứu Di sản văn hóa Đền Miếu Việt (2025), Kinh Triều Bảo Lục: Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc thị, Nxb Lao động.
  6. Việt Thường thị Hùng Vương triều Duệ Vương công thân danh tướng Bảo Hựu Đại vương, Quý Minh Đại vương ngọc phả có lục, ký hiệu AEa2/18, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.
Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (3)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)