Tiểu sử
Ni sư Diệu Phương thế danh Hồ Thị Tuân, Pháp danh Tâm Lan, tự Diệu Phương, hiệu Giác Thảo, sinh năm Bính Tý (1936), trong một gia đình kính tín Tam Bảo, tại làng Hòa Viện, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ni sư con của cụ ông Hồ Đình Thân, cụ bà Trương Thị Dương mà Ni sư là con thứ tám (con út) trong một gia đình bảy chị em.
Từ lúc thiếu thời, Ni sư hấp thụ nền lẽ giáo gia phong, Ni sư thường theo mẹ đến chùa lễ Phật. Từ đó Ni sư phát tâm quy y với Hòa thượng Trừng Hóa, hiệu Hưng Dụng, thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương, Viện chủ Tổ đình Kim Tiên, được Ngài truyền trao Tam quy Ngũ giới, Pháp danh Tâm Lan.
Xuất gia vào năm 1966, sau khi bái biệt song thân vào chùa Diệu Ấn, đầu sư với Ni Trưởng Đàm Hương, Viện chủ Tổ đình Diệu Ấn. Được Ni trưởng cho xuất gia, truyền giới Sa-di-ni vào năm 22 tuổi.
Từ đó, Ni sư khép mình trong quy cũ thiền gia chuyên tâm sách tấn hành trì Kinh Luật.
Năm 1975 đất nước vừa giải phóng, Tổ đình Từ Nghiêm khai đàn thí giới, Ni sư đăng đàn thọ Cụ túc giới. Trong mười năm tu học Ni sư luôn tấn đạo nghiêm thân, không hề phóng túng giải đải. Ngồi sự tu học, Ni sư còn làm các công tác từ thiện, ủy lạo nơi vùng sâu vùng xa thiên tai bảo lụt.
Hành đạo hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hồi, Ni sư dấn bước lo toan, trước cảnh thăng trầm của đạo Pháp. Năm 1992, duyên lành hội tụ, Ni sư lãnh trọng trách bảo quản chùa An Lạc tại Tp.HCM.
Ngôi chùa An Lạc đã trên hai trăm năm hiện hữu lặng lẽ bên dòng đời đa đoan biết bao sương ngàn gió nội, năm tháng bào mòn, người xưa từng nói:
Cuộc sống cần vui khi nguyện làm chim hót
Sỏi đá khô cằn xin chuyển hóa màu xanh
Nguyện làm hoa khi vườn lá trơ cành
Làm đuốc sáng khi đêm dài trăng lặn.
Thế nên Ni sư luôn thao thức, lúc nào cũng để lòng gắn bó với quê hương đất nước, kế thừa Tổ nghiệp đã trông lên không phụ ân Phật, nhìn xuống chẳng thẹn chí kế thừa gia nghiệp.
Cuộc đời tu hành của Ni sư luôn luôn tuân thủ Tỳ ni tạng, hướng về quý Ni trưởng để học hỏi gương sáng đức hạnh. Ngồi thì giờ tụng kinh bái sám theo thiền môn, nuôi dạy đệ tử để có người kế thừa, Ni sư luôn canh cánh tu sửa ngôi Tam bảo và chăm lo cho Phật tử, cho người nghèo khổ, hạnh Ni sư luôn luôn hoan hỷ bao dung. Nụ cười không bao giờ tắt trên môi, miệng nói tay làm theo Tổ đức: Một ngày không làm là một ngày không ăn.
Than ôi, nghiệp trần đã mãn, những tưởng Ni sư nương chiếc thân tứ đại giả hợp làm thuyền từ chở mình độ người đến bến bờ an lạc, đồng thời sách tấn hàng môn nhơn đệ tử. Đó là đạo phong, đức tính và việc làm của một xứ giả Như lai. Nào ngờ bệnh duyên trầm trọng, Ni sư phải giã từ cõi thế về với Phật ở tuổi trung niên vào ngày mùng 5 tháng 11 năm Đinh Hợi (2007) thọ 71 tuổi và 32 Hạ lạp.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản