Ni trưởng Diệu Trí (1907–2010)

Ni trưởng Diệu Trí (1907–2010)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Ni trưởng thế danh Hồ Thị Trâm, sinh năm Mậu Thân (1907), tại làng Lâm Cao, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Ni trưởng là trưởng nữ của cụ ông Hồ Văn Kỳ và cụ bà Nguyễn Thị Kim Lăng, sinh ra trong một gia đình danh Nho, nhiều đời quy ngưỡng Phật pháp.

Ni trưởng xuất thân từ một gia đình có truyền thống thâm tín Phật pháp, lại sớm có chí nguyện hướng vọng tuệ giác Phật-đà, học theo hạnh nguyện thượng cầu hạ hóa. Nên trong thuở thiếu thời, vào năm 1926, nhân đọc tác phẩm: “Đại quan Phật giáo” của cụ Phạm Quỳnh, nên đã thấm nhuần thêm diệu lý Tứ đế, soi sáng được cội nguồn của nhân sinh, và tỏ rõ bờ mê bến giác. Do vậy, ước nguyện xuất trần lại thêm kiên cố.

Đến năm 1932, khi cơ duyên nhập đạo chín muồi, lại được sự khích lệ cho phép của hai  bậc sinh thành, Ni trưởng quyết chí xa lìa cuộc thế, tìm đến chốn tòng lâm để xin xuất gia học đạo với Hòa thượng Huệ Minh, trú trì Tổ đình Từ Hiếu, thuở bây giờ.

Sau khi được Bổn sư cho thế độ, Ni trưởng lại càng tính tấn tu học, chuyên cần công phu thời khóa, chấp lao phục vụ và nghiêm giữ thanh quy của chốn thiền môn. Đặc biệt là Ni trưởng tu tập pháp môn niệm Phật tam-muội và trì tụng kinh Pháp Hoa mỗi ngày. Nhờ sự tinh tấn tu học như vậy mà một năm sau, tức năm 1933, Ni trưởng đã được Bổn sư cho thọ Sa-di-ni giới, với pháp danh Trường Khương, hiệu Diệu Trí, và hai năm sau, tức năm 1935, lại được trao truyền Thức-xoa-ma-na giới. Từ đó, giới thân, huệ mạng đã khai sinh một đời Thích Nữ, hương vị thiền thấm đượm thân tâm.

Cùng với sự lãnh thọ giới pháp này, Ni trưởng được Bổn sư ban cho một thảo am bên cạnh Tổ đình để lưu trú tu học (tức là tiền thân của chùa Diệu Nghiêm ngày nay). Do cơ duyên đó, Ni trưởng đã đưa Từ mẫu của mình cùng vào lưu trú để sớm tối phụng dưỡng và nương tựa bóng Phật-đà.

Rồi theo năm tháng, ngôi thảo am này đã được Ni trưởng dày công vun bồi, xây dựng thành ngôi bảo điện an tịnh và khang trang như chùa Diệu Nghiêm  hiện nay.

Năm 1939, Bổn sư thế độ của Ni trưởng là ngài Huệ Minh viên tịch, Ni trưởng lại cầu xin Hòa thượng Chơn Thiệt, trú trì Tổ đình Từ Hiếu, làm Bổn sư y chỉ để được tiếp tục nương tựa tu học. Đến năm 1944, Ni trưởng được sự hứa khả của Bổn sư y chỉ đến cầu lãnh thọ Cụ túc giới với Hòa thượng Giác Nhiên, trú trì Tổ đình Thuyền Tôn lúc bây giờ.

Thế là sau bao tháng ngày cần cầu tu học, giới thể đã viên mãn, Ni trưởng vị Thầy đạo hạnh xứng đáng làm khuôn mẫu cho Ni chúng trong vùng. Cũng trong năm này, sau khi đã lãnh thọ giới pháp đầy đủ, Ni trưởng được Bổn sư y chỉ chính thức giao làm Trú Trì chùa Diệu Nghiêm để tiếp nối ngọn đèn thiền, và làm cơ duyên cho đời y chỉ.

Sau khi đã lãnh thọ giới pháp đầy đủ, Ni trưởng đã xin vào Ni trường Diệu Đức để cầu học Luật với Hòa thượng Đôn Hậu, và Hòa thượng Trí Thủ là những bậc Luật sư danh tiếng của chốn thiền môn xứ Huế lúc bấy giờ. Nhờ cơ duyên đó mà Ni trưởng đã có được sự am tường và hành trì hết sức nhuần nhuyễn và sâu sắc về Luật tạng nói chung và Yết-ma bản bộ nói riêng.

Công hạnh của Ni trưởng trong chí nguyện thượng cầu hạ hóa, được thể hiện trên nhiều lãnh vực khác nhau. Điều rõ nét nhất là, với chiều sâu trì và hành Luật tạng thông suốt, Ni trưởng đã sớm tham gia vào công việc truyền trao giới pháp trong các Đại Giới đàn của Ni bộ Thừa thiên.

Ngay từ những năm đầu của thập niên 50, Ni trưởng đã được cầu thỉnh làm Tôn chứng sư tại Đại Giới đàn Báo Quốc năm 1953, và kế tiếp là Đại giới đàn Vạn Hạnh năm 1965. Rồi những Đại Giới đàn được tổ chức sau đó, từ năm 1977 cho đến năm 2005 tại các Tổ đình của Thiền môn-Huế, Ni trưởng đã được Ni bộ cầu thỉnh làm Giáo thọ, Yết-ma A-xà-lê hay Đàn đầu Hòa thượng Ni trong việc truyền trao giới pháp cho Ni chúng hậu học để kế thừa mạng mạch Phật pháp và xưởng minh Tỳ-ni Thánh tạng. Và với tâm nguyện này, Ni trưởng đã tuần tự gánh vác những trọng trách khác có liên quan mật thiết đến giới luật và thanh quy cùng mạng mạch thiền môn của Ni bộ Thừa Thiên. Trong những năm đầu của thập niên 70, Ni trưởng được Ni bộ cung thỉnh đảm nhiệm chức vị Giám sự của Ni bộ Thừa Thiên; nữa thập niên 80, Ni trưởng được Tăng Ni Ni bộ tấn phong chức vị Ni trưởng, kiêm Trưởng ban Ni bộ của Ni bộ Thừa Thiên. 

Bên cạnh sự nghiệp xương long Luật tạng, truyền trao mạng mạch Phật pháp, Ni trưởng còn tận tâm với các Phật sự khác trong tâm nguyện Hoằng pháp lợi sanh và nhất là những Phật sự có liên quan đến giáo dục và đào tạo thế hệ hậu học. Khi trường Trung cấp Phật học được thành lập tại tỉnh nhà, Ni trưởng được Giáo hội mời đảm nhiệm chức vụ Phó Hiệu trưởng. Rồi Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế ra đời, Ni trưởng được Ban Giám hiệu mời đảm trách chức vụ Trưởng Ban Bảo trợ cho Học viện ngay từ khóa học đầu tiên. Song song với những Phật sự này, Ni trưởng còn mở trường Mẫu giáo cho trẻ em nghèo, thất học, và tham gia công việc cứu tế thiên tai, trong ý nguyện cứu khổ, ban vui cho đời.

Một đời công hạnh của Ni trưởng còn thể hiện qua việc nhiếp hóa Ni chúng nói chung và môn đồ đệ tử nói riêng. Trong vị thế là Trưởng Ban Ni bộ hay Giám sự của Ni bộ Thừa Thiên, Ni trưởng luôn từ hòa, an tỉnh và thân cận với Ni chúng, nhưng lắm lúc Tăng sự hữu duyên, Ni trưởng thường tri cơ và từ tâm để vận dụng Pháp: Khai-giá-trì-phạm ngõ hầu dìu dắt những căn cơ dị biệt cùng được quy về giác lộ. Chính nhờ thấm đượm từ tâm và sự tri cơ nhuần nhuyễn như vậy mà Ni trưởng đã thiết thân góp phần xiểng dương thanh quy và giới luật, làm nền cho sự an tịnh của chốn thiền môn, mặt khác cũng rộng tạo thiện duyên hóa độ cho hàng Thích Nữ hậu học.

Đối với môn đồ đệ tử, tuy Ni trưởng có phần từ ái và thân cận hơn nhưng sự nghiêm trì lại càng nhiều, nhất là oai nghi tế hạnh và thanh quy giới luật, Ni trưởng vừa từ ái, vừa nghiêm khắc chỉ dạy thật chi li và thấu đáo, từ các điệu sơ tâm nhập đạo cho đến các đệ tử đã trưởng thành. Ni trưởng luôn căn dặn: “Giới luật là thọ mạng của Pháp”, nên tự thân Ni trưởng là tấm gương sáng cho hàng đệ tử trong việc nghiêm trì giới luật thiền môn, nhất là phụng hành trì pháp: “Bát kỉnh thí y”, và sự chuyên nhất trì tụng kinh Pháp Hoa và pháp môn niệm Phật cho đến trọn đời. Đó là những bài học thân giáo và vô ngôn của Ni trưởng hết sức sâu lắng nhưng cũng thật gần gũi, thiết thân đã khắc sâu trong tâm tư môn đồ, và đã nuôi lớn giới thân, huệ mạng cho hàng đệ tử. Nếu nói về Sư trưởng thì có thể nói rằng: Đức lớn trong sự nghiệp hóa độ chung của Ni trưởng mãi tỏa sáng và che chở hàng đệ tử là đây vậy.

Bên cạnh việc chỉ dạy pháp hành trì, tu tập, Ni trưởng cũng luôn khuyến khích đệ tử trong việc cầu học: Phật học cũng như thế học. Nhất là đối với các đệ tử có đủ duyên lành tiến xa trong học thuật, nhờ Ni trưởng đã hết lòng khích lệ nên một số đệ tử đã hồn tất được chương trình cao nhất về Phật học cũng như thế học ở trong và ngồi nước.

Người xưa thường cảm thán: “Thâm sơn tự hữu thiên niên thọ, thế thượng nan lưu bách tuế nhân”, những Ni trưởng đã bước qua thời điểm của bách tuế là điều hy hữu của một kiếp nhân sinh. Điều vi diệu hơn là sự tận tâm, tận lực của Ni trưởng trong công hạnh hoằng pháp nói chung khi tuổi thọ đã một trăm lẽ và thân ngũ uẩn đã suy yếu nhiều theo năm tháng. Nổi bậc hơn hết là Ni trưởng, dù tuổi thọ đã cao như vậy, nhưng không từ lao nhọc, già yếu mà vẫn từ bi hứa khả sự thỉnh cầu của Ni bộ đảm nhiệm chức vụ Đàn đầu Hòa thượng Ni trong đại giới đàn Thiện Siêu, tổ chức tại Tổ đình Thuyền Tôn năm 2005, để truyền trao giới pháp cho thế hệ Ni chúng hậu học, làm nối tiếp mạng mạch Phật pháp cho đời.

Rồi như điềm báo trước cơ duyên hóa đạo đã mãn khi tuổi thọ đã ngồi bách tuế, và như một sự an bài sau cùng cho Bổn tự và môn đồ trước khi trở về cõi tịnh, Ni trưởng đã cung thỉnh các bậc Tôn túc thuộc Tổ đình Từ Hiếu để chứng minh việc cung an chức sự cho Chùa Diệu Nghiêm. Ngôi chùa vốn là ân đức của thầy Tổ đã ban cho Ni trưởng để lưu trú và tu học từ những ngày đầu sơ tâm nhập đạo, cũng là nơi mà Ni trưởng nuôi dưỡng và giáo hóa đồ chúng, và đã dày công lao khó nhọc để xây dựng thành ngôi bảo điện trang nghiêm như ngày nay. Phật sự đó như là một an bài tối hậu vậy, rồi Ni trưởng đã an tường xả bỏ báo thân để trở về cõi tịch diệt vào tháng 2 năm 2010 (Canh Dần), trụ thế 102 tuổi,  và 66 Hạ lạp.

Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản

Chấm điểm
Chia sẻ
Ni truong dieu tri 1907 2010

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)