Bậc tôn thần theo bản chính của Lễ bộ triều ta.
Xưa, nước Nam Việt cơ đồ nối truyền, cho tới thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương khoảng 340 năm, trải đến nước Nam từ Đinh, Lê, Lý, Trần, bốn đời khai sáng hồng đồ đều là bậc anh quân xuất thế. Bấy giờ có thơ ca ngợi rằng:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Nhược tồn Bắc khẩu lai xâm phạm,
Duy uống đồ lao thủ tán hư.(Núi sông nước Nam vua Nam ở,
Rành rành phân định tại sách trời.
Ví còn giặc Bắc sang xâm phạm,
Duy uổng công lao thất bại thôi).
Lại nói, bấy giờ triều Lý vận cùng, thế nước cáo chung, truyền đến Lý Huệ Tông (1211 – 1224) kế vị, không có hoàng tử nam chỉ có hai người con gái. Cô con gái thứ nhất hiệu là Phật Kim công chúa, là bậc nữ tài giỏi, thông minh trí tuệ, được cả triều ngợi ca là [16] bậc nữ trung hào kiệt.
Lại nói, vào lúc đó, đời truyền ở Hồng Thị, phủ Thượng Hồng1, quận [Hải] Dương, có gia đình họ Đoàn, húy là Quang, người vợ là Trương Thị Ban. Hai vợ chồng rất mực hiền từ, chất phác, tạo phúc làm việc nhân nghĩa, chẩn cấp người nghèo, nuôi dưỡng người giả. Nhà cửa giàu có được coi là bậc anh hào tích thiện trong làng, cả quận, huyện đều biết tiếng. Hai vợ chồng ông bà lúc tuổi cao mới sinh được hai đóa lan hương (tức hai cô con gái-ND) mà chưa thấy một cành quế ngát (chưa có con trai-ND). Bấy giờ, ông đã hơn tuổi “bất hoặc” (tuổi 40-ND), bà cũng xấp xỉ tuổi đó mà hai ông bà chưa thấy giấc mộng ngõa chương, điềm lành phi yến (tức điềm có con-ND). Ông trong lòng trăn trở, thường than thở với bà rằng:
– Người xưa có câu: “Nhân sinh hữu tử, thử hiếu vi đại” (Người ta có con trai, đó là điều hiếu lớn nhất). Như nay ta tuổi cũng đã gần nửa cuộc đời mà còn chưa được mụn con trai vui vầy dưới gối. Thấy đời trước cũng thế, đều giầu có phúc hậu, đến như bà cũng là người có lòng từ bi, hòa thuận [2a] hơn người vậy mà cho đến nay không có con trai, lòng ta ngày tháng âu lo, trong dạ không thể nguôi ngoai, không lấy một ngày thanh thản.
Bà đáp:
Tôi cũng nghĩ rằng, con người ta có nhà vàng, kho ngọc nhưng được mất thất thường cũng chỉ là chuyện vô ích mà thôi. Nhưng nếu có con trai thì muôn sự cũng có thể coi là đầy đủ. Con người sống trên đời này, tuy nói tích thiện, nhưng có nhiều sao chẳng muốn mất lấy một. Chẳng bằng đem phân tán gia tài, gắng sức tích phúc, làm điều nhân thiện. Thảng hoặc đạo trời chứng giám mà ban cho cậu con trai, lẽ nào chẳng được phúc đó sao. Nếu gia đình ta mạt vận là do trời định, ắt cũng của báu ngàn hòm cũng đành bỏ lại nơi trần thế. Cũng có ích gì đâu. Chẳng bằng khắc cốt làm phúc, dốc chí làm điều nhân, còn việc được hay không thế nào, đều cậy nhờ vào trời đất.
Từ đó ông dốc lòng làm phúc. Bấy giờ ở khu đất trại gần đó, đất bỏ hoang, nhiều nấm mồ không ai thừa nhận. Ông [26] bèn bỏ của cải, mua hơn ngàn quách nhỏ về để cải táng, tìm nơi đất tốt để mai táng, làm lễ chiêu hồn các vong linh. Lập đàn cầu cúng 21 ngày đêm, tổn phí không biết bao mà kể. Ông lại bỏ tiền xây dựng lại cầu quán, đúc chuông tạo tượng, không có nơi nào là không tu sửa. Tất cả đều được ông công đức, khiến gia tài khánh kiệt, đồ dùng hàng ngày chẳng đủ, nhưng cậu con trai điềm nhiên vẫn chẳng thấy đâu.
Ông nghĩ: Con người sinh ra ở đời này, chẳng qua cũng quy cả vào số trời, tuy cầu phúc đức những cũng khó đạt. Ta vì tạo phúc làm điều nhân đức để cầu con trai, đến nay lâm cảnh nghèo túng đến thế này chẳng qua cũng là mua việc mà thôi, không có lẽ tất cả cũng đều uổng phí.
Từ đó ông bèn nhàn du sơn thủy. Có lần, đang ở quê nhà, ông bèn xuất du đến chùa Tây Thiên2. Lúc đó ở chùa đang mở hội, nhân dân khắp nơi trong thiên hạ [3a] đều đổ về tham gia lễ hội. Ông vào chùa, bước vào Tam bảo, trước Phật làm lễ, nhân đó cũng muốn cầu đảo điều ông bà mong đợi bấy lâu. Sau khi hội kết thúc, ông trở lại, mới đi đến địa phận trong tổng, giữa đường bỗng gặp cụ ông váy áo lam lũ, trông như người hành khất, mụn nhọt lở loét cả chân tay đang nằm ốm ở giữa đường. Ông thấy cụ ông khổ sở, yếu ớt đến như vậy, ông bèn tới hỏi thăm rằng:
– Cụ ở nơi nào mà sao nằm ốm giữa đường thế này. Tôi trông thấy cụ không nỡ bỏ đi không hỏi. Nếu cụ bằng lòng, tôi sẽ đón cụ về nhà nuôi dưỡng thuốc thang. Cụ thấy thế nào.
Ông già lập tức trả lời:
– Ngài có tấm lòng như thế, già này hẳn được nhờ cậy. Lão năm nay đã ngoài 90 tuổi, hơi sức chẳng còn, lại bệnh tật ốm yếu, không thể cất bước mà về cùng ngài được.
Ông nghe thấy thế lập tức đưa vai ra rồi bảo cụ già bám lấy để ông cõng đưa về nhà. Ông cụ bèn theo ông về. [36] Về đến nhà, ông cho cụ nằm nghi, rồi chăm nom nuôi dưỡng thuốc men cho cụ. Được ba, bốn tháng, hai vợ chồng chăm chỉ trông nom ông cụ, nhờ thế bệnh tình của cụ già cũng thuyên giảm. Lúc đó cụ già bảo rằng:
– Hai vợ chồng ông họ Đoàn thật có đạo tâm, vất vả khổ sở chăm sóc bệnh cho lão. Nay bệnh đã thuyên giảm, không biết lấy gì để báo đáp. Ta nay ít nhiều cũng biết xem đất. Thấy ông có lòng thành mà gia cảnh lại nghèo khổ. Ta nay muốn giúp tìm để ông thoát cảnh nghèo, báo lại tình cảm của ông đối với lão. Ông xứng đáng được như thế.
Nghe ông già nói vậy, ông liền thưa rằng:
– Nhà con vốn là hào phú giàu có nổi tiếng, nhưng muốn làm phúc để cầu con trai, nhưng con trai chưa thấy mà gia tài đã phân tán hết nên mới nghèo thế này. Nay xin đa tạ tâm đức lão ông tìm cho ngôi đất phú quý, nhưng nếu không có người thì tài sản không phải là ý nguyện, việc đó chớ nên làm.
[4a] Cụ già nghe nói thế bèn cười bảo:
– Muốn tìm “tử cục” (ngôi đất có con) thì còn tùy thuộc vào bước chân của ta. Ta dẫn đi xem ắt sẽ tìm được ngôi đất đó.
Ông nghe thấy cụ già bảo thế bèn nghe lời theo đi xem. Lúc đó cụ già mới đi được khoảng 10 dặm, đến bờ sông bên mé hữu trại Hồng Thị thì thấy có gò đất, bốn bề nước chảy bao quanh, hai bên tả hữu, ngọn sao ứng đối, thế rồng hỗ ôm nhau, phía sau gối lên các dãy núi cao. Lão ông bèn lấy cây gậy trúc chỉ vào trong khu đất đó, rồi ngoảnh mặt lại bảo ông rằng:
Chim muông, cầm thú, lại có nước bao quanh. Trước có khúc gỗ ở hai bên tả hữu với thế “tả đao hữu bút” (trái là cây đao, phải là ngọn bút), bách nghệ công thương (trăm nghề buôn bán). Lại có trứng rồng vào ấp nơi đầu, thiên địa an bài ắt là ngôi đất quý. Nay đợi họ Đoàn hưởng phúc. Đặt tại nơi chim ưng đứng, tọa chính huyệt hướng Quý. Lão ông xin báo đáp.
Trời đất bỗng tối sầm, đâu đâu cũng tối đen như ban đêm, rồi tự nhiên trời bừng sáng, không thấy lão ông đâu nữa. Ông [4b] thấy cụ già biến mất, trong lòng vô cùng kinh ngạc. Bấy giờ mới biết cụ già nếu không phải Phật cũng là thần. Ông cho rằng phúc nhà đã tới bèn lập tức trở về di dời mộ song thân đến táng ở ngôi đất đó. Việc phần mộ xong xuôi ông bèn làm lễ tạ báo việc đã xong. Sau hơn 100 ngày, thái bà đi du chơi ở trước đình, buổi chiều hôm đó gió xuân nồng ấm, trăng sáng đầy trời, thái bà ngồi trong sân ngắm trăng, ngừng mặt lên trời, bỗng thấy có ngôi sao từ trời giáng xuống, trăm ánh hào quang đi thẳng vào miệng rồi biến mất. Từ đó thái bà cảm động có thai. Đến mãn kỳ, vào ngày mồng 5 tháng Giêng năm Đinh Dậu, thái bà sinh được cậu con trai, dáng vẻ đàng hoàng, mặt vuông tai lớn, mắt sáng mày thanh, thân thể cân đối, vẻ khôi ngô kỳ dị hơn vạn vạn người bình thường. Sau trăm ngày cha mẹ đặt tên [5a] là Thưởng Công Dưỡng Dục. Đến khi lớn lên vào năm ông 11 tuổi, tức vào ngày mồng 2 tháng 12, người cha mất. Vào năm ông 13 tuổi, năm đó vào ngày 10 tháng 7 bà mẹ ông qua đời. Ông bèn làm lễ an táng cha mẹ.
Từ đó ông sống nhờ ở nhà cậu ruột. Ông cậu vô cùng yêu mến ông, coi ông như con đẻ, cho ông vào học ở thày họ Phan, mới được vài năm, nhưng nhờ học lực trời cho, bản tính thông minh, anh tài trí tuệ, văn chương như gấm thêu, tài ứng đối như nước chảy, trí tuệ thâm sâu, không chỗ nào không biết. Ông lại có tài cầm kỳ thi họa, tài trí hơn người. Nhưng than ôi, quân tử đa truân, lại đến người cậu mất. Từ đó ông bỏ học nghiệp, đi ngao du bốn biển, lấy học trăm nghề làm kế nuôi thân. Trải qua bốn, năm năm, ông không ở yên chỗ nào. Đến năm 18 tuổi, ông học trăm nghề, chẳng có nghề nào không tỉnh thông. Bấy giờ ông bèn đến Trường An (xưa [5b] thời nhà Đường là thành Đại La, đến thời nhà Lý gọi là Trường An-NC), xuất thân làm nghề thủ công, không có nghề nào là không tinh xảo. Các thợ nghề ở đất Trường An ai cũng kính phục.
Bấy giờ ông thường tới khu3 phía tây nam thành (Bấy giờ triều Lý lập kinh đô Trường An từ Từ Liêm cho đến Quảng Đức, Thọ Xương của phủ Phụng Thiên đều thuộc trong thành-NC), những nhà thợ dệt lành nghề đều đến cùng tụ họp làm nhà ở khu đó. Chỉ có ông tay nghề giỏi nên thường lưu lại dạy nghề cho mọi người. Mới được 1 năm, mọi người làm nghề ở tứ xứ nghe tin ông tay nghề tỉnh thông, đại tài bèn kéo tới khu đó để xin học. Lúc đó ở phố đó còn có cả văn nhân văn chương thâm sâu uẩn súc cũng tới xin được ông mở mang dạy cho con em họ tại phố đó. Từ đấy, ông trở thành người thày mô phạm những đứa trẻ lớn lên ở phố, không có người nào không tôn kính ái mộ ông.
Lại nói bấy giờ trong phố có gia đình họ Nguyễn húy là Diệu, vốn người Ái châu4[6a] ra ở Trường An làm ăn buôn bán, làm nhà ở phố đó. Người vợ là Mai Thị Huyện. Hai vợ chồng nhất mực chất phác, rộng lòng công đức. Bấy giờ ông đã 40, thái bà 39 tuổi. Một hôm, thái bà nằm mơ mình bước lên đài mây, thấy bầy tiên đang mở hội dệt vải. Các tiên nữ thấy thái bà bèn cho một mảnh vải gấm lụa, thái bà cầm lấy mảnh lụa rồi trở về, mơ tới đây bỗng nhiên tỉnh giấc. Từ đó có thai, đến ngày mồng 8 tháng 3, năm Bính Thìn, sinh hạ được một cô con gái, mặt tựa hoa nở, da trắng như đóa phù dung, mày thanh mắt sắc, dáng vẻ dị kỳ, chẳng có cô gái nào sánh được. Được trăm ngày, bà mẹ nhân giấc mơ điềm báo bèn lệnh đặt tên cho con gái là La Nương.
Đến năm 18 tuổi, La Nương nhan sắc nghiêng thành, thân thể thơm ngát, văn học tỉnh thông, giỏi dệt hoa gấm các màu, các nghề vá may, nữ công, nghề nào cũng giỏi. Về đường ăn ở cũng nết na [66] hiếu nghĩa, tứ đức tam tòng, chưa từng một lần để mất. Buồng xuân cẩn thận, giữ gìn ngọc nhụy đương phong. Nhà có mảnh ruộng xanh, một ống phong thơ, tin nhạn báo đi, các bà mối nghe tin tìm đến, hết ngày này sang tháng khác. Trước cửa nhà, xe ngựa dập dìu, không ngày nào không có người tìm đến. Người được điểm này, người mất điểm kia, chưa ai vẹn toàn tài đức, cô chưa đồng ý lấy ai, sớm chiều không dời buồng khuê, chăm chỉ nghề may dệt. Cô bỗng không muốn lấy chồng, cho rằng đó là do trời đã định, không phải việc do người quyết định.
Bấy giờ, ông nghe nói trong khu đó có nhà họ Nguyễn, con gái tài danh, là bậc văn nhân tài tử, bèn nhờ người mai mối, nhưng không lấy được. Ông nghĩ rằng, bao nhiêu bậc công hầu xe ngựa tới hỏi mà còn chẳng được, huống hồ là mình. Vả lại chuyện “ngẫu nhiên mà có”, đó là lý lẽ thường thấy. May mà duyên trời se cho, 3 năm [7a] hương hỏa lẽ nào ý không toại, chẳng bằng tự tới hỏi xem. Nhân đó ông bèn mua lễ vật tới hỏi, cho vài đứa trẻ mang tới cùng ông đi hỏi vợ. Ông họ Nguyễn nghe nói ông là bậc tài tử nổi danh, ý muốn gả con gái cho nhưng vẫn muốn xem ý con thế nào bèn vào hỏi, La Nương là người hiếu thuận muốn báo đáp ơn cha nên cũng thuận lòng nghe theo, bèn nhận vấn lễ, định ngày sính lễ, mọi việc đều đầy đủ hoàn thành. Ngày hôm đó ông đón dâu về học sở. Từ đó “Quan thư cùng hợp, loan phượng duyên hài”, quân tử thuyền quyên đều xứng ý. Từ đó tình cảm nồng cháy, ngày tháng thêm xuân.
Lại nói, nước nhà mở khoa thi kén người hiền, tuyển nhân sĩ, vua cho truyền hịch khắp trong thiên hạ thần dân. Nhân sĩ các nơi đều tới kinh thành hội thí. Ông nghĩ, nhiều năm lưu lạc giang hồ, theo làm nghề, chuyên cần, ăn nói hoạt bát mà lơ đãng nghiệp văn chương. Đến nay khoa cử đến kỳ, muốn vào thi nhưng e văn chương không đủ. Vả lại là bậc nam tử [76] mày râu, thành bại là chuyện thường tình, huống hồ một lần dự thi. Ngày hôm đó ông bèn nhập trường ứng thí, đỗ luôn cả tứ kỳ, đứng đầu bảng nguyên. Vua bèn cho giữ chức Thị độc ở Viện Hàn lâm, được vài năm đã làu thông sách vở, không để sót một chữ. Vua lấy làm may mắn, phong cho làm Hộ bộ Tả thị lang5. Lúc đó vua có hịch truyền tuyển các thợ nghề mộc, thợ nề, tu sửa chính ngự lầu rồng cùng gác thưởng nguyệt. Lại cho tu sửa chính điện ở núi Nùng, đài sen Quan Âm ở chùa Báo Thiên6. Lại cho tu sửa chùa Cổ Pháp, chùa Long Tiên ở huyện Tiên Du, Từ Sơn, Kinh Bắc7; chùa Tiêu Sơn, Trường Liệu ở huyện Yên Phong8. Cho xây dựng mới lầu rồng gác nguyệt. Bấy giờ thợ mộc thợ nề ở các nơi đều tề tựu ở kinh thành thi nghề.
Lại nói bấy giờ, ông xin với vua cho quản lý các công việc tu sửa. Vua đồng ý. Ngày hôm đó, ông bèn cùng [8a] các gia thần, thợ nghề tập trung, làm một ngôi chính điện lầu rồng ở khu vực nhà ông trên khu phố tây nam, cùng gác thưởng nguyệt. Ông lại cho tu bổ các chùa, chỉ trong 5 tháng các nơi đều hoàn thành, được khen rất tinh xảo. Vua rất khen ngợi, lập tức cho phép ông làm Chưởng quốc công Công bộ9, lại cho phép gia thần ở phố đó, lệnh rằng:
– Phường Bộ Công đều là đất thang mộc, làng ấp ở đó đều được miễn binh lương.
Lại thưởng cho 200 lạng vàng, cùng 2000 mảnh gấm lụa, cho binh sĩ voi ngựa đưa về bản quán bái yết gia đường. Ông bèn nhận mệnh làm lễ bái tạ bệ hạ. Ngày hôm đó cử giá tiến binh, đưa vợ chồng ông về quê quán (tức trại Quyết Thị-NC). Ngày hôm đó tức ngày mồng 1 tháng 11, nhân dân làm lễ bái hạ chúc mừng. Ông vào gia đường làm lễ bái yết tiên tổ. Việc xong, lại mở yến tiệc ăn mừng trong 3, 4 ngày. Nhân dân phụ lão đều vui vẻ [86] dự yến tiệc. Ông bèn lưu binh sĩ tu sửa gia đường mất hơn 3 tháng, sau đó lại cử giá trở lại kinh đô, lập tức cho lập cung doanh tại phường Bộ Công (xưa thuộc đất phố tây nam). Địa thế đất ấy một dải rồng đi, giống như hình con thằn lằn, nước chảy xung quanh, trước là dòng nước, sau là bãi cát, có 3 sao án bút, 7 sắc bao quanh; sông nhỏ xa ứng bên ngoài. Ông thấy ngôi đất bên phải giáp giới phương “Hợi Tý”10, phía trước đầu bên trong đều tựa như chim phượng, nước chảy vào bên trong tạo thành vùng trũng, phía trước là một ngôi từ đường. Hai bên dãy núi cao, từng lớp bao bọc. Ông bèn truyền lệnh dựng một khu cung doanh, cho phu nhân lưu lại ở đó, rồi trở về đóng ở cung nơi xa giá ở bản phường gia thần. Ngày hôm đó, (tức ngày mồng 10 tháng 2-NC), gia thần phố ta phụng mệnh tu sửa. Việc xong bèn làm lễ bái chúc mừng. Ông liền bái yết ngoại đường. Sau đó, lại xin mở yến tiệc ăn mừng trong ba ngày để gia thần trong phường cùng hưởng lạc. [9a] Mọi người đến dự đông đủ, ông bèn thưởng cho các gia thần vàng bạc tiền của đến hơn ngàn lạng. Gia thần đều phụng lãnh tu sửa, việc xong ông lại cho mở yến tiệc.
Ngày hôm đó, ông phụng mệnh vào triều bái yết bệ hạ. Từ đó ông làm việc ở triều đình, được hơn 1 năm, lúc đó lại có đợt tuyển nữ tài, tỉnh thông văn tự, lại giỏi nghề thêu dệt vào triều để dạy cho hai cô công chúa và con gái của bách quan. Bấy giờ đình thần ai cũng nghe nói vợ ông là La Nương phu nhân giỏi nghề dệt vải, lại tỉnh thông văn tự, bèn lập tức dâng tấu lên vua. Vua nghe nói bèn triệu vào trước điện đình, hỏi văn chương và tay nghề dệt vải thì quả đúng như lời tấu, mọi việc đều rất tỉnh thông. Vua bèn xuống chỉ lập tức phong cho là Thụ La công chúa, sai dạy chữ và dạy nghề dệt vải cho các vương nữ cùng con gái trăm quan. Từ đó, vợ chồng cả hai người đều vinh hiển. Vua càng cảm thấy [96] vô cùng may mắn. Bấy giờ ở phường Bộ Công, gia thần ngày càng thêm đông, thêm hưng thịnh, các thợ thủ công khắp trong thiên hạ đều tới xin làm gia thần, ai cũng đều được quý hiển, sung túc giàu có, các dòng tộc đều được hưởng ơn sủng lộc nước. Lúc đó ở phường Bộ Công có các họ như họ Nguyễn, Lê, Phạm, Trần, Bùi, Vũ, Dương, Đỗ, Triệu, Hoàng, Trương… đều được coi là tôi con. Mọi người đều nhờ vào công giáo hóa nên người của ông, không có ai không thấy toại nguyện, chẳng có vật nào không được nuôi dưỡng yên ổn. Các vị cai quản tông tộc ai nấy đều quý hiển ở triều đình. Bấy giờ có con của Thân Bá công tên là Đoàn Công, được vua phong là Hữu dục nguyên soái tướng quân.
Lại nói ông làm việc ở triều đình được ba, bốn năm, vua bèn cho đi nhậm chức Đốc lãnh 2 đạo Hoan châu11 và Ái châu12. Tướng quân Công Bạ Hầu công phụng mệnh đến làm quan mới được 2 năm, lúc đó chúa Chiêm mang binh sang xâm lược, ngầm cướp phủ Cao Bằng, đất hai châu là Ái châu và Bố Chánh cũng bị giặc chiếm, tất cả đều trở thành đất đai của chúng. Vua bèn mệnh cho ông làm Đốc lãnh Hoan châu, Thưởng công cũng đem binh đi đánh. [10a] Ông bèn tâu xin đi đánh một trận, quân Chiêm đều thất bại, phải bỏ chạy, chém được hơn 5 đầu giặc, số còn lại đều ra hàng. Quân giặc không đánh mà tự dẹp yên. Ông bèn dâng biểu tâu xin với triều đình. Vua nghe tin, lập tức hạ chiếu cho ông về triều. Ông bèn phụng mệnh cho quân trở về triều bái yết vua. Từ đó, vua tôi hiệp đức, thiên hạ thanh bình. Ông ở triều làm cảnh vệ bên vua
La Nương phu nhân dạy dỗ các vương nữ, ai cũng trở nên tài giỏi. Lúc đó vua Lý Huệ Tông không có con trai kế vị, vua tuổi đã cao mà không có con trai nối ngôi nên cho con gái thứ nhất là Phật Kim công chúa lên nối ngôi làm Chiêu Hoàng nữ quân. Chiêu Hoàng tuy là phận gái nhưng thông minh tài trí, nam giới cũng không theo kịp. Bấy giờ vua cho phép Tể phụ Quốc chính Trần Thủ Độ phò tá Chiêu Hoàng. Tất cả đều là bậc lương thần tuân theo lệnh vua. Khi con gái lên nối ngôi trị vì quốc chính [106] ông bèn xuống tóc xuất gia cửa Phật. Từ đó họ Trần hoàn toàn nắm quyền chuyên chế. Đến khi cháu của Trần Thủ Độ là Trần Chiêu vào giữ chức Nhập thị kinh diên, Chiêu Hoàng thấy nhan sắc diện mạo sáng như ngọc, thầm nghĩ đây không phải là người bình thường, lửa lòng lay động, đem lòng yêu mến, bèn sai lấy chậu nước cho phép cùng sống với Trần Chiêu. Từ đó nhân duyên hòa hợp, Chiêu Hoàng bèn nhường ngôi cho chồng là Trần Chiêu (hiệu là Trần Anh Tông)13.
Chẳng ngờ việc do trời định, cuối nhà Lý, sang nhà Trần kế vị không phải chiến tranh mà giành được ngôi vị. Lúc đó dân gian có thơ rằng:
Trần gia duy sắc tự khuynh thành,
Vạn sự do thiên khởi chiến tranh,
Để đức hoàng hoàng quang vũ trụ,
Sắc đồng nhật nguyệt phối thiên thanh.(Tài sắc nhà Trần tự nghiêng thành,
Vạn sự do trời, dấy chiến tranh.
Đức vua sáng láng ngời vũ trụ,
Sáng cùng nhật nguyệt với trời xanh).
Lại nói vợ chồng Thưởng công thấy đại thần nhà Trần tiếm ngôi, tự than thở rằng:
– Ta cùng nhà Trần đều là bề tôi phụng sự vua Lý. Than ôi, nay đạo trời khiến nhà Lý mạt vận, thế nước cáo chung. Nay nhà Trần được ngôi thì phúc nhà Lý ắt do trời định. [11a] Nay vua mất nước tan, dám đâu còn mặt mũi nào mà phụng sự, đam mê danh lợi, phế bỏ đại nghĩa mà lỡ phụ quân thần sao. Chẳng bằng từ quan nạp chức trở về, ngầm cầu anh hùng hào kiệt trong thiên hạ, nuôi dưỡng binh lương, riêng lập một phương, vua tôi cùng đồng lòng báo quốc.
Hôm đó ông cùng phu nhân từ biệt triều đình, trả lại chức tước, xin được trở về để dưỡng thân. Lúc đó triều đình bách quan làm sớ dâng tiên hoàng (tức Huệ Tông), được vua cho phép. Vua lại còn ban thưởng cho vàng bạc tiền của, gấm vóc, cho binh sĩ hộ tá trở về. Ông liền bái tạ tiên hoàng, lập tức cử giá trở về sống ở phường doanh sở tại (tức phường Bộ Công), cho tu sửa cung doanh, giao cho La Nương phu nhân trông giữ cung doanh. Hai ông bà sống nhàn nhã, vui vẻ yến tiệc, chiêu mộ gia thần phường ta (tức phường Bộ Công) được vài trăm người, được coi là chân tay thân tín, sống chết một lòng. [116] Từ đó ông cùng Đoàn Công Thượng, vốn là anh em tương thân cùng với Nguyễn Nọn cũng là người đồng mưu thuận lòng báo quốc. Ngày thường gặp gỡ thơ ca yến tiệc, vui vẻ du chơi, nhưng trong lòng đã định một ngày sẽ báo việc nước. Trong lúc vui vẻ yến tiệc, ông làm bài thơ như sau:
Thiên định sinh vi nhĩ mục nhân,
Trung ư quân giả hiếu ư thân.
Thế nhân dị đắc lưu phương xú,
Hữu thứ càn khôn hữu thử thân.(Trời đã sinh ra kẻ trọng thần,
Trung với vua, hiếu với song thân,
Thế gian ai dễ lưu danh tiếng,
Có thuở càn khôn, có tấm thân).
Lại nói, bấy giờ ông loan giá du chơi, xem xét thế sự, chiêu mộ nhân tài, sĩ tốt, phù dụ thiên hạ, được ba, bốn năm, tích trữ các đạo binh lương, ba phần trong thiên hạ đã tập trung gần được nữa. Lúc đó Thượng công nhờ các gia thần được hơn vài trăm người cho về Hồng Châu14 chiêu mộ những người quê ở châu đó, được vài ngàn người, thiết lập riêng một nơi, xưng là Đông Hải Vương. Bấy giờ Thưởng công đang chiêu mộ binh sĩ ở châu Hoan, châu Ái, bỗng thấy Đông Hải Vương sứ thần tới triệu. Hôm đó ông [12a] bèn hội binh tại huyện Yên Ninh15 được gần một ngàn người, lập tức truyền bắt lấy hơn 300 chiếc thuyền, đi theo đường biển, nhưng than ôi đạo trời khiến ra thành bại, việc hưng suy chỉ định một ngày (ngày mồng 10 tháng 9), ông tiến về mới đến con sông nhỏ Mãn Giang (bến Thanh Lũng huyện Thanh Lâm-NC), bỗng cuồng phong nổi lên, trời đất tối sầm, sóng dâng cuồn cuộn, đáy sông cuồng dâng, ầm ầm sấm dậy. Trên trời có dải mây xanh, rơi thẳng xuống thuyền của ông, làm thuyền ông tan ra, biến thành muôn mầu lấp lánh. Bỗng có 3 tiếng sấm sét, đường thủy tan tành, thuyền của ông đột nhiên chìm mất. Gia thần ở các thuyền phía trước phía sau thấy ông đã hóa. Được một lúc, trời quang mây tạnh, thuyền của ông đã chìm từ lúc nào. Mọi người thấy thế ai cũng kinh ngạc, bàng hoàng cho là việc kỳ lạ, bèn tự giải tán trở về, chỉ còn vài trăm gia thần, chia làm hai đạo, một đạo trở về [126] phường dính báo cho phu nhân, một đạo theo sứ thần trở về báo với Đông Hải Vương.
Bấy giờ Đông Hải Vương Thượng công biết tin, lòng thấy kinh hoàng, đôi mặt đẫm lệ, than rằng:
– Than ôi, nay ta đã thất thủ, việc nước ắt gian nan, đạo trời xui nên vậy. Người xưa có câu, môi còn lợi ấm, nay môi mất răng lạnh là lẽ đương nhiên. Lòng ta thật bối rối.
Lập tức truyền cho tướng sĩ đến nơi ông đã hóa ở phía đầu sông, lại truyền cho dân địa phương lập đền thờ, cấp cho 500 quan tiền cho dân chúng để làm hương hỏa thờ cúng. Quan quân phụng mệnh tiến đến nơi ông hóa, lại truyền cho dân địa phương nhận mệnh, lập tức lập đền thờ cúng.
Lại nói lúc đó phường sở tại Bộ Công, các dòng tộc gia thần chiều hôm đó đều nằm mơ thấy Thưởng công đốc thúc quan quân binh sĩ loan giá, cờ trống voi ngựa tiến về dinh sở, truyền triệu các tộc gia thần, [13a] lập tức truyền bảo rằng:
– Phúc tộ nhà Lý truyền đến đời thứ 8 vua ta là hết. Nay lòng trời đã định quy về nhà Trần, cuộc cờ đã tàn, không phải vua ta thì không thờ, vì thế Ngọc Hoàng lại triệu quay giá đăng triều cửa khuyết cung mây, vua tôi gặp gỡ nơi lầu ngọc. Nay ta đã hóa, vì thế trở lại báo cho gia thần sở tại cùng mọi người được biết. Người dân trong phường nên làm lễ bái yết.
Mọi người bỗng nhiên tỉnh giấc, biết mộng báo đã rõ ràng, đến sáng mọi người đều đến dinh sở, báo lại giấc mơ đó cho phu nhân. Phu nhân trong lòng luôn nghĩ về ông. [Bà bảo]:
Từ khi ông một lòng báo quốc, ra đi phủ dụ thiên hạ đã hơn một năm, nhưng chưa thấy quay về dinh sở, lòng ta cũng thấy nhớ nhung. Nay lại mơ như thế, thực hư còn chưa biết thế nào.
Phu nhân cùng gia thần đang bàn về giấc mộng, bỗng thấy những gia thần theo ông trở về báo tin, sớm nay ông đã hóa ở [13b] xứ bến Mãn Giang rồi. Phu nhân thấy thế kinh hoàng, hồn phách nát tan, ruột gan chín khúc rối bời, hai mắt đẫm lệ. Ngày hôm đó, loan giá đi thẳng đến nơi ông hóa đã thấy nhân dân lập đền thờ phụng. Phu nhân khóc lóc thảm hiết. Việc xong, bà lại trở về dinh. Ngày hôm đó (tức ngày 15 tháng 9-NC), phu nhân làm lễ nghiêm cẩn, cho gọi các gia thần bản phường đến bảo rằng:
– Nay ta chỉ có một mong ước, theo ông chung thủy đến cùng để bảo toàn trung nghĩa. Nay ta sống ở đời này, nhưng chẳng phải đời của ta, vua cũng không phải vua của ta; hy vọng ở người chồng nay cũng chẳng còn chồng, thật đáng thương thay, cuộc đời bể dâu cũng chỉ một ngày mà thôi. Sống thế này sao bằng cùng trở về gác vân, tái hợp cùng thuyền. Nay có vàng bạc của cải, dinh sở, mọi việc đều giao cả cho bản phường để làm hương hỏa sau này. Lẽ đương nhiên, ta cùng các ngươi muôn đời cương thường không đổi.
Phường ta nghe bà nói thế, ai cũng rơi lệ tới bái yết. Phu nhân ngồi xuống rồi uống một chén rượu độc, bà liền [14a] hóa. Lúc đó bỗng thấy tiếng mưa gió gào thét xung quanh, thân bà bỗng biến thành dài gấm hồng bay đi mất. Lúc đó gia thần sở tại ở phường ta thấy hai ông bà đều hóa, cho là việc kỳ lạ bèn làm biểu dâng tấu lên tiên hoàng (tức Huệ Tông, lúc này đã xuất gia đầu Phật-NC) và Chiêu Hoàng công chúa. Chiêu Hoàng thấy vậy cho truyền đình thần tới bản phường nơi bà hóa để làm lễ an táng, lại cho tu sửa cung dinh nơi phu nhân hóa thành lăng miếu để thờ cúng. Lại lập một đền thờ ở trên gò đất giáp giới với dải đầu rồng đeo ấn. Thế đất đó phía trước có ruộng quy điền, chim phượng giương cánh ở bên trái, sao Hỏa ứng xuất ở bên phải, mạch nước vòng quanh ôm ấp, đôi dòng giao chảy, theo hướng Tân Ất, tọa hướng Quý Định. Phường sở tại [146] phụng mệnh làm lễ an táng ở nơi bà hóa, cho dựng đền thờ, lăng miếu để phụng thờ. Các việc hoàn thành nay lại cấp cho 500 quan tiền để tế lễ, lại cho miễn binh lương cho phường ta. Mọi người đều phụng mệnh nghe theo. Ngày hôm đó Tiên hoàng bao phong cho thần, muôn đời được hưởng phúc lộc, mãi cùng đất nước, trở thành hằng thức làm thịnh mãi đức đó.
Phong cho Đương cảnh thành hoàng là Đoàn Công Bạ Đại vương.
Phong cho Thụ La công chúa.
Cho phép phường Bộ Công làm đất hộ nhi hương, mãi mãi phụng thờ.
Lại nói, từ đó cho đến 12 đời nhà Trần, cho tới triều Lê hoàng Thái Tổ (tức Lê Lợi) (1428 – 1433) khởi nghĩa Lam Sơn, với ba ngàn binh đoàn lữ hồ tiễu trừ nhà Hồ (vào cuối thời nhà Trần, trong triều, Quý Ly ngầm tiếm đoạt-NC), bình định người Minh (tức Liễu Thăng-NC), lên ngôi hoàng đế ở Lam Sơn lấy hiệu là Thuận Thiên. Lại truyền đến Thái Tông, Nhân Tông, [15a] Thánh Tông, Kính Tông, Túc Tông, Huệ Tông, Anh Tông, Yết Tông, Chiêu Tông, đại thần họ Mạc (tức Mạc Đăng Dung, vốn là đời thứ 4 của Mạc Đĩnh Chi-NC) tiếm vị, làm vương được 5 đời, cho đến Lê Trang Tông (1533 – 1548) (tức con trưởng của Chiêu Tông) cùng với đại thần Úy khởi nghĩa, tập trung quân ở nước Ai Lao. Lúc đó, Nguyễn Thái Úy mệnh cho triều thần tướng sĩ làm lễ cầu đảo bách thần âm phù trợ giúp, giúp nước đánh giặc Mạc thành công.
Lúc đó, quan quân nhà Lê tiến đến phường Bộ Công, qua nơi đây thấy đền miếu nguy nga, bèn cho binh vào đền, mật đảo cầu nguyện thần âm phù, giúp nước, khôi phục lại phúc tộ nhà Lê. Nếu được sau sẽ tâu lên vua bao phong mỹ tự, vạn cổ huyết thực, hương hỏa vô cùng.
Khấn xong, đêm hôm đó quan nhà Lê dùng binh nghỉ lại. Đến đêm, khoảng canh hai, quan nhà Lê mơ màng tự nằm mộng, bỗng thấy một quan ông quan bà, loan giá [15b] cùng binh sĩ tiến về, áo mũ chỉnh tề. Quan nhà Lê thấy vậy đứng lên hỏi rằng:
– Ông bà là quan ở đâu, tiến binh tới đây có việc gì?
Nghe thấy quan ông trả lời:
Nghe nói nhà Lê mở vận, quý quan tới triệu vì thế cùng binh sĩ trở về bái yết quý nhân, xin nguyện một lòng âm phù đánh giặc, để lập công với nước. Còn có việc gì nữa.
Quan nhà Lê chưa kịp trả lời thì tỉnh giấc, nghĩ rằng thần ở đây rất linh thiêng, bèn lập tức làm lễ bái tạ, rồi cho binh tiến về tâu lại với vua. Vua nghe tin bèn nói rằng:
– Bách thần cùng đồng lòng bảo hộ, việc nước ắt sẽ lại hưng thịnh.
Nói rồi vua cho mang binh đi đánh giặc Mạc một trận tại đất Thượng Phấn, huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai. Quân Mạc đại bại, bỏ chạy tán loạn. Trời đất tối đen, quân nhà Lê truy sát, chém được hơn ba ngàn tên giặc, máu chảy thành sông, xương chất thành núi. Ngụy Mạc [16a] chạy về đến bên bờ Bắc, tất cả đều bị đánh dẹp (nay ở đó vẫn còn tượng đá voi ngựa-NC). Trăm quan phụng nghênh vua Trang Tông về đô thành, vua lên ngôi hoàng đế. Từ đó nước nhà thanh bình, vua lại mở yến gia phong ban thưởng công lao cho các thần, cùng việc bao phong mỹ tự cho bách thần. Lúc đó vua truy phong cho đền Đại Vương ở phường Bộ Công và miếu Công Chúa, cho phép lấy phường Bộ Công là đất hộ nhi, được phụng thờ như trước.
Phong cho Đoàn Công Bạ (truy phong) là Uy linh hiển ứng phù tộ thông minh chính trực hùng đoán Đại vương.
Phong cho Thụ La công chúa (gia phong) là Trinh thục huệ hòa từ nhân đoan thuận Phu nhân.
Lại nói, từ Lý, Trần, Tiền Lê, Hậu Lê thần đều bảo vệ đất nước, giúp đỡ người dân, tỏ rõ linh ứng cho nên được các đời đế vương bao phong mỹ tự, vạn cổ huyết thực, hương hỏa đến vô cùng [166]. Quan triều Lê phụng mệnh thành kính tế lễ ở đền, có thơ tặng rằng:
Phu trung phụ tiết tử như sinh,
Sinh dã vinh hề tử dã vinh,
Vạn cổ cương thường lưu quốc thế,
Miếu đường hương hỏa phối cao minh(Vợ chồng trung nghĩa, mất như còn,
Sống vinh quang, chết cũng vinh quang,
Muôn thuở cương thường lưu thế nước,
Miếu đường hương hỏa với nước non).
Các ngày sinh, hóa của thần và các tiết khánh hạ cùng chữ húy, sắc màu, quần áo nhất thiết cấm đều kê dưới đây.
Ngày sinh của thần Đại vương, lễ chính là ngày mồng 5 tháng Giêng. Trước đó một ngày, quét dọn đền miếu, rước thần làm lễ cáo tế. Trên bày oản chay hoa quả, dưới đặt thịt lợn và các thức khác.
Toàn thôn ca xướng, đánh chen, chơi cờ trong 10 ngày, sau đó làm lễ tống tạ rồi dừng hội.
Ngày sinh của công chúa, lễ chính là vào ngày 10 tháng Giêng. Làm lễ dâng mâm cỗ chay, bánh, trà, oản quả, hương hoa. Tổ chức ca xướng.
– Tiết khánh hạ ngày mồng 10 tháng Giêng. Làm lễ trên dâng cỗ chay, trà, oản, hoa quả, dưới đặt thịt trâu, bò, lợn cũng xôi rượu. Tổ chức ca xướng trong 3 ngày.
Tiết khánh hạ mồng 6 tháng 3. Làm lễ dâng xôi thịt lợn, rượu. Ca xướng tùy theo.
[17a] Lệ nước thay đổi ngày khánh các tiết Lập xuân, Lập thu làm chính tiệc. Tổ chức lễ lớn vào tháng 2 và tháng 8.
Rước thần cáo tế. Trong buổi tế chính, có lệ tổ chức lễ mộc dục, dâng xôi rượu, tổ chức ca xướng, đánh cờ trong 5 ngày, đánh chen trong 3 ngày.
– Tiết thu ngày mồng 10 tháng 9, làm lễ dâng thịt trâu, lợn, cũng có thể là xôi, rượu, cơm trắng, tổ chức ca xướng, lễ hội trăm nghề, mỗi lễ tổ chức trong 3 ngày.
Các chữ húy:
Hai chữ Thương, Bạ nhất thiết cấm. Tên húy cha mẹ xem rõ trong các tích cũng cấm. Các màu hồng, tía, vàng khi làm lễ đều cấm sử dụng.
[176] Ngày mồng 10 tháng Giêng năm Hồng Phúc đầu (1572).
Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ thần là Nguyễn Bính phụng soạn.
Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lãnh thiếu khanh thần là Nguyễn Hiền tuân theo bản cổ phụng sao vào ngày lành tháng 2 năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737). Thư lại ở Bộ Lễ phụng chép.
Chú thích:
- Phủ Thượng Hồng: Nay là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
- Chùa Tây Thiên: Thuộc xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Nguyên văn là “khổ” ngoài nghĩa chỉ kho tàng, nơi chứa đồ vật, còn có nghĩa chỉ nơi chốn địa phương nào đó.
- Ái châu 愛州: Là tên gọi cũ của một đơn vị hành chính tại Việt Nam trong thời kỳ Bắc thuộc lần 3, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
- Hộ bộ Tả thị lang: Chức quan dưới Thượng thư và Tham tri. Thời Lê là chức phó trưởng quan của Bộ Hộ (trông coi việc tài chính) (Từ điển chức quan. Sđd, tr.387).
- Chùa Báo Thiên: Chùa tọa lạc tại thôn Tiên Thị, huyện Thọ Xương, (xưa gọi là phường Báo Thiên), gần hồ Lục Thuỷ (hồ Hoàn Kiếm), bên ngoài thành Thăng Long. Khu vực này ngày nay là phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. “Năm 1883, theo yêu cầu của Công sứ Bonnal, kinh lược Bắc Kỳ là tổng đốc Nguyễn Hữu Độ đã giao khu chùa này cho Giám mục Puginier phá đi để kiến tạo Nhà thờ chính tòa Hà Nội”. Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Chùa_Báo_ Thiên.
- Kinh Bắc: Địa danh, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang.
- Yên Phong: Nay thuộc tỉnh Bắc Ninh
- Chương quốc công Công bộ: Chức quan, người đứng đầu nắm giữ sổ sách của Bộ Công (tức bộ chuyên quản lý xây dựng, sửa chữa nhà cửa lăng tẩm, thành trì, đê điều, thuyền bè, nung gạch ngói, cấp củi than…).
- Hợi Tý: Thời xưa, các nhà âm dương ngũ hành thường đem 12 chi phối hợp với 4 phương. Tý là chính bắc, Mão là chính đông, Ngọ là chính nam, Dậu là chính tây. Nếu Hợi ở giữa khoảng Dậu và Tý mà thiên về Tý thì phương vị lấy làm hướng tây bắc ngả về bắc. Hướng Hợi Tý là hướng tây bắc (Hán ngữ Đại từ điển, tr.885).
- Hoan châu: Nay thuộc Nghệ An, Hà Tĩnh.
- Ái châu: Nay thuộc Thanh Hóa.
- Ở đây có sự lầm lẫn, người mà Chiêu Hoàng lấy là Trần Cảnh (không phải Trần Chiêu). Trần Cảnh sau khi lên ngôi lấy hiệu là Trần Thái Tông, không phải là Trần Anh Tông.
- Hồng Châu: Xưa bao gồm một phần đất của tỉnh Hưng Yên, một phần đất của Hải Dương và một phần của Hải Phòng hiện nay.
- Huyện Yên Ninh: Nay thuộc Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
Nguồn: “Nam Việt Lý triều trung thần Công Bạc Đại vương, Nghĩa Phụ Thụ La công chúa ngọc phả cổ lục hội điển”, trích trong Thần tích xã (phường) Nhược Công, ký hiệu AEa2/37, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.