Thân thế
Trần Anh Tông (chữ Hán :陳英宗, 17 tháng 9 năm 1276 – 12 tháng 12 năm 1320) là vị hoàng đế thứ 4 của triều đại nhà Trần trong lịch sử Đại Việt, cũng là vị vua đầu tiên của nhà Trần trị vì mà không phải đối mặt với các cuộc tấn công của Đế quốc Mông Cổ.
Trần Anh Tông có tên húy là Thuyên (陳烇), là con trai đầu lòng của hoàng đế Trần Nhân Tông và Hoàng hậu Khâm Từ Bảo Thánh. Vua sinh vào ngày 17 tháng 9 năm Bính Tý (1276).
Bính Tý, [Bảo Phù] năm thứ 4 [1276], (Tống Đức Hựu năm thứ 2, từ tháng 5 về sau là
Tống Đoan Tông Cảnh Viêm năm thứ 1, Nguyên Chí Nguyên năm thứ 13).Mùa xuân, tháng 2, sai ĐàoThế Quang sang Long châu mượn cớ đi mua thuốc để thăm dò tình hình người nguyên.
Tháng 3, mặt trời có chấm đen to bằng quả trứng gà, lay động hồi lâu. Có 2 ngôi sao đấu nhau ở giữa trời, một ngôi sa xuống.
Mùa hạ, tháng 4, Nguyên Thế Tổ đánh Giang Nam, sai Hợp Tán Nhi Hải Nha sang dụ việc như điều dân, giúp quân v.v . . . Vua đều không nghe.
Mùa thu, tháng 9, ngày 17, hoàng trưởng tôn Thuyên sinh, lập làm hoàng thái tôn, ít lâu sau lập làm Đông cung hoàng thái tử.
Từ khi sinh ra, Trần Anh Tông đã được ông nội là Trần Thánh Tông, lúc ấy vẫn đang tại vị, rất mực yêu quý, lập làm Hoàng thái tôn và sát sao trong việc rèn cặp học hành, sau khi vua cha của ông là Trần Nhân Tông lên kế vị vẫn y theo lối đó. Trần Anh Tông được lập làm Đông Cung Hoàng thái tử vào năm 1292, sau đó lên ngôi vào năm 1293. Thời gian trị vì của Trần Anh Tông kéo dài 21 năm, trước khi ông nhường ngôi cho con trai là Trần Minh Tông và giữ tước hiệu Thượng hoàng thêm 6 năm nữa.
Bối cảnh lịch sử
Việc sinh ra trong hoàn cảnh đất nước vẫn còn dư âm từ hai cuộc chiến tranh chống quân Mông – Nguyên, khi vua và tôi đồng lòng chống trả kẻ thù và thu lại thắng lợi vẻ vang cho đất nước, đã sớm hình thành nơi Trần Anh Tông nhiều suy tư về vận mệnh đất nước và trách nhiệm giữ gìn xã tắc.
Từ khi bắt đầu trị vì, Trần Anh Tông đã đổi niên hiệu là Hưng Long, đại xá cho thiên hạ, tôn thượng hoàng làm Hiếu Nghiên quang thánh thái thượng hoàng đế, tôn mẹ làm Khâm từ bảo thánh hoàng thái hậu. Vua cũng ban chiếu về những chữ quốc húy để khi viết, thêm hoặc bớt nét tránh phạm húy, ví dụ: húy của vua là Thuyên, của Nhân Tông là Khâm, của Thánh Tông là Hoảng, của Thái Tông là Cảnh, Thái tổ là Thừa, Nguyên tổ là Lý…
Song, theo các sách sử chính thống, mặc dù là một vị vua thông minh và là một người con hiếu thảo, nhưng trong những buổi đầu trị vì, Trần Anh Tông vẫn còn ham vui, thường uống rượu và lén ra khỏi hoàng cung, lang thang khắp kinh thành Thăng Long vào ban đêm.
Có lần, do quá say, ông đã không kịp nghênh giá Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông từ Thiên Trường trở về, khiến thượng hoàng phẫn nộ, lập tức quay lại Thiên Trường. Khi tỉnh dậy hay tin, vua vô cùng lo sợ, liền nhờ học sĩ trẻ tuổi Đoàn Nhữ Hài chấp bút dâng biểu tạ tội. Như Hài quỳ ở sân cung điện từ sáng đến chiều lại gập mưa to kéo đến, lúc đó thượng hoàng mới sai đem biểu vào xem, thấy lời lẽ nhận tội chân thành, thượng hoàng Trần Nhân Tông cho gọi Trần Anh Tông đến bảo: “Trẫm còn có con khác cũng nối được ngôi, trẫm còn sống mà ngươi còn dám như thế, huống chi sau này”. Vua Trần Anh Tông rập đầu tạ tội, rồi cùng quần thần trở về kinh sư.
Qua sự việc lập biểu tạ tội, Anh Tông thấy Nhữ Hài có tài bèn cho làm Ngự sử trung tán. Quả nhiên sau này Nhữ Hài thành tướng tài từng làm Thiên tử chiêu dụ sứ sang Chiêm Thành, làm quan Hành khiển đến vỗ về yên dân ở Châu Ô, Châu Lý, phù tá đắc lực cho hoàng đế Trần Anh Tông.
Sự nghiệp trị quốc
Thời kì mà vua Trần Anh Tông trị vì được biết đến như một thời kỳ dài hòa bình và thịnh vượng cho đất nước.
Giáo dục – khoa cử
Ngay từ khi lên ngôi, Trần Anh Tông đã thể hiện là một vị vua có tầm nhìn xa về việc đào tạo và sử dụng nhân tài. Sau khi các vị công thần khai quốc như Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải lần lượt qua đời, ông sớm ý thức được rằng nếu không có lớp kế thừa vững mạnh thì việc trị nước sẽ rơi vào thế hụt hẫng. Bởi thế, vua chủ động tuyển dụng và đào tạo một thế hệ trí thức mới gồm những nhân vật kiệt xuất như Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Trần Thì Kiến, Trần Đạo Tái, Đinh Củng Viên – những người không chỉ có năng lực mà còn là những cánh tay đắc lực giúp ông điều hành quốc sự.
Đặc biệt, vua đã chấn chỉnh lại phép thi nhằm đảm bảo nhân sĩ thực sự có năng lực, rồi mới bổ nhiệm. Chính nhờ cách làm khoa học này mà đội ngũ trí thức Đại Việt dưới triều Anh Tông luôn dồi dào và hiệu quả, góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển của đất nước.
“Trước hết thi ám tả thiên Y quốc và truyện Mục Thiên tử để loại bớt. Thứ đến kinh nghi, kinh nghĩa, đề thơ (tức thể cổ thi ngũ ngôn trường thiên) hỏi về “vương độ khoan mãnh”, theo luật “tài nan xạ trĩ, về phú thì dùng thể 8 vần “đế đức hiếu sinh, hiệp vụ dân tâm”. Kỳ thứ ba thi chế, chiếu, biểu. Kỳ thứ tư thi đối sách.”
Cải cách hành chính – pháp luật
Về đối nội, Trần Anh Tông là một nhà lãnh đạo kiên quyết và có nguyên tắc. Ông thẳng tay trừng trị những hành vi trái phép, dù đó là quan lại, người thân cận hay cung phi. Ngược lại, những người thanh liêm chính trực thì được tin dùng trong các chức vụ xét xử pháp luật. Với các lão thần, vua thể hiện sự kính trọng bằng cách gọi chức danh thay vì tên riêng, một biểu hiện nhân văn khuyến khích người cao tuổi cống hiến lâu dài cho quốc gia.
“Tháng 12 (năm 1298), sao Chổi mọc ở phương đông. Vua lánh không ở chính điện, giảm món ăn.
Lấy Ngự sử đại phu Trần Khắc Chung làm Đại an phủ Kinh sư. Lấy Trần Thì Kiến làm Nhập nội hành khiển hữu gián nghị đại phu. Vua ban cho ông cái hốt có khắc bài minh ngự chế.
Thái sơn trinh cao,
Tượng hốt trinh liệt,
Linh trãi tiến giác,
Vi hốt nam chiết.
[…]
Bính Thân, [Hưng Long] năm thứ 4 [1269], (Nguyên Trinh năm thứ 2). Mùa xuân, tháng 3, Thượng phẩm Nguyễn Hưng đánh bạc, [vua sai] đánh chết.
[…]
(năm 1299) Lấy nội quan Trần Hùng Thao làm Tham tri chính sự, đồng tri Thánh Từ cung tả ty sự. Sau Hùng Thao can tội phê án tha người nên bãi chức.
[…]
Tháng 5, ngày 16 (năm 1300), xuống chiếu rằng các quan văn võ trong triều ai mới có chữ phê mà không có ấn trướng hạ thì phải giảm 1 tư, người có công đánh dẹp thì không phải giảm (đó là xét những thiếp ban cho trong thời gian mất ấn).
[…]
Hành khiển trí sĩ Nguyễn Kim Ngô về chầu, tự xưng là Liễu Nhiễu. Kiên Ngô tính thẳng thắn, vua ưu đãi, quý trọng, không gọi tên để khuyến khích những người tuổi già vẫn giữ quyền vị.
[…]
Nguyễn Sĩ Cố, Chu Bộ là cận thần của thái tử. Đến khi thái tử lên ngôi. Cố và Bộ đều vì không có đức hạnh nên đều không được cất nhắc. Cố làm đến Thiên chương các học sĩ, chức này thực đặt làm vì, chứ không có quyền hành gì. Bộ thì chỉ coi mấy bộ cấm binh Khôi. Khi thượng hoàng (Trần Anh Tông) thân đi đánh Chiêm Thành, Bộ chết trận, Cố thì chết trên đường đi.
Hai người này phục vụ Thượng hoàng khó nhọc lâu ngày, nhưng vì tài không thể dùng được, nên đặc họ vào chức nhàn tản và đều cho bổng lộc tước trật ưu hậu cả mà không trao cho thực quyền.
Nguyễn Quốc Phụ làm Nội thư chánh chưởng, là cận thần của Nhân Tông. Khoảng năm Hưng Long [1293 – 1314] khuyết chức Hành khiển.
[Có lần] Thượng hoàng (Trần Anh Tông) chầu Nhân Tông ở chùa Sùng Nghiêm, Nhân Tông bảo: “Quốc Phụ được đấy!”
Thượng hoàng thưa: “Nếu lấy ngôi thứ mà bàn, thì [Quốc Phụ] được rồi, chỉ hiềm hắn nghiện rượu thôi!”.
Nhân Tông im lặng rồi không dùng. Quốc Phụ cuối cùng vẫn giữ chức cũ cho đến khi chết. Ngài thận trọng đối với những chức vị quan trọng lại như thế đấy.
[…]”
Ngoài ra còn một số quy định được ban hành khác như quy định kiểu mũ áo mới cho quan văn võ, cho phép dân có cơ hội được chuộc lại ruộng vườn và chuộc lại người từng bán làm nô.
Đại Việt sử ký toàn thư viết:
“Mùa đông, tháng 10, quy định kiểu mũ áo mới của quan văn võ. Quan văn thì đội mũ chữ đinh màu đen, tụng quan thì đội mũ toàn hoa màu xanh vẫn như quy chế cũ. Ống tay áo của các quan văn võ rộng 9 tấc đến 1 thước 2 tấc, không cho dùng từ 8 tấc trở xuống. Các quan văn võ không được mặc xiêm, tụng quan không được mặc thường (mũ toàn hoa xanh có hai vòng vàng đính vào hai bên).
Tân Sửu, [Hưng Long] năm thứ 9, (Nguyên Đại Đức năm thứ 5). Mùa xuân, tháng giêng, xuống chiếu rằng các quan văn võ đều đội mũ chữ đinh, thêm miếng lụa bọc tóc màu tía xen màu biếc.
[…]
Tháng 9, xuống chiếu rằng từ năm Canh Dần (1290), Tân Mão (1291) đến nay, phàm bán ruộng đất và mua gia nhân làm nô thì cho được chuộc, nếu để quá năm nay thì không cho chuộc nữa.”
Về đối ngoại, Trần Anh Tông thi hành chính sách mềm mỏng nhưng kiên quyết. Trước những yêu sách của nhà Nguyên vào các năm 1293, 1295, 1299 và 1312, ông nhiều lần viện cớ bệnh tật để khước từ việc sang chầu, đồng thời khéo léo giữ thể diện quốc thể. Khi quân Nguyên xâm phạm vùng Tư Lang, vua nhanh chóng điều quân phản công, giành lại lãnh thổ, đồng thời buộc hai bên xác lập lại mốc giới ranh giới quốc gia – một hành động thể hiện bản lĩnh cứng rắn khi cần thiết. Đối với Chiêm Thành, vua gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân để nhận lại hai châu Ô và Lý, mở rộng bờ cõi về phía nam. Khi Chế Mân mất, vua lại cử Trần Khắc Chung vào cứu công chúa khỏi tục hỏa thiêu. Về sau, khi vua Chiêm là Chế Chí phản trắc, Trần Anh Tông thân chinh cầm quân đánh dẹp, bắt sống Chế Chí và lập người kế vị mới là Chế Đa-a-ba-niệm. Như vậy, đối với cả hai thế lực lớn – phương Bắc là nhà Nguyên và phương Nam là Chiêm Thành – vua đều thể hiện được sự linh hoạt, lúc mềm dẻo, lúc cứng rắn nhưng luôn giữ được thế chủ động.
Quân sự
Về mặt quân sự, Trần Anh Tông được đánh giá là người biết quy tụ và phát huy sức mạnh của các tướng lĩnh dưới quyền. Sau thời kỳ các công thần khai quốc qua đời, vua vẫn duy trì được lực lượng quân sự hùng hậu với những tướng tài như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Chẩn.
Năm 1300, khi Hưng Đạo vương lâm bệnh, Anh Tông đến thăm và được truyền dạy kế sách giữ nước: lấy đoản binh chống trường binh, đồng thời phải khoan thư sức dân, làm kế sâu rễ bền gốc.
Đại Việt sử ký toàn thư viết:
Tháng 6, ngày 24, sao sa. Hưng Đạo Vương ốm. Vua ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào”.
Vương trả lời: “Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế “thanh dã”, đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản [binh] chế trường [trận] là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”.
Tư tưởng ấy đã được vua vận dụng hiệu quả trong các cuộc chiến chống xâm phạm biên giới phía tây từ Ai Lao, với việc cử Phạm Ngũ Lão đánh dẹp thành công và phong làm Thân vệ Đại tướng quân. Trong trận nam chinh năm 1312, nhờ kế nội ứng của Đoàn Nhữ Hài, quân Đại Việt không tốn một mũi tên mà vẫn bắt được vua Chiêm. Cuộc thân chinh này còn gắn với một truyền thuyết thiêng liêng: khi vua đóng quân tại cửa biển Cần Hải, mộng thấy một nữ thần hiện về xin trợ giúp đánh giặc. Sau khi chiến thắng, vua lập đền thờ và sắc phong thần hiệu là “Đại Càn quốc gia Nam Hải Thánh Mẫu thượng đẳng thần”, đồng thời ban tặng tiền của cho dân địa phương trùng tu ngôi đền – một chi tiết cho thấy sự gắn kết giữa chính trị, tâm linh và văn hóa trong thời Trần.
Tư tưởng – Tôn giáo
Cũng giống như nhiều vị vua Trần khác, Anh Tông cũng là một tín đồ Phật giáo thuần thành.Năm 1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia tại núi Yên Tử (Quảng Ninh), lấy đạo hiệu là Giác hoàng Điều ngự và lập ra Thiền phái Trúc Lâm.Đây được xem là giáo hội thống nhất đầu tiên của đạo Phật ở Việt Nam. Đến năm 1308, Điều ngự viên tịch; đệ tử Điều ngự là Pháp Loa trở thành Tổ thứ hai của phái Thiền Trúc Lâm. Anh Tông hỗ trợ tích cực cho Điều ngự và Pháp Loa trong việc phát triển giáo hội. Sách Tam Tổ thực lực có chỗ mô tả Anh Tông là “đại thí chủ của Phật pháp”.
Mùa đông năm 1304, Anh Tông thỉnh cầu Điều ngự về Thăng Long để truyền tâm Tâm giới Bồ tát tại gia cho ông. Theo giải thích của Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận, với việc thực hành giới Bồ tát Tại gia, Anh Tông đã lập nguyện dùng hoàng quyền của mình như một phương tiện cho việc “cứu nhân độ thế” trên tinh thần Phật giáo Đại thừa. Việc Anh Tông thực hiện Tâm giới Bồ tát đã khuyến khích nhiều tôn thất, quan lại quy y Phật – Pháp – Tăng và thọ trì ngũ giới.
Cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận còn cho biết, Trần Anh Tông đã chu cấp thợ xây và vật liệu cho giáo hội để xây cất tự viện, tịnh thất. Đồng thời, ông cho đắp nhiều tượng Phật lớn và kêu gọi vương hầu, cung nhân cống hiến hàng trăm mẫu ruộng cho các trung tâm tu học. Sự gắn bó của vua với Phật giáo càng thể hiện rõ qua cách ông đối đãi sau khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông viên tịch tại am Ngọa Vân. Thiền sư Pháp Loa – đệ tử chân truyền của Trúc Lâm Điều Ngự – đã thiêu xác và thu nhặt được hơn ba nghìn viên xá lợi, mang về chùa Tư Phúc tại kinh sư. Khi phát hiện Pháp Loa giữ lại một phần xá lợi không công khai, vua không trách phạt mà cảm động trước tấm lòng của vị Thiền sư, từ đó càng thêm kính trọng và yêu mến. Các phần xá lợi của Trần Nhân Tông sau đó được an trí tại nhiều nơi linh thiêng: trên thượng tháp chùa Phổ Minh (Nam Định), tháp Huệ Quang (Yên Tử), tháp Ngọa Vân và lăng Quy Đức (Thái Bình), nơi hợp táng cùng Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu. Nhà vua cũng dâng tặng tàu thuyền và dân phu cho thầy Pháp Loa nhưng thầy không lấy.
Pháp Loa thiêu [xác Thượng hoàng] được hơn ba ngàn hạt xá lỵ mang về chùa Tư Phúc ở kinh sư. Vua có ý ngờ. Các quan nhiều người xin bắt tội Pháp Loa. Hoàng thái tử Mạnh mới 9 tuổi, đứng hầu bên cạnh, chợt thấy có mấy hạt xá lỵ ở trước ngự, đưa ra cho mọi người xem, kiểm lại trong hộp, thì đã mất một số ít hạt. Vua xúc động đến phát khóc, trong lòng mới khỏi nghi ngờ.
Theo sách Thánh đăng ngữ lục (một tác phẩm Phật giáo khuyết danh ra đời cuối thế kỷ 14), trong thời kỳ trị vì của mình, Trần Anh Tông thường khuyến khích các cao tăng như Nhị tổ Pháp Loa, Quốc sư Liễu Minh thuyết giảng kinh sách Phật giáo nói chung – và Thiền tông nói riêng – tại nhiều nơi như chùa Tư Phúc (Thăng Long) và am Thường Lạc (Thiên Trường).
Vào các năm 1313 và 1319, khi sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, Trần Anh Tông đã lấy vàng bạc từ quốc khố và dâng cho Pháp Loa, sau đó thầy phân phát cho dân nghèo. Các vua đầu thời Trần đều là hành giả Thiền Tông; nhưng đến đời Anh Tông, Mật tông bắt đầu ảnh hưởng tới giới Phật tử Đại Việt – kể cả nhà vua. Năm 1318, Trần Anh Tông đã thỉnh cầu nhà sư người Nam Á là Ban Để Đa Ô Sa Thất Lợi dịch Bạch Tán Thần Chú kinh – một văn bản Phật giáo Mật tông. Sử cũ cũng ghi nhận sự hiện diện của một nhà sư Mật Tông người Ấn tên Du Chi Bà Lam “tự nói là 300 tuổi, có thể ngồi xếp bằng nổi trên mặt nước, lại có thể thu cả ngũ tạng lên ngực, làm cho trong bụng lép kẹp, chỉ còn da bụng và xương sống thôi”. Con gái sư là Đa La Thanh đã trở thần phi tần của Anh Tông.
Gia khuyến
Cha: Trần Nhân Tông Trần Khâm.
Mẹ: Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu Trần Thị Trinh (欽慈保聖皇后 陳氏貞; ? – 1293), con gái Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn và Thiên Thành Trưởng Công chúa.
Hậu phi
- Văn Đức Phu nhân Trần Thị (文德夫人), nguyên phối, cháu nội Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, con gái trưởng của Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng. Lập làm Thái tử phi năm 1292. Khi Anh Tông kế vị lại lập làm Văn Đức Phu nhân rồi lại phế đi. Không rõ kết cục.
- Bảo Từ Thuận Thánh Hoàng hậu Trần Thị Phùng (陳氏豐) (保慈皇后; ? – 1330), con gái Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng, em gái Văn Đức Phu nhân. Anh Tông kế vị phong làm Thánh Tư Phu nhân (聖婆夫人) rồi Thuận Thánh Hoàng hậu (順聖皇后). Minh Tông kế vị tấn tôn làm Thuận Thánh Thái Thượng hoàng hậu (順聖皇太后).
- Chiêu Từ Hoàng hậu Trần thị (昭慈皇后; ? – 1359), lúc còn nhỏ có danh hiệu Chiêu Hiến Quận chúa (昭賢郡主), nguyên là Huy Tư Hoàng phi (徽思皇妃) của Anh Tông, con gái duy nhất của Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng và Thụy Bảo Công chúa (con gái vua Trần Thái Tông), mẹ sinh Trần Minh Tông. Khi Minh Tông kế vị, bà được tôn làm Huy Tư Thái thượng hoàng phi (徽思太皇妃). Thụy hiệu của bà là Chiêu Từ Hoàng thái hậu (昭慈皇太后).
- Đệ nhị cung phi Nguyễn Thị La, sinh ngày mồng 7 tháng 3 năm Bính Dần 1266, quê quán ở ấp Dưỡng Phúc nay là thôn Dưỡng Phú, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Hiện nay ở quê quán còn miếu thờ và khu lăng mộ của bà.
- Từ Ý Thái Hòa Đệ Tam Cung phi Nguyễn Nguyệt Ảnh, sinh năm 1280, mất ngày 14 tháng 4 năm Mậu Tuất, Quê tại Trang Quang Lang nay là thôn Trang Lang Đông xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình trong một gia đình làm nghề muối. Từ nhỏ bà là người có tài mạo khác thường, học rộng, biết nhiều, nhan sắc hơn người,
- Tĩnh Huệ Thứ phi Phạm Thị (静惠妃), con gái Phạm Ngũ Lão, không con, xuất gia năm 1309.
- Giao Châu Thứ phi, có tư tình với Đoàn Nhữ Hài, triều đình luận án chém cả, nhưng được Huệ Túc Phu nhân Hoàng Chu Linh (phi tần của Trần Thái Tông) xin tha tội,sau được tác hợp với Đoàn Nhữ Hài.
- Cung phi Đa La Thanh (德妃), con gái sư người Hồ là Du Chi Bà Lam.
- Cung tần Trần Thị Thái Bình (賢妃陳太平) mẹ sinh của Huy Chân Công chúa, tính tình tham lam, từng chiếm ruộng đất của dân.
- Nữ quan Vương thị (女官王氏) mẹ sinh của Huệ Chân công chúa, được yêu quý mà có thai, Bảo Từ Hoàng hậu cho Song Hương đường (phòng ngủ của mình) làm nơi đẻ. Tiếc rằng Vương thị bị bệnh hậu sản mà qua đời. Có Cung nhân tâu riêng với Anh Tông Vương thị là do Hoàng hậu hại chết, Anh Tông vốn biết tính Hoàng hậu, nổi giận lấy roi đánh người Cung nhân ấy, Hoàng hậu cũng bỏ qua không để lòng.
- Nữ quan Nguyễn Thị Diên. Anh Tông có ý xuất gia nên sai cung nhân ăn chay. Các cung nhân đều ngần ngại, duy có nữ quan Nguyễn Thị Diên chặt ngón tay đem dâng. Thượng hoàng ngợi khen, ban cho 40 mẫu ruộng làm lương ăn tu hành ngày sau. Rồi Thị Diên quả nhiên đi tu cho đến lúc mất, Phật hiệu là Tịnh Quang.
Hậu duệ:
- Ba hoàng tử (mẹ là Bảo Từ Hoàng hậu) chết yểu
- Trần Minh Tông – Trần Mạnh (mẹ là Chiêu Từ Hoàng hậu)
- Thiên Chân Công chúa (mẹ là Bảo Từ Hoàng hậu) sau hạ giá với Huệ Chính Vương
- Ý Trinh Công chúa
- Huy Chân công chúa (mẹ là Cung tần Trần Thị Thái Bình) sau hạ giá với Uy Giản Hầu
- Huệ Chân Công chúa (mẹ là nữ quan Vương thị), được Bảo Từ Hoàng hậu nhận nuôi
- Thánh Chân Công chúa (không rõ thân mẫu)
Cuối đời – Thờ phụng
Cuối đời, vua Trần Anh Tông sau khi nhường ngôi cho con là Trần Minh Tông vào năm 1314 đã lui về làm Thượng hoàng, sống tại cung Trùng Quang ở phủ Thiên Trường.
Vua nổi tiếng vì phong cách sinh hoạt mẫu mực. Đồng thời, dù đã thoái vị, ông vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng và có tầm ảnh hưởng rộng lớn trong bộ máy điều hành quốc gia. Từ năm 1316 đến năm 1320, dưới danh nghĩa Thượng hoàng, ông thúc đẩy việc thực hiện nhiều chính sách và quyết sách quan trọng, như việc xử lý tranh chấp ruộng đất, giám sát hình pháp, và đề cao phép tắc lễ nghi triều đình. Trong đó, nổi bật là cách xử lý vụ án Văn Khánh, khi ông khen ngợi Phí Trực – một quan lại cấp dưới – vì đã không hấp tấp xử oan một nghi phạm, cho thấy ông là người hết sức cẩn trọng trong việc liên quan đến sinh mạng dân chúng.
Năm 1318, ông bắt đầu có ý hướng xuất gia, sai cung nhân ăn chay, cho thấy sự chuyển hóa trong đời sống tinh thần hướng về tôn giáo. Trong sự kiện ấy, nữ quan Nguyễn Thị Diên đã tự chặt ngón tay để thể hiện chí nguyện, được ban ruộng để tu hành và sau này thực sự trở thành ni cô với pháp hiệu Tịnh Quang. Việc ấy không chỉ cho thấy ảnh hưởng của Thượng hoàng đối với nội cung mà còn phản ánh lý tưởng sống thanh cao và tinh thần hướng thiện của ông trong giai đoạn cuối đời.
Cũng trong thời gian này, Trần Anh Tông luôn thực thi những việc trọng đạo lý, như việc thực hiện đúng di chiếu của tiên đế Trần Nhân Tông, cho phụ táng Tuyên Từ thái hậu (dì ruột của ông) tại lăng Nhân Tông, dù điều đó có thể gây xáo động đến long mạch lăng tẩm. Khi các quan can gián, ông vẫn cương quyết thực hiện di mệnh, nói rằng: “Nếu có tổn hại gì, ta sẽ chịu cả”, cho thấy tinh thần chịu trách nhiệm và lòng hiếu thuận đáng kính.
Cuối cùng, trước lúc lâm chung, ông còn thể hiện rõ ràng thái độ minh triết trước sinh tử. Khi thiền sư Phổ Huệ xin yết kiến để bàn chuyện hậu sự, ông thản nhiên nói: “Sư hãy đến đây, ta chết rồi, Quan gia có sai bảo gì, thì cứ việc làm. Còn như chuyện sau khi chết, thì sư cũng chưa chết, biết đâu mà trình bày việc chết với ta?”. Đó là một thái độ điềm nhiên, sâu sắc và vượt thoát.
Bấy giờ, Bảo Từ thái hậu cho gọi sư Phổ Huệ đến chùa Phổ Minh mở hội Quán đính. Anh Tông bệnh vừa chuyển nặng. Phổ Huệ xin được gặp để trình bày việc sống chết. [Anh Tông] sai trả lời rằng:
“Sư hãy đến đây, ta chết rồi, Quan gia có sai bảo gì, thì cứ việc làm. Còn như chuyện sau khi chết, thì sư cũng chưa chết, biết đâu mà trình bày việc chết với ta?”
Thái học sinh Đặng Tảo thường xuyên đứng hầu bên giường ngự để viết di chiếu. Anh Tông băng, vua đích thân khâm liệm. Chỉ có Quốc phụ cùng Tảo và gia nhi chủ nô là Lê Chung tham gia việc này. Đến khi rước linh cữu về sơn lăng, Tảo, Chung đều tới hầu lăng tẩm. Hàng năm, khi vua bái yết lăng, Tảo thường lánh đi chỗ khác, chỉ có ý nguyện ở lại phụng thờ lăng tẩm mà thôi, chứ không đòi xin gì khác.
Trần Anh Tông băng hà vào ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân (1320), tại cung Trùng Quang. Lễ tang kéo dài, mãi đến ngày 12 tháng 12 cùng năm mới được cử hành táng lễ tại Thái Lăng ở Yên Sinh (Thái Lăng ở núi Yên Sinh, hai lăng Mục Lăng và Phụ Lăng cũng ở đó), miếu hiệu là Anh Tông, thụy hiệu là Hiển Văn Duệ Vũ Khâm Minh Nhân Hiếu Hoàng Đế.
Nhận xét đánh giá
Sử thần nhấn mạnh rằng Anh Tông là người không ngần ngại sửa lỗi, luôn kính cẩn thờ phụng cha mẹ, hòa mục với họ hàng, chu toàn trong lễ nghi cúng tế. Ông là người biết sống đúng mực, đạo lý từ trong nhà, nên dân chúng bên ngoài cũng noi theo. Việc ông thường xuyên từ chối bổ nhiệm những người không đủ đức hạnh, như Nguyễn Sĩ Cố hay Chu Bộ, cho thấy tiêu chuẩn chọn người của ông rất rõ ràng. Những người không có tài thì dù thân cận đến đâu cũng chỉ được trao những chức nhàn tản, không có thực quyền. Đồng thời, ông cũng không thiên vị những người thân thích hay quý tộc khi phân định chức vụ. Điều này tạo nên một triều chính vững vàng, có nguyên tắc, và gìn giữ được uy tín của triều đình trước quần thần và dân chúng.
Đặc biệt, trong cách dùng hình pháp, ông thể hiện sự sáng suốt và khoan dung. Ông nói: “Tình ngay lý gian thì không được lấy lý bỏ tình”, nhấn mạnh rằng sự xét đoán công minh đòi hỏi phải kết hợp cả tình lẫn lý, không thể máy móc theo hình thức.
Từ những chi tiết ấy, có thể khẳng định rằng vua Trần Anh Tông là một minh quân điển hình về đạo trị nước bằng nhân đức, liêm chính và khuôn phép.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Gốc của thiên hạ là ở nước, gốc của nước là ở nhà, gốc của nhà là ở mình. Có dạy được người trong nước. Đời Đường Ngu thịnh trị chẳng qua cũng là như vậy. Kinh Thư ca ngợi Đế Nghiêu dẫn dắt muôn dân bỏ ác làm thiện, đi tới thịnh trị, thì hẳn là vì trước hết ông biết thân yêu họ hàng, cũng tức là đã thực hiện giáo hóa bắt đầu từ trong nhà vậy. Tôi đọc sử chép về Anh Tông, thấy không ngần ngại sửa bỏ lỗi lầm, kính cẩn thờ phụng cha mẹ, hòa mục với họ hàng, truy tôn tổ tiên làm đế làm hậu, chu đáo trong cúng tế, thận trọng trong tang lễ, đều là phải đạo; trong nhà đủ làm khuôn phép, người ngoài bắt chước theo. Cho nên trên thì Nhân Tông khen là hiếu, dưới thì Minh Tông tuân theo khuôn phép. Nước trở nên văn minh,dân tới chỗ giàu thịnh. Như thế chẳng phải là hiệu quả trị nước vốn ở gốc tu thân tề gia là gì? Dù lời khen trong Thi, Thư cũng không hơn thế.
Tham khảo
- Khuyết danh (1993), Đại Việt sử lược, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

