Lăng vua Trần Anh Tông (Thái Lăng)

Lăng vua Trần Anh Tông (Thái Lăng)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Thái lăng còn được gọi là lăng Đồng Thái, là lăng của vua Trần Anh Tông, vị vua thứ 4 của nhà Trần và phụ táng Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng Thái hậu. Đây là lăng tẩm đầu tiên của nhà Trần được xây dựng ở An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh. 

Lịch sử và nhân vật

Thái Lăng được xây dựng vào năm Canh Thân (1320). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ghi rõ:

“Canh Thân – Đại Khánh năm thứ 7 (1320), mùa xuân, tháng 3, ngày 6, Thượng Hoàng (Trần Anh Tông) băng ở cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường, rước linh cữu vào cửa Tường Phù, quàn tại cung Thánh Từ (Thăng Long). Ngày 12 tháng 12 năm Canh Thân (1320), táng Thượng hoàng Trần Anh Tông vào Thái Lăng ở An Sinh”;

Đại Việt sử ký toàn thư chép tiếp:

“Mười hai năm sau, mùa xuân, tháng 2, ngày 15, năm Nhâm Thân (Khai Hựu năm thứ 4 – 1332), phụ táng Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng Thái hậu (vợ vua Trần Anh Tông) vào Thái Lăng”.

Những ghi chép này xác nhận Thái Lăng là nơi an táng chính thức của Thượng hoàng Trần Anh Tông và Hoàng hậu Bảo Từ, đồng thời cho thấy quá trình hình thành và hoàn chỉnh khu lăng diễn ra trong nhiều giai đoạn.

Vua Trần Anh Tông là vị hoàng đế thứ tư của triều Trần, tên húy là Trần Thuyên, con trai của vua Trần Nhân Tông. Ông sinh ngày 17 tháng 9 năm Bính Tý (1276). Năm 1293, khi mới 17 tuổi, Trần Anh Tông được vua cha nhường ngôi, chính thức đăng quang. Ông ở ngôi 21 năm, sau đó làm Thái Thượng hoàng thêm 6 năm. Ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân (1320), Trần Anh Tông băng hà tại cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường, hưởng thọ 47 tuổi.

Sử sách đánh giá Trần Anh Tông là vị vua có tính tình đôn hậu, đức độ, song vẫn thể hiện sự quyết đoán trong điều hành triều chính. Dưới thời trị vì của ông, quốc gia Đại Việt đạt đến giai đoạn thái bình, thịnh trị; bờ cõi tiếp tục được mở rộng, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa đều phát triển ổn định. Đặc biệt, Trần Anh Tông là một tín đồ thuần thành của Phật giáo. Dưới sự bảo trợ của ông và triều đình, Phật giáo nhất là Thiền phái Trúc Lâm đạt tới thời kỳ phát triển cực thịnh. Nhà vua trực tiếp đứng ra xây dựng hoặc làm thí chủ cúng dường nhân lực, tài lực cho nhiều công trình Phật giáo lớn như tháp Phổ Minh (Nam Định), Phật viện Quỳnh Lâm, am – chùa Ngọa Vân. Ngoài ra, ông còn tự mình cùng hoàng cung và thị nữ trích máu để viết 20 cuốn kinh Đại Tạng cỡ nhỏ, lưu giữ tại Phật viện Quỳnh Lâm, thể hiện lòng sùng kính Phật pháp hiếm thấy ở một vị quân vương.

Bia Trần triều bi ký đặt tại đền An Sinh khắc năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) là tấm bia khắc lại nội dung văn bia được dựng năm Chính Hòa thứ 10 (1689) đời vua Lê Hy Tông cho biết:

“(Trần) Anh Tông Hoàng đế, mất ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân, táng tại lăng xứ Đồng Thái”.

Ngoài ra, nội dung bia còn cho biết, dưới thời Lê Trung hưng, triều đình nhà Lê cấp cho Thái lăng tổng cộng 90 mẫu 2 sào ruộng/đất (trong đó 65 mẫu cấp cho vua Trần Anh Tông và 30 mẫu 2 sào cấp cho Hoàng hậu).

Đến thời Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 21 (1840), vua Minh Mạng đã cho dựng bia ghi dấu vị trí lăng tẩm các vua Trần tại vùng An Sinh, trong đó có Thái Lăng. Bia hiện vẫn còn tại di tích, với nội dung:

“Minh Mạng nhị thập nhất niên, cửu nguyệt, sơ lục nhật phụng Trần Anh Tông hoàng đế lăng sắc tạo”,

tức ngày mùng 6 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 21 (1840), dựng bia tại lăng Hoàng đế Trần Anh Tông theo chỉ dụ.

Đại Nam nhất thống chí cũng chép:

“Lăng Đồng Thái, lăng Trần Anh Tông, phụ táng Bảo Từ Hoàng hậu, ở trên đỉnh núi nhỏ xã Yên Sinh, nay vẫn còn rồng đá và bậc đá”.

Trong khi đó, sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ xác định lăng Đồng Thái thuộc xã Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, đồng thời ghi chép và minh họa lại hình dáng cũng như nội dung tấm bia dựng vào năm Minh Mạng thứ 21.

Từ các nguồn tư liệu trên có thể khẳng định, Thái Lăng, còn gọi là lăng Đồng Thái, là lăng mộ của vua Trần Anh Tông và Hoàng hậu Thuận Thánh Bảo Từ. Tháng 12 năm 1320, sau khi băng hà tại phủ Thiên Trường, vua Trần Anh Tông được rước về an táng tại đây; đến năm 1332, Hoàng hậu Bảo Từ cũng được phụ táng vào Thái Lăng. Đây là lăng tẩm đầu tiên của vương triều Trần được xây dựng tại An Sinh, mở đầu cho việc lựa chọn An Sinh trở thành khu sơn lăng chính thức của các vua Trần về sau.

Kiến trúc cảnh quan

Thái Lăng được lựa chọn xây dựng trên đỉnh một quả đồi thấp nằm giữa lòng một thung lũng kín, là vị trí có địa thế đặc biệt thuận lợi về phong thủy. Ba mặt đông, tây và bắc của khu lăng được bao bọc bởi các dãy núi cao, tạo thế che chắn vững chắc. Dòng suối Phủ Am Trà, bắt nguồn từ khu vực Ngọa Vân, chảy theo hướng đông – tây, lượn ngang phía trước khu lăng rồi hội tụ nước tại minh đường, hình thành thế tụ thủy rõ nét. Phía trước xa hơn là dòng sông Cầm uốn khúc mềm mại, và xa nữa là dãy núi đá vôi vùng Kinh Môn sừng sững, đóng vai trò như một lớp bình phong tự nhiên quy mô lớn. Toàn bộ các yếu tố địa hình này đã kiến tạo cho Thái Lăng một thế đất hoàn chỉnh với đủ các yếu tố phong thủy cổ điển: tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, minh đường tụ thủy, hậu chẩm có núi cao, được đánh giá là vị trí cát địa tiêu biểu của hệ thống sơn lăng triều Trần.

Cụ thể, Thái Lăng được dựng trên đồi Tán Quỷ (còn gọi là Trán Quỷ), nằm giữa thung lũng có địa thế “tay ngai” vững chãi do các dãy núi cao ở ba phía bao bọc. Hiện nay, khu lăng thuộc địa phận hồ Trại Lốc, xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, cách đền An Sinh khoảng 3,5 km. Tuy nhiên, cảnh quan tự nhiên của Thái Lăng ngày nay đã có nhiều biến đổi so với quá khứ. Việc xây dựng đập Trại Lốc vào cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980 đã chặn dòng suối Phủ Am Trà, khiến toàn bộ thung lũng quanh đồi Tán Quỷ trở thành một hồ nước rộng. Đồi Tán Quỷ theo đó biến thành một đảo nhỏ nằm giữa lòng hồ Trại Lốc, và trong dân gian địa phương, nơi này được gọi bằng tên quen thuộc là đảo Vua.

Trong các năm 2007–2008, các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật khu vực trung tâm Thái Lăng, qua đó xác định rõ cấu trúc mặt bằng tổng thể của khu lăng. Kết quả cho thấy trung tâm lăng nằm trên đỉnh đồi, với mặt bằng kiến trúc gồm ba cấp nền hình gần vuông xếp chồng lên nhau theo dạng kim tự tháp. Chính tẩm được bố trí ở trung tâm, trên cấp nền cao nhất, giữ vai trò hạt nhân của toàn bộ khu lăng. Các kiến trúc phụ trợ ở những cấp nền thấp hơn được sắp xếp bao quanh, tạo thành một không gian khép kín, chặt chẽ.

Phía trước trung tâm lăng là trục thần đạo, sân hành lễ và hệ thống ba lối ra vào qua các bậc cấp. Các bậc cấp đều được xây dựng bằng đá, chạm khắc hình rồng tinh xảo, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật cung đình thời Trần. Hai lối đi hai bên còn được dựng lan can đá, trang trí hình cá sấu, một mô-típ đặc trưng trong kiến trúc hoàng gia giai đoạn này. Dấu tích nền móng các công trình kiến trúc được phát hiện cho thấy Thái Lăng xưa có quy mô rất lớn, được xây dựng kiên cố với nhiều hạng mục kiến trúc bằng gỗ, mái lợp ngói mũi sen, trên nóc và các góc mái trang trí hình rồng, toát lên vẻ tráng lệ, uy nghi của kiến trúc lăng tẩm vương triều Trần.

Năm 2011, Thái Lăng được tiến hành trùng tu, tôn tạo trên cơ sở tôn trọng tối đa các giá trị khảo cổ và lịch sử. Phần mặt bằng kiến trúc trung tâm được bảo tồn nguyên trạng dưới lòng đất; các dấu vết mặt bằng do khảo cổ học phát hiện được phục dựng ở cốt nền cao hơn để phục vụ việc nghiên cứu và tham quan. Phía sau khu trung tâm, một công trình mới được xây dựng làm nơi thờ vua Trần Anh Tông và Hoàng hậu Bảo Từ. Đồng thời, các hạng mục phụ trợ như nhà đón tiếp, bến thuyền, bãi đỗ xe… cũng được đầu tư xây dựng đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đón tiếp du khách và nhân dân đến tham quan, chiêm bái, đồng thời góp phần phát huy giá trị của di tích trong đời sống đương đại.

Tài liệu tham khảo

  1. Đồng Thái lăng | Cổng thông tin thị xã Đông Triều
  2. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  3. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Giá trị Khu di tích Quốc gia Đặc biệt – Khu di tích lịch sử Nhà Trần tại Đông Triều Quảng Ninh.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, Tập 4, Nxb Thuận 
  5. Thái Lăng – Lăng mộ đầu tiên của vua Trần ở quê gốc Đông Triều – Báo Quảng Ninh điện tử
  6. Thái Lăng – Lăng vua Trần Anh Tông và Hoàng hậu Bảo Từ 

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Name and Geographical Location

Thai Lang, also known as Dong Thai Mausoleum, is the tomb of King Tran Anh Tong, the fourth emperor of the Tran Dynasty, with the secondary burial of Empress Dowager Thuan Thanh Bao Tu. This is the first royal mausoleum of the Tran Dynasty constructed in An Sinh, Dong Trieu, Quang Ninh Province.

History and Historical Figures

Thai Lang was constructed in the year Canh Than (1320). According to Dai Viet su ky toan thu, it records:

“Canh Than – the 7th year of Dai Khanh (1320), in spring, on the 6th day of the 3rd lunar month, the Retired Emperor (Tran Anh Tong) passed away at Trung Quang Palace, Thien Truong Prefecture. His coffin was escorted through Tuong Phu Gate and temporarily enshrined at Thanh Tu Palace (Thang Long). On the 12th day of the 12th lunar month of Canh Than (1320), the Retired Emperor Tran Anh Tong was buried at Thai Lang in An Sinh.”

The chronicle further records:

“Twelve years later, in spring, on the 15th day of the 2nd lunar month of the year Nham Than (the 4th year of Khai Huu – 1332), Empress Dowager Thuan Thanh Bao Tu (wife of King Tran Anh Tong) was secondarily buried at Thai Lang.”

These records confirm that Thai Lang is the official burial site of Retired Emperor Tran Anh Tong and Empress Bao Tu, and they also indicate that the formation and completion of the mausoleum took place over multiple stages.

King Tran Anh Tong was the fourth emperor of the Tran Dynasty, personal name Tran Thuyen, the son of King Tran Nhan Tong. He was born on the 17th day of the 9th lunar month of Binh Ty (1276). In 1293, at the age of only 17, he was abdicated the throne by his father and formally ascended as emperor. He reigned for 21 years and then served as Retired Emperor for another six years. On the 16th day of the 3rd lunar month of Canh Than (1320), Tran Anh Tong passed away at Trung Quang Palace, Thien Truong Prefecture, at the age of 47.

Historical sources assess Tran Anh Tong as a benevolent and virtuous ruler, while still demonstrating decisiveness in governing state affairs. During his reign, Dai Viet entered a period of peace and prosperity; the national territory continued to expand, and economic and cultural life developed steadily. Notably, Tran Anh Tong was a devout Buddhist. Under his patronage and that of the royal court, Buddhism—especially the Truc Lam Zen sect—reached its peak of development. The king personally sponsored or directly organized the construction of major Buddhist monuments, or donated human and material resources for such works as Pho Minh Pagoda Tower (Nam Dinh), Quynh Lam Buddhist Monastery, and Ngoa Van Hermitage–Pagoda. Moreover, he himself, together with members of the royal household and palace maids, drew blood to transcribe twenty small-format volumes of the Buddhist Tripitaka, preserved at Quynh Lam Monastery, demonstrating a rare level of devotion to Buddhism for a monarch.

The stele titled Tran trieu bi ky, located at An Sinh Temple and carved in the 4th year of Thieu Tri (1844), reproduces the text of an earlier stele erected in the 10th year of Chinh Hoa (1689) under King Le Hy Tong. It states:

“Emperor Tran Anh Tong passed away on the 16th day of the 3rd lunar month of Canh Than and was buried at the mausoleum in the Dong Thai area.”

The stele further records that during the Later Le Restoration period, the Le court allocated a total of 90 mau and 2 sao of land to Thai Lang (including 65 mau for King Tran Anh Tong and 30 mau 2 sao for the Empress).

During the Nguyen Dynasty, in the 21st year of Minh Mang (1840), King Minh Mang ordered the erection of steles marking the locations of the Tran kings’ mausoleums in the An Sinh area, including Thai Lang. This stele still exists at the site today, bearing the inscription:

“On the 6th day of the 9th lunar month of the 21st year of Minh Mang, by imperial command, a stele was erected at the mausoleum of Emperor Tran Anh Tong.”

Dai Nam nhat thong chi also records:

“Dong Thai Mausoleum, the mausoleum of Tran Anh Tong, with the secondary burial of Empress Bao Tu, is located atop a small hill in Yen Sinh Commune; stone dragons and stone steps still remain.”

Meanwhile, the work Tran trieu thanh to cac xu dia do identifies Dong Thai Mausoleum as belonging to Doc Trai Commune, Me Son Canton, Dong Trieu District, Kinh Mon Prefecture, Hai Duong Province, and records and illustrates the form and content of the stele erected in the 21st year of Minh Mang.

From these sources, it can be affirmed that Thai Lang, also known as Dong Thai Mausoleum, is the burial place of King Tran Anh Tong and Empress Thuan Thanh Bao Tu. In the 12th lunar month of 1320, after his death at Thien Truong Prefecture, King Tran Anh Tong was escorted here for burial; in 1332, Empress Bao Tu was secondarily buried at Thai Lang. This was the first royal mausoleum of the Tran Dynasty built in An Sinh, marking the beginning of An Sinh’s role as the official royal mausoleum complex of subsequent Tran emperors.

Architectural Landscape

Thai Lang was constructed on the summit of a low hill situated in the center of a closed valley, a location considered exceptionally favorable in terms of feng shui. The eastern, western, and northern sides of the mausoleum are surrounded by high mountain ranges, forming a solid natural barrier. The Phu Am Tra Stream, originating from the Ngoa Van area, flows in an east–west direction, winding across the front of the mausoleum before converging at the minh duong (bright hall), creating a clear water-gathering formation. Further ahead flows the gently meandering Cam River, and beyond that rise the limestone mountains of the Kinh Mon region, serving as a massive natural screen. Together, these geographical elements form a complete geomantic configuration with all the classical feng shui components: Azure Dragon on the left, White Tiger on the right, a water-gathering minh duong, and a high mountain as the rear support, making Thai Lang a representative auspicious site within the Tran Dynasty royal mausoleum system.

Specifically, Thai Lang was built on Tan Quy Hill (also known as Tran Quy Hill), located in the middle of a valley shaped like an imperial throne, firmly enclosed by high mountains on three sides. Today, the mausoleum lies within the area of Trai Loc Reservoir, An Sinh Commune, Dong Trieu Town, Quang Ninh Province, about 3.5 kilometers from An Sinh Temple. However, the natural landscape of Thai Lang has undergone significant changes compared to the past. The construction of the Trai Loc Dam in the late 1970s and early 1980s blocked the Phu Am Tra Stream, turning the entire valley around Tan Quy Hill into a large body of water. As a result, Tan Quy Hill became a small island in the middle of Trai Loc Reservoir, locally known as Vua Island (King’s Island).

In 2007–2008, archaeologists conducted excavations in the central area of Thai Lang, clearly identifying the overall layout of the mausoleum. The results showed that the core of the mausoleum is located on the hilltop, with an architectural layout consisting of three nearly square platforms stacked in a pyramidal form. The main sanctuary was placed at the center on the highest platform, serving as the nucleus of the entire complex. Auxiliary structures on the lower platforms were arranged around it, forming a compact and enclosed spatial organization.

In front of the central area lies the spirit path, ceremonial courtyard, and a system of three stone stairways serving as entrances. The stairways were all constructed of stone and carved with exquisite dragon motifs, clearly reflecting the court art style of the Tran Dynasty. The two side pathways were also equipped with stone balustrades decorated with crocodile motifs, a characteristic element of royal architecture of this period. Archaeological remains of building foundations indicate that Thai Lang was once very large in scale, solidly constructed with numerous wooden structures roofed with lotus-bud tiles, and with dragon decorations on roof ridges and corners, projecting the grandeur and majesty of Tran Dynasty royal mausoleum architecture.

In 2011, Thai Lang underwent restoration and conservation in strict adherence to archaeological and historical values. The original architectural ground plan of the central area was preserved in situ beneath the ground, while reconstructed ground-level traces based on archaeological findings were created at a higher elevation for research and visitor access. Behind the central area, a new structure was built to serve as a place of worship for King Tran Anh Tong and Empress Bao Tu. At the same time, auxiliary facilities such as a reception house, boat pier, and parking area were developed in a coordinated manner, facilitating visitor access and worship, while contributing to the preservation and contemporary valorization of the site.

References

  1. Đồng Thái lăng | Cổng thông tin thị xã Đông Triều
  2. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  3. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Giá trị Khu di tích Quốc gia Đặc biệt – Khu di tích lịch sử Nhà Trần tại Đông Triều Quảng Ninh.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, Tập 4, Nxb Thuận 
  5. Thái Lăng – Lăng mộ đầu tiên của vua Trần ở quê gốc Đông Triều – Báo Quảng Ninh điện tử
  6. Thái Lăng – Lăng vua Trần Anh Tông và Hoàng hậu Bảo Từ 

Tiếng Pháp (Français’)

Nomination et situation géographique

Thai Lang, également appelé le tombeau Dong Thai, est le mausolée du roi Tran Anh Tong, quatrième souverain de la dynastie Tran, où est également inhumée en sépulture secondaire l’impératrice douairière Thuan Thanh Bao Tu. Il s’agit du premier mausolée de la dynastie Tran construit dans la région d’An Sinh, Dong Trieu, province de Quang Ninh.

Histoire et personnages
Histoire

Thai Lang fut édifié en l’année Canh Than (1320). Selon le Dai Viet su ky toan thu, il est clairement mentionné :

« Année Canh Than – septième année Dai Khanh (1320), au printemps, le sixième jour du troisième mois, le Souverain retiré (Tran Anh Tong) s’éteignit au palais Trung Quang, dans la préfecture de Thien Truong. Le cercueil fut conduit par la porte Tuong Phu et déposé provisoirement au palais Thanh Tu (Thang Long). Le douzième jour du douzième mois de l’année Canh Than (1320), le Souverain retiré Tran Anh Tong fut inhumé au Thai Lang, à An Sinh. »

Le Dai Viet su ky toan thu poursuit :

« Douze ans plus tard, au printemps, le quinzième jour du deuxième mois de l’année Nham Than (quatrième année Khai Huu – 1332), l’impératrice douairière Thuan Thanh Bao Tu (épouse du roi Tran Anh Tong) fut inhumée en sépulture secondaire au Thai Lang. »

Ces sources confirment que Thai Lang est le lieu d’inhumation officiel du Souverain retiré Tran Anh Tong et de l’impératrice Bao Tu, tout en montrant que la formation et l’achèvement du complexe funéraire se sont déroulés en plusieurs phases.

Le roi Tran Anh Tong, quatrième empereur de la dynastie Tran, portait le nom personnel de Tran Thuyen et était le fils du roi Tran Nhan Tong. Il naquit le 17 septembre de l’année Binh Ty (1276). En 1293, à l’âge de dix-sept ans, il reçut l’abdication de son père et monta officiellement sur le trône. Il régna durant vingt et une années, puis vécut encore six ans en tant que Grand Empereur retiré. Le 16 mars de l’année Canh Than (1320), il s’éteignit au palais Trung Quang, dans la préfecture de Thien Truong, à l’âge de quarante-sept ans.

Les chroniques historiques décrivent Tran Anh Tong comme un souverain au caractère bienveillant et vertueux, tout en faisant preuve de fermeté et de décision dans la conduite des affaires de l’État. Sous son règne, le royaume de Dai Viet connut une période de paix et de prospérité ; le territoire continua de s’étendre et les domaines économique et culturel se développèrent de manière stable. Tran Anh Tong était en outre un fervent adepte du bouddhisme. Grâce à sa protection et à celle de la cour, le bouddhisme, en particulier l’école zen Truc Lam, atteignit son apogée. Le roi participa directement à la construction ou au financement de nombreux grands édifices bouddhiques tels que la tour Pho Minh (Nam Dinh), le monastère de Quynh Lam et l’ermitage–pagode de Ngoa Van. Il alla jusqu’à offrir son propre sang, ainsi que celui de membres du palais et de dames de cour, pour calligraphier vingt volumes de petit format du Tripitaka, conservés au monastère de Quynh Lam, témoignant d’une dévotion exceptionnelle pour un souverain.

La stèle Tran trieu bi ky, conservée au temple d’An Sinh et gravée en la quatrième année Thieu Tri (1844), reprend le texte d’une stèle érigée en la dixième année Chinh Hoa (1689), sous le règne du roi Le Hy Tong. Elle précise :

« L’empereur Tran Anh Tong est décédé le 16 mars de l’année Canh Than et a été inhumé au mausolée du territoire de Dong Thai. »

La stèle indique également que, durant la période de la Restauration des Le, la cour accorda au Thai Lang un total de 90 mau 2 sao de terres (dont 65 mau pour le roi Tran Anh Tong et 30 mau 2 sao pour l’impératrice).

Sous la dynastie Nguyen, en la vingt-et-unième année Minh Mang (1840), l’empereur Minh Mang ordonna l’érection de stèles marquant l’emplacement des tombeaux des rois Tran dans la région d’An Sinh, dont Thai Lang. La stèle subsiste encore aujourd’hui sur le site, portant l’inscription :

« En la vingt-et-unième année Minh Mang, le sixième jour du neuvième mois, sur ordre impérial, stèle érigée pour le mausolée de l’empereur Tran Anh Tong. »

Le Dai Nam nhat thong chi mentionne également :

« Le mausolée Dong Thai, tombeau de Tran Anh Tong, avec l’inhumation secondaire de l’impératrice Bao Tu, se situe au sommet d’une petite montagne de la commune de Yen Sinh ; on y trouve encore des dragons de pierre et des degrés en pierre. »

Par ailleurs, l’ouvrage Tran trieu thanh to cac xu dia do situe le mausolée Dong Thai dans la commune de Doc Trai, canton de Me Son, district de Dong Trieu, préfecture de Kinh Mon, province de Hai Duong, et en reproduit la forme ainsi que le contenu de la stèle érigée en la vingt-et-unième année Minh Mang.

L’ensemble de ces sources permet d’affirmer que Thai Lang, également appelé le mausolée Dong Thai, est le tombeau du roi Tran Anh Tong et de l’impératrice Thuan Thanh Bao Tu. En décembre 1320, après son décès à la préfecture de Thien Truong, le roi Tran Anh Tong y fut inhumé ; en 1332, l’impératrice Bao Tu y fut à son tour enterrée en sépulture secondaire. Il s’agit du premier mausolée de la dynastie Tran construit à An Sinh, ouvrant la voie au choix de cette région comme zone funéraire officielle des souverains Tran ultérieurs.

Architecture et paysage

Thai Lang fut édifié au sommet d’une colline basse, au cœur d’une vallée fermée, offrant une configuration géomantique particulièrement favorable. Les côtés est, ouest et nord du complexe sont entourés de hautes chaînes montagneuses formant une protection solide. Le ruisseau Phu Am Tra, prenant sa source dans la région de Ngoa Van, s’écoule d’est en ouest, serpente devant le mausolée et converge ses eaux dans l’espace du minh duong, créant une configuration nette de rassemblement des eaux. Plus en avant se trouve la rivière Cam, aux méandres gracieux, et, au-delà, la chaîne de montagnes calcaires de la région de Kinh Mon, dressée tel un vaste écran naturel. L’ensemble de ces éléments confère à Thai Lang une configuration complète réunissant tous les critères classiques du feng shui : dragon azur à gauche, tigre blanc à droite, espace frontal recueillant les eaux, montagne élevée en soutien arrière, faisant de ce site une terre faste emblématique du système funéraire de la dynastie Tran.

Plus précisément, Thai Lang est implanté sur la colline Tan Quy (également appelée Tran Quy), au centre d’une vallée présentant une configuration en « trône », solidement entourée par des montagnes sur trois côtés. Aujourd’hui, le site se situe dans la zone du lac Trai Loc, commune d’An Sinh, ville de Dong Trieu, province de Quang Ninh, à environ 3,5 km du temple d’An Sinh. Toutefois, le paysage naturel actuel diffère sensiblement de celui du passé. La construction du barrage de Trai Loc à la fin des années 1970 et au début des années 1980 a obstrué le cours du ruisseau Phu Am Tra, transformant la vallée entourant la colline Tan Quy en un vaste plan d’eau. La colline est ainsi devenue une petite île au centre du lac Trai Loc, connue localement sous le nom d’« île du Roi ».

En 2007–2008, des fouilles archéologiques ont été menées dans la zone centrale de Thai Lang, permettant d’identifier clairement la structure générale du complexe. Les résultats montrent que le centre du mausolée se situe au sommet de la colline, avec un plan architectural composé de trois terrasses de forme presque carrée, superposées en pyramide. Le sanctuaire principal occupe la position centrale sur la terrasse la plus élevée, constituant le noyau de l’ensemble. Les bâtiments annexes, disposés sur les niveaux inférieurs, s’organisent autour de ce centre, formant un espace clos et cohérent.

Devant le centre du mausolée se trouvent l’axe de la voie sacrée, la cour cérémonielle et un système de trois accès par des escaliers. Tous les degrés sont construits en pierre et sculptés de dragons d’une grande finesse, illustrant clairement le style artistique de la cour à l’époque Tran. Les deux passages latéraux sont pourvus de balustrades en pierre ornées de motifs de crocodiles, un décor caractéristique de l’architecture royale de cette période. Les vestiges des fondations architecturales mis au jour indiquent qu’autrefois Thai Lang possédait une ampleur considérable, avec de nombreuses constructions en bois, des toitures couvertes de tuiles en bouton de lotus, et des décors de dragons sur les faîtages et les angles de toit, dégageant une impression de magnificence et de solennité propre aux mausolées royaux de la dynastie Tran.

En 2011, Thai Lang a fait l’objet de travaux de restauration et de mise en valeur, menés dans le plus grand respect des données archéologiques et historiques. Le plan du noyau architectural central a été conservé intact sous terre ; les vestiges mis au jour par l’archéologie ont été restitués à un niveau supérieur afin de servir à la recherche et à la visite. À l’arrière du centre, un nouvel édifice a été construit pour le culte du roi Tran Anh Tong et de l’impératrice Bao Tu. Parallèlement, des infrastructures annexes telles que pavillon d’accueil, embarcadère et parking ont été aménagées de manière cohérente, facilitant l’accueil des visiteurs et des fidèles, tout en contribuant à la valorisation du site dans la vie contemporaine.

Références

  1. Đồng Thái lăng | Cổng thông tin thị xã Đông Triều
  2. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  3. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Giá trị Khu di tích Quốc gia Đặc biệt – Khu di tích lịch sử Nhà Trần tại Đông Triều Quảng Ninh.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, Tập 4, Nxb Thuận 
  5. Thái Lăng – Lăng mộ đầu tiên của vua Trần ở quê gốc Đông Triều – Báo Quảng Ninh điện tử
  6. Thái Lăng – Lăng vua Trần Anh Tông và Hoàng hậu Bảo Từ 

Tiếng Trung (中文)

名称与地理位置

太陵,又称同太陵,是陈英宗皇帝的陵墓,并合葬顺圣保慈皇太后。陈英宗为陈朝第四位皇帝。这是陈朝在安生(今广宁省东潮市安生地区)修建的第一座皇陵。

历史与人物

太陵建于庚申年(1320年)。据《大越史记全书》记载:

“庚申年——大庆七年(1320年),春三月初六日,上皇(陈英宗)崩于天长府重光宫,奉灵柩入祥符门,停于圣慈宫(升龙)。庚申年十二月十二日(1320年),葬上皇陈英宗于安生太陵。”

《大越史记全书》又记:

“十二年后,壬申年(开祐四年——1332年)春二月十五日,合葬顺圣保慈皇太后(陈英宗之妻)于太陵。”

这些史料确认,太陵为上皇陈英宗及保慈皇后的正式安葬之所,同时也表明陵区的形成与完善经历了多个阶段。

陈英宗是陈朝第四位皇帝,名讳陈诠,为陈仁宗之子,生于丙子年九月十七日(1276年)。1293年,年仅十七岁的陈英宗承父让位,正式即位,在位二十一年,退位后又以太上皇身份六年。庚申年三月十六日(1320年),陈英宗崩于天长府重光宫,享年四十七岁。

史书评价陈英宗性情敦厚、品德仁厚,同时又能果断处理朝政。在其统治时期,大越进入太平盛世,疆域持续拓展,经济与文化各领域稳定发展。尤其值得一提的是,陈英宗笃信佛教,在其本人及朝廷的护持下,佛教,特别是竹林禅派,发展至极盛阶段。皇帝亲自主持或施资修建多项大型佛教工程,如南定普明塔、琼林佛院、卧云庵—寺等。此外,他还亲自与后宫及宫女刺血书写二十卷小本《大藏经》,供奉于琼林佛院,充分体现了一位君主罕见的虔诚佛教信仰。

安生庙内立有《陈朝碑记》,刻于绍治四年(1844年),为重刻正和十年(1689年)黎熙宗时期所立碑文,其内容记载:

“(陈)英宗皇帝,庚申年三月十六日崩,葬于同太之陵。”

碑文还记载,黎中兴时期,黎朝廷共赐给太陵九十亩二分田地(其中六十五亩赐予陈英宗,三十亩二分赐予皇后)。

至阮朝,明命二十一年(1840年),明命皇帝下令在安生地区为陈朝诸帝陵寝立碑,其中包括太陵。碑文至今尚存,其内容为:

“明命二十一年九月初六日,奉旨于陈英宗皇帝陵立碑。”

《大南一统志》亦载:

“同太陵,陈英宗之陵,合葬保慈皇后,在安生社小山之巅,今尚存石龙与石阶。”

此外,《陈朝圣祖各处地图》记载,同太陵属督寨社、米山总、东潮县、经门府、海阳省,并记述和绘制了明命二十一年所立石碑的形制与内容。

综合上述史料可以确认,太陵,又称同太陵,是陈英宗皇帝与顺圣保慈皇太后的陵墓。1320年十二月,陈英宗在天长府崩逝后被奉安于此;1332年,保慈皇太后亦合葬于太陵。此陵为陈朝在安生修建的第一座皇陵,开启了安生成为陈朝历代皇帝官方山陵区的先河。

建筑与景观

太陵选址于一处低丘之巅,位于封闭山谷之中,地势在风水上极为优越。陵区东、西、北三面为高山环绕,形成稳固的屏障。府庵茶溪发源于卧云地区,自东向西流淌,在陵前蜿蜒并汇聚于明堂,形成明显的聚水之势。远处为蜿蜒柔和的锦江,更远处则是经门地区巍峨的石灰岩山脉,构成规模宏大的天然屏风。整体地形具备传统风水的完整要素:左青龙、右白虎、明堂聚水、后枕高山,被视为陈朝山陵体系中极具代表性的吉地。

具体而言,太陵建于伞鬼丘(又称额鬼丘)之上,四周为三面高山环抱,形成稳固的“扶手椅”式地形。现今陵区位于广宁省东潮市安生社寨洛湖范围内,距安生庙约3.5公里。然而,太陵的自然景观已较历史时期发生显著变化。20世纪70年代末至80年代初修建寨洛水坝,截断府庵茶溪,使环绕伞鬼丘的整个山谷形成一片广阔水域。伞鬼丘遂成为寨洛湖中的一座小岛,当地民间俗称“王岛”。

2007—2008年间,考古学家对太陵中心区域进行了发掘,明确了陵区整体平面结构。结果显示,陵区中心位于丘顶,建筑基址由三层近方形台基逐级叠置,呈金字塔式布局。正寝设于最高台基中央,作为整个陵区的核心;较低台基上的附属建筑环绕布置,构成封闭而严整的空间格局。

陵区中心前方为神道、祭祀庭院及由石阶构成的三处出入口。石阶均以石材砌筑,并雕刻精美龙纹,充分体现陈代宫廷艺术风格。两侧通道还设有石栏,装饰鳄鱼纹样,为这一时期皇家建筑的典型装饰元素。考古发现的建筑基址遗迹表明,昔日太陵规模宏大,结构坚固,包含大量木构建筑,屋顶覆莲瓣瓦,屋脊及檐角装饰龙形构件,展现出陈朝皇陵建筑的雄伟与庄严。

2011年,太陵在充分尊重考古与历史价值的基础上进行了修复与整饰。中央建筑平面原址被原状保护于地下;考古发现的平面遗迹则在较高标高处加以复原,以服务研究与参观需求。中心区后方新建祭祀建筑,用以供奉陈英宗皇帝与保慈皇太后。同时,接待设施、码头、停车场等配套工程也同步建设,为游客与民众参观、礼拜创造便利条件,并有助于遗址价值在当代社会中的持续发挥。

参考资料

  1. Đồng Thái lăng | Cổng thông tin thị xã Đông Triều
  2. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  3. Kỷ yếu hội thảo khoa học: Giá trị Khu di tích Quốc gia Đặc biệt – Khu di tích lịch sử Nhà Trần tại Đông Triều Quảng Ninh.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, Tập 4, Nxb Thuận 
  5. Thái Lăng – Lăng mộ đầu tiên của vua Trần ở quê gốc Đông Triều – Báo Quảng Ninh điện tử
  6. Thái Lăng – Lăng vua Trần Anh Tông và Hoàng hậu Bảo Từ 
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)