TRẦN MINH TÔNG (1300 – 1357)

TRẦN MINH TÔNG (1300 – 1357)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Trần Minh Tông (chữ Hán: 陳明宗, 21 tháng 8 năm 1300 – 10 tháng 3 năm 1357) là vị hoàng đế thứ năm của Hoàng triều Trần nước Đại Việt. Ông giữ ngôi từ ngày 3 tháng 4 năm 1314 đến ngày 15 tháng 3 năm 1329, sau đó làm Thái thượng hoàng đến khi qua đời. Thời kỳ của ông và cha ông được mệnh danh là thời kỳ hưng thịnh của vương triều nhà Trần.

Trần Minh Tông có tên húy là Mạnh (陳奣), ông là con thứ tư của Trần Anh Tông đích mẫu của ông là Thuận Thánh Bảo Từ hoàng hậu (con gái của Hưng Nhượng Đại Vương Quốc Tảng), thân mẫu của ông là Chiêu Hiến Hoàng hậu, nguyên là Huy Tư hoàng phi họ Trần (con gái của Bảo Nghĩa Vương Bình Trọng), theo như Đại Việt sử ký toàn thư, vua sinh vào ngày 21 tháng 8 năm Canh Tý, chỉ một ngày sau khi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn qua đời.

Mùa thu, tháng 8, ngày 20, Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn mất ở phủ đệ Vạn Kiếp, được tặng Thái sư thượng phụ thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương.

[…]

Ngày 21, hoàng tử Mạnh sinh. 

Do các hoàng tử sinh ra trước đó đều khó nuôi cả, khi hoàng tử Mạnh ra đời, vua Trần Anh Tông đã nhờ Thụy Bảo Công chúa (con gái vua Trần Thái Tông nuôi hộ, cô của Trần Nhân Tông) nuôi hộ. Song công chúa cho là bấy giờ bà đang có vận hạn, nên nhờ anh mình là Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật nuôi.

Bấy giờ, các hoàng tử đều không nuôi được, đến khi Mạnh sinh, vua nhờ công chúa Thụy Bảo [tức là cô của Nhân Tông] nuôi hộ. Nhưng công chúa cho là bấy giờ bà đương có vận hạn, lại nhờ Nhật Duật nuôi. (Nhật Duật là anh công chúa Thụy Bảo). Nhật Duật coi là trách nhiệm của mình, chăm sóc, nuôi nấng, không khác gì con mình. Nhật Duật nghĩ rằng con trưởng của mình tên là Thánh An, con gái tên là Thánh Nô, mới đặt tên cho hoàng tử là Thánh Sinh, vì muốn [tên hoàng tử] cũng giống với tên con mình. Hoàng tử từ bé nhờ nuôi nấng, đến khi lên ngôi vua, công chăm nom của Nhật Duật rất nhiều. 

Từ khi mới năm tuổi, vua cha đã phong hoàng tử Mạnh làm Đông cung thái tử, dốc lòng dạy dỗ. Ngài tự soạn một bài giáo huấn mang tên Dược thạch chân để răn dạy con mình, và tới suốt những năm đầu trị vì của Minh Tông hoàng đế, vua Anh Tông vẫn luôn sát sao chỉ dạy, khuyên bảo. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép:

Ất Tỵ, [Hưng Long] năm thứ 13 [1305], (Nguyên Đại Đức năm thứ 9). Mùa xuân, tháng giêng, sách phong hoàng tử thứ tư là Mạnh làm Đông cung thái tử, (vua) làm bài Dược thạch châm ban cho.

[…]

Khi vua ở Đông cung, đang tuổi ấu thơ, có lần nghịch làm chiếc giá đèn bằng tre, Anh Tông đòi xem, sợ không dám dâng. Hôm khác, vào hầu tẩm điện Anh Tông đang rửa mặt, nhân hỏi đến trò nghịch cũ, Anh Tông giận lắm, cầm ngay cái chậu rửa mặt ném vua.Vua nấp vào cánh cửa tránh được, chậu rơi trúng cánh cửa vỡ tan. 

[…]

Thượng hoàng có lần ban bữa ăn cho vua. Vua nhai rất kỹ, Thượng hoàng nói: “Đàn ông phải ăn như rồng nuốt, cọp cắn, cần gì phải nhai kỹ?”. Khi ban bữa ăn cho vương hầu, thượng hoàng cũng dụ như thế. 

Chính Ngô Sĩ Liên cũng chua thêm rằng:

Cái đức của Minh Tông mà nên được, tuy là do thiên tư tốt đẹp, cũng còn do sức dạy bảo của vua cha. […] Được sự răng dạy nghiêm ngặt như vậy, cho nên tài đức của vua do đấy mà nên và cả các con cũng đều có tài nghệ cả.  

Bối cảnh lịch sử

Khi Trần Minh Tông 14 tuổi, ông được vua Trần Anh Tông truyền lại ngôi báu vào ngày 18 tháng 3 năm Giáp Dần (1314), trong giai đoạn nhà Trần đang duy trì sự ổn định sau các cuộc kháng chiến chống Nguyên và dưới sự trị vì mạnh mẽ của các vua tiền nhiệm. Trần Minh Tông lấy niên hiệu là Đại Khánh, tự xưng là Ninh Hoàng, tông Thượng hoàng Trần Anh Tông là Quan Nghiêu Duệ Vũ Thái Thượng Hoàng Đế, tôn đích mẫu lên làm Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng Thái Thượng Hoàng Hậu, quần thần dâng tông hiệu là Thể Thiên Sùng Hóa Khâm Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế và đại xá thiên hạ. Sứ thần nhà Nguyên đến dự lễ đăng quang của Minh Tông đã khen vua là một người có tư thái như thần tiên.

Sau khi vua nhận nhường ngôi, sứ Nguyên sang, làm lễ đọc quốc thư xong, hôm sau ban yến. Vua mặc áo tràng vạt bằng là màu vàng, đội mũ có thao, sứ giả khen vua là “thanh thoát như thần tiên”. Đến khi về nước, [sứ giả] thường nói đến vẻ người thanh tú của vua. 

Sau này, sứ ta sang [Nguyên], có người hỏi rằng: “Tôi nghe nói thế tử vẻ người thanh tú nhẹ nhõm như thần tiên có đúng không?”. 

Sứ ta trả lời: “Đúng như thế, song cũng là tiêu biểu cho phong thái cả nước”.

Sau Nguyễn Trung Ngạn và Phạm Mại sang Nguyên đáp lễ. 

Trong lịch sử nhà Trần, ông là thái tử kế vị đầu tiên không phải do vợ chính của vua cha sinh ra.

Sự nghiệp trị quốc

Giáo dục – khoa cử

Trần Minh Tông tỏ ra là một vị vua sáng suốt trong việc rèn người và dùng người. 

Về giáo dục khoa cửa, ông đã hai lần tổ chức thi Thái sinh để tìm người tài giúp nước. Những thí sinh đỗ kỳ thi được giữ chức Bạ thư lệnh, và sau đó phải trải qua thêm thời gian tập huấn từ Cục chính viên Nguyễn Bính mới được bổ nhiệm vào những chức vụ cao cấp hơn.

Cải cách hành chính – pháp luật

Trần Minh Tông chú trọng việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp, ông thường đích thân xử lý chính sự, quản việc vun đắp đê điều, xuống chiếu quy định  ruộng đất tránh việc dân bị chiếm đoạt mất ruộng, tranh nhau, hay nhận bừa mà không có văn khế. 

Sau nước sông lên to, vua đích thân đi xem đắp đê. 

Quan ngự sử tâu: “Bệ hạ nên chăm sửa đức chính, xem làm gì việc đắp đê nhỏ nhặt”. 

Khắc Chung nói: “Khi dân bị nạn lụt, người làm vua phải cứu giúp tai họa khẩn cấp đó, sửa đức chính không gì lớn hơn việc đó, cần gì phải ngồi thinh, tư lự rồi bảo là “sửa đức chính?”

[…]

Đinh Tỵ, [Đại Khánh] năm thứ 4 [1317], (Nguyên Diên Hựu năm thứ 4). Mùa xuân, tháng 3, làm lễ thành hôn cho năm công chúa là Thiên Chân, Ý Trinh, Huy Chân, Huệ Chân, Thánh Chân. 

Huy Chân lấy Uy Giản hầu (không rõ tên). Trước đây, mẹ thân sinh Huy Chân là Trần Thị Thái Bình làm cung tần của Thượng hoàng, tính tham lam, thường chiếm đoạt ruộng đất của dân. Có người kiện, vua không giao cho hữu ty, gọi Uy giản tới đưa đơn kiện cho xem và dụ rằng: 

“Trẫm không giao cho quan lại xét, sợ làm nhục phi tần của tiên hoàng, ngươi nên theo đơn mà trả [ruộng cho] dân”. 

Uy Giản lập tức vâng chiếu trả lại ruộng. Sau Thái Bình chết, Uy Giản đem tất cả ruộng [bà] chiếm đoạt khi trước trả lại cho chủ cũ. Vua vì thế khen ông.

[…]

Mùa đông, tháng 10 (năm 1320), xuống chiếu rằng những người tranh nhau ruộng đất, nếu khám xét thấy không phải của mình mà cố tranh bậy thì bị truy tố, tính giá tiền ruộng đất, bắt đền gấp đôi. Nếu làm văn khế giả, thì bị chặt một đốt ngón tay bên trái. 

Tháng 11, Điện súy thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão mất tại phũ đệ vua ban ở vườn cau trong thành, thọ 66 tuổi. Vua nghỉ chầu 5 ngày, đó là ân điển đặc biệt.  

[…]

(Năm 1323) Xuống chiếu rằng khi tranh ruộng mà ruộng có lúa, thì hãy chia làm 2 phần, bồi thường cho người cày 1 phần, còn 1 phần lưu lại. Đó là theo lời tâu của Đại an phủ Kinh sư kiêm Kiểm pháp quan Nguyễn Dũ. Dũ nổi tiếng ngang với Thiên Hư. Khi Thiên Hư thôi chức Kinh lược sứ Nghệ An, Lâm Bình, vua sai Dũ kế chức ấy. 

Người Chiêm cũng sợ phục.

[…]

Ông cải tổ bộ máy hành chính: đổi Hành khiển ty thành Môn hạ sảnh, điều chỉnh tổ chức Nội mật viện. Đặt thêm Ty Liêm phỏng ở các lộ để kiểm tra và giám sát địa phương, đồng thời trọng dụng thêm nhiều văn sĩ Nho học có thực tài, đõ đạt cao như Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạc, Bùi Mộc Đạt, Lê Quát,… vào những chức vụ lớn, thay thế cho thế hệ tôn thất – công thần những thời trước đã dần suy giảm do già yếu, mất đi hoặc không còn hứng thú đến việc chính sự.

Bấy giờ, quan trong triều như bọn Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Đỗ Thiên Hư, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Dũ, Phạm Mai, Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Lê Duy (Duy người xã Cổ Định, huyện Nông Cống), Trương Hán Siêu, Lê Cư Nhân nối nhau vào triều, nhân tài rộ nở. 

Sau khi nhường ngôi cho Thái tử Trần Vượng (tức Trần Hiến Tông) vào năm Kỷ Tỵ (1329), thời gian đầu Minh Tông ở ngôi Thượng vẫn nắm quyền quyết định mọi việc trong nước. Vua chăm lo và cho các quan các lộ lập kho chứa thóc tô để cứu trợ dân đói trong thiên tai ở giai đoạn 1333 – 1338.

Tới mùa xuân năm 1344, ngài ban bố thêm một số cải cách hành chính bao gồm: 

Đổi Hành khiển ty ở cung Thánh Từ làm Thương thư sảnh, còn Hành khiển ty ở cung Quan Triều vẫn để là môn hạ sảnh như cũ.

Đặt đại sứ và phó sứ của viện Tuyên Huy.

Đổi kiểm pháp quan của viện Đăng Văn thành Đình úy, Tự khanh và Thiếu khanh.

Đặt đồn điền sứ và phó sứ ở ty Khuyến nông.

Lộ lớn thì đặt An phủ sứ và phó sứ, thuộc châu thì đặt Thông phán. Lại đặt chức Đề hình và chức Tào ty chuyển vận ở lộ nhỏ. Phủ Thiên Trường thì đặt là Thái phủ và Thiếu phủ.

Đồng thời cũng ban hành các biện pháp như “giảm một nửa thuế nhân đinh” (1343), “soát tù, giảm tội bọn tội phạm” (1345) và “giảm một nửa tô ruộng” (1354) nhằm cải thiện dân tình. Sau khi dân tình ổn định, kinh tế phát triển, hoạt động buôn bán diễn ra nhộn nhịp, chủ yếu là với thuyền buôn Trung Quốc. Do vậy triều đình chủ trương kiểm soát ngoại thương. Tháng 11 âm lịch năm 1349, Trần Minh Tông đặt ra quan trấn, quan lộ và sát hải sứ ở trấn Vân Đồn, lại đặt quân Bình Hải để đề phòng giặc cướp và quản lý Vân Đồn. Chính sách kiểm soát ngoại thương sẽ còn được phát triển rộng trong thời Lê, đưa đến tình trạng bế quan tỏa cảng.

Quân sự

Đầu triều Trần Minh Tông, tình hình bang giao giữa Đại Việt và Nguyên – Mông khá ổn định, song ở phía Nam, quan hệ với Chiêm Thành diễn ra căng thẳng. Lợi dụng thời gian Trần Minh Tông lên ngôi (năm 1314), Chế Năng, vua Chiêm Thành khi ấy là chư hầu nhà Trần, lập mưu chiếm lại hai châu Thuận, Hóa (mà người Chiêm gọi là Ô, Lý) và thoát khỏi sự lệ thuộc Đại Việt. 

Năm 1318, với việc vua lần lượt cử các tướng tài như Trần Quốc ChẩnPhạm Ngũ Lão chỉ huy quân đội tấn công Chiêm Thành, dầu ban đầu gặp bất lợi, nhưng cuối cùng quân Đại Việt đã đánh tan quân Chiêm và buộc Chế Năng phải trốn sang đảo Java. Đây là chiến dịch lớn, góp phần giữ vững vùng biên phía Nam.

Mậu Ngọ, [Đại Khánh] năm thứ 5 [1318], (Nguyên Diên Hựu năm thứ 5). Mùa xuân, tháng 2, ngày 18, đem trưởng công chúa Thiên Chân gả cho Huệ Chính vương (không rõ tên). 

Phong Huệ làm Phò ký lang. 

Mùa thu, tháng 8, ngày 19, Tuyên Từ thái hậu băng. Sai Huệ Vũ Đại Vương Quốc Chẩn đi đánh Chiêm Thành. Tộc tướng nhà Lý là Hiếu Túc hầu Lý Tất Kiến chết tại trận. Quản Thiên võ quân Phạm Ngũ Lão tung quân đánh phía sau giặc. Quân giặc thua chạy, bắt được rất nhiều. Phong Ngũ Lão tước Quan nội hầu, ban cho phi ngư phù và cho con ông làm quan

Năm 1323, vua quy định quân đội phải tuyển người béo trắng, từ đây, binh lính Đại Việt không còn xăm hình rồng ở đùi và lưng nữa.

Năm 1324, nhận được cống nạp từ Chiêm, Nguyên Anh Tông (nhà Nguyên) sai sứ sang dụ Minh Tông phải tôn trọng chủ quyền của Chiêm Thành, vua sai Huệ Túc vương Trần Đại Niên tấn công Chiêm lần hai vào năm 1326 để bảo toàn quyền lợi, song cuối cùng thất bại. Chiêm Thành từ đó giành lại quyền tự trị, không còn bất cứ sự liên đới nào với Đại Việt. Vua Minh Tông đã quy trách nhiệm thất bại của cuộc chiến này do mình:

Huệ Túc Vương đánh Chiêm Thành không thắng lợi trở về. 

Vua nói: “Tiên đế tắm mưa gội gió mới bắt được chúa nước nó. Quốc phụ là một trọng thần, phụng mệnh đi đánh, khiến chúa nước giặc là Chế Năng phải chạy sang nước khác (Chế Năng chạy sang Trảo Oa cầu cứu), lập tù trưởng A Nan làm Hiệu Thánh á vương. Nay Huệ Túc chỉ là một vương thôi, uy vọng không thể sánh với Quốc phụ, thế mà ta cứ ở yên trong cung, trao cho chuyên việc đánh dẹp, muốn bắt sống chúa nó thì làm nổi chăng?”

Điều này cho thấy sự khiêm tốn, biết nhìn lại mình để rút kinh nghiệm và sửa sai của vua. Về sau, khi làm Thái thượng hoàng, ông đích thân thân chinh đánh Ngưu Hống ở Đà Giang, thể hiện tinh thần xông pha trận mạc, dù tuổi cao. Ông không chấp nhận lời can ngăn của Trần Khắc Chung, quyết đánh để cứu dân khỏi loạn lạc. Chiến dịch này tuy không toàn thắng, nhưng gây uy danh lớn, khiến Ai Lao phải bỏ chạy.

Mùa đông, Thượng hoàng đi tuần thú đạo Đà Giang, đích thân đi đánh man Ngưu Hống, sai Thiêm tri Nguyễn Trung Ngạn đi theo để biên soạn thực lục. 

Trước đó, thời Nhân Tông, Ngưu Hống cùng Đạo Mật vào chầu, cho trở về. Đến nay, chúng làm phản, thả sức cướp bóc; đất cõi Đà Giang về tay chúng cả lại mưu cướp nhà Hoài Trung. Thượng hoàng quyết định thân chinh. Trần Khắc Chung can rằng: 

“Đà Giang vốn có tiếng là đất lam chướng, lại nhiều ghềnh thác chảy xiết, không lợi cho việc hành quân. Chiêm Thành không có lam chướng, khí độc, vả lại đế vương đời trước thân chinh, nhiều lần bắt được chúa nó. Chi bằng bỏ Ngưu Hống đấy mà đánh Chiêm Thành là hơn. Thượng hoàng nói: 

“Trẫm là cha mẹ dân, nếu sinh dân mắc vào cảnh lầm than thì phải cứu gấp, chả lẽ đi so đo khó dễ lợi hại hay sao?”. Khắc Chung lạy tạ tâu rằng: 

“Lòng thánh che chở, nuôi dưỡng rộng khắp, không phải là điều mà trí ngu tối của thần có thể nghĩ tới được”. 

Trước đây, khi Thượng hoàng sắp đi đánh Ngưu Hống, người Chiêm Chiêu đế cửa khuyết dâng thư, đinh ninh rằng sẽ xin đem cả trại ra hàng, nên đã khắc phù làm tin. Thượng hoàng đang muốn lên trên thành trại của họ, bắt chước chuyện vua Hán Vũ Đế lên đài của chúa Hung Nô ngày xưa. Đến khi thân chinh, sai Chiêm Nghĩa tiến sang để tiếp ứng quân nhà vua và dặn rằng: 

“Trại Chiêm Chiêu đã ước hẹn xin hàng, phải đợi quân ta tới, không được hành động liều”. 

Thượng hoàng đến Mường Việt, đóng quân lại, ban tên [cho đất ấy] là phủ Thái Bình; [ở đây] có suối Bác Tử, ban tên là suối Thanh Thủy. Chiêu Nghĩa hầu tới Chiêm Chiêu, muốn tâng công, tấn công trại, bị thua. Tuyên uy tướng quân Vũ Tư Hoằng liều sức chiến đấu, chết tại trận. Thượng hoàng nghe tin nói: “Đã lỡ rồi!”. 

Song chiến dịch này, Thượng hoàng đích thân chỉ huy, hiệu lệnh nghiêm minh, uy thanh vang dội, Ai Lao nghe tiếng chạy tan.

Đối nội – đối ngoại

Trong phần lớn thời gian trị vì, Minh Tông hoàng đế là một vị vua liêm chính. Ngài trên trọng những cựu thần, ban thưởng rất hậu, dưới quan lại của thời mình, vua cất nhắc hàng loạt văn thần có đỗ đạt cao, với các tôn thất không có thực tài, vua yêu mến, song không vì vậy mà cho làm chức lớn. 

[…]

Mùa đông, tháng 11 (năm 1320), sai tể thần, tôn thất và các quan gặt ruộng tịch điền. 

Sai Nhân Huệ Vương Khánh Dư đi Diễn Châu xét duyệt sổ lính, sổ dân, lấy Nội thư hỏa chánh chưởng phụng ngự Nguyễn Bính làm phó. 

Xong việc về triều, Bính đem tiền bổng dâng nộp. Vua sai hữu ty nhận lấy. Có người hỏi: “Bính nộp tiền bổng mà bệ hạ nhận, thần chưa hiểu là cớ làm sao?”. 

Vua đáp: “Bính nộp tiền bổng là thành thực, nếu trẫm không nhận, thì hãm Bính vào tội dối trá, cho nên nhận lấy để tỏ rõ Bính không gian dối.”

[…]

Bấy giờ rước linh cữu [thượng hoàng] đưa về Thiên Trường. Thuyền của Bảo Từ thái hậu có 8 dây kéo, thuyền của Huy Tư hoàng phi có 2 dây kéo. Người coi cấm quan có ý nịnh vua, lấy dây buộc thêm vào thuyền của hoàng phi. Tướng quân Trần Hựu nói: 

“Thuyền của thái hậu có 8 dây kéo là quy chế của nhà Trần để tỏ rõ danh phận trên dưới”, lập tước rút gươm cắt dây bỏ bớt đi. Việc đến tai vua, vua khen ông trung thành.

[…]

Trước đây, Anh Tông không khoẻ, vua ngày đêm ở luôn ngoài cửa phòng ngủ của Thượng hoàng, mỗi khi vào thăm thì cùng đi với Quốc Chẩn. Vì Anh Tông tin cậy Quốc Chẩn hơn cả, định đem vua gửi gắm Quốc Chẩn, cho nên không cho vào thăm một mình, mà phải cùng đi với Quốc Chẩn, cốt để cho tình nghĩa vua tôi được khăng khít và không còn nghi ngại gì nữa.

Thái học sinh Đặng Tảo thường xuyên đứng hầu bên giường ngự để viết di chiếu. Anh Tông băng, vua đích thân khâm liệm. Chỉ có Quốc phụ cùng Tảo và gia nhi chủ nô là Lê Chung tham gia việc này. Đến khi rước linh cữu về sơn lăng, Tảo, Chung đều tới hầu lăng tẩm. Hàng năm, khi vua bái yết lăng, Tảo thườn lánh đi chổ khác, chỉ có ý nguyện ở lại phụng thờ lăng tẩm mà thôi, chứ không đòi xin gì khác. 

Vua thương Tảo nghèo, ban cho 20 mẫu ruộng, sai Trần Thế Hưng mang giấy cho. Ruộng này khi trước đã ban cho thứ phi của vua là Thiên Xuân. Thiên Xuân cứ giữ giấy cũ mà cày cấy, thế mà Tảo vẫn không tranh chấp với bà. Thế Hưng  biết chuyện, tâu thực với vua. Vua lập tức thu lại giấy của Thiên Xuân, đem ruộng trả cho Tảo, Tảo cũng chẳng lấy làm mừng. 

Chung thì đời mồ mả tổ tiên, bán ruộng đất, nhà cửa, đem gia quyến vợ con đến Yên Sinh, chôn cất và làm nhà ở đấy. Cả hai người đều ở Yên Sinh cho đến khi mất. Sau này Nghệ Hoàng đến Yên Sinh, tưởng nhớ hai người bề tôi đó, liền sai Trần An trùng tu chùa cũ của Tảo và Chung, lại cấp ruộng để thờ cúng, ban tên chùa là chùa Trung Tiết.

[…]

Tháng 12 (năm 1323), sách phong con gái trưởng của Huệ Vũ Đại Vương Quốc Chẩn là Huy Thánh công chúa làm Lê Thánh hoàng hậu (tức là Hiến Từ thái hậu). 

Lấy Uy Giản hầu (không rõ tên) làm Tham thị triều chính trị quân quốc sự. Thân thuộc có kẻ chê chức ấy thấp. 

Uy Giản bảo chúng: “Bọn bay ngu quá, phàm bề tôi được chúa thượng trông tới, đều do ở lòng thánh lựa chọn, chứ không phải là sức người làm nổi, sao lại được càn rỡ nghĩ xằng? Ta may được đội ơn yêu quý, thực đã quá lòng mong muốn rồi, bàn chi đến chức cao hay thấp”. 

Vua nghe biết, cho là những lời nói phải.

[…]

Tuy vậy, Minh Tông không để những người này vượt qua khuôn phép nhà nước: Trương Hán Siêu khi làm Hành khiển từng bị phạt 300 quan tiền vì ỷ được vua tin yêu, vu cáo hình quan Phạm Ngộ, Lê Duy ăn đút lót; Đoàn Nhữ Hài từng bị phạt vì không ngăn Thiếu bảo Trần Khắc Chung đùa giỡn khi sét đánh lăng tẩm tiên đế. Ông cũng từng bác bỏ đề xuất của một số Nho thần nhằm thay đổi chế độ chính trị – xã hội cho giống với Trung Quốc.

Duy có khi vào năm 1328, vua đã ở ngôi được 15 năm mà chưa lập thái tử, lại nghe theo lời khuyên xằng bậy của Trần Khắc Chung mà ép Trần Quốc Chẩn tuyệt thực chết, bắt bớ hơn trăm người liên can thì phần nhiều đều kêu oan cả. Sau mọi chuyện vỡ lở rằng Chẩn bị vu oan, vua có lật lại án để xử, nhưng chuyện thì đã rồi.

Đại Việt sử ký toàn thư có viết:

Bấy giờ, vua ở ngôi đã 15 năm, tuổi đã cao mà vẫn chưa lập thái tử. Cha hoàng hậu là Quốc Chẩn giữ ý định đợi hoàng hậu có con rồi sẽ lập. Cương Đông Văn Hiến hầu (không rõ tên) là con (có sách chép là em) của Tá Thánh thái sư Nhật Duật, muốn đánh đổ hoàng hậu để lập hoàng tử Vượng, mới đem 100 lạng vàng đút lót cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần Phẫu, bảo nó vu cáo Quốc Chẩn âm mưu phản loạn. Vua tin là thực, giam Quốc Chẩn ở chùa Tư Phúc rồi đem việc ấy hỏi Thiếu bảo Trần Khắc Chung. Khắc Chung cùng cánh với Văn Hiến, lại cùng mẹ với Vượng, đều là người Giáp Sơn và đã từng làm thầy dạy Vượng, liền trả lời: “Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó”. Vua mới cấm tuyệt không cho Quốc Chẩn ăn uống, bắt phải tự tử. Hoàng hậu lấy áo tẩm nước cho Quốc Chẩn uống, uống xong thì chết. Bắt bớ đến hơn trăm người liên can. Mỗi khi xử án, bị can phần nhiều đều kêu oan. 

Vài năm sau, gặp khi vợ cả vợ lẽ tên Phẫu ghen nhau, đem chuyện Văn Hiến đút vàng tâu lên vua. Phẫu bị hạ ngục. Ngục quan Lê Duy là người cương trực, xét xử ngay ngày hôm ấy. Tên Phẫu bị lăng trì, nhưng chưa kịp hành hình thì gia nô của Thiệu Võ (không rõ tên) là con của Quốc Chẩn đã ăn sống hết cả thịt của nó. Văn Hiến được miễn tội chết, bị giáng làm dân thường, xóa tên trong sổ [hoàng tộc].

Có vẻ sự vụ này đã trở thành một kinh nghiệm cho ngài, những năm sau đó Trần Minh Tông đặc biệt chú tâm vào việc thường xuyên xét duyệt các quan văn võ, đồng thời cũng đốc thúc những hàng quan cấp dưới phải làm việc tương tự nhằm tránh giữ lại những quan viên biếng nhác gây hại cho bộ máy nhà nước.

Đinh Sửu, [Khai Hựu] năm thứ 9 [1337], (Nguyên Chí Nguyên năm thứ 3). Mùa hạ, tháng 6, ngày mồng 2, con của Thượng hoàng là Kính sinh (tức là Duệ Tông). 

Ngày mồng 5, sét đánh đình Át Vân điện Thụy Chương. Sao chổi mọc ở phương đông Bắc.

Xét duyệt các quan văn võ, vẫn đặt thuộc viên các sảnh, viện. 

Mùa thu, tháng 7, lấy công chúa Hiển Trinh, con gái trưởng của Bình chương Huệ Túc vương làm Thần phi. 

Tháng 9, xuống chiếu cho các quan trong ngoài triều khảo sát các thuộc viên do mình cai quản, người nào có tờ khai cam kết thì giữ lại, người nào ở nhà không làm việc thì đuổi về. 

Với việc đối ngoại, bang giao với các nước được duy trì ổn định, đặc biệt là với nhà Nguyên. Ông chú trọng cử người tài đức đi sứ, cư xử vừa cương quyết nhưng cũng mềm mỏng vừa đủ để giữ lại hòa khí giữa hai quốc gia.

Tư tưởng – Tôn giáo

Trần Minh Tông là một Phật tử mộ đạo. Mối quan hệ giữa nhà vua với các thiền sư Thiền phái Trúc Lâm như Pháp LoaHuyền Quang được ghi nhận là rất tích cực. Năm 1314, ngay sau khi lên ngôi, hoàng đế sai dựng 3 bức tượng Phật cao 17 thước ở chùa Báo Ân – Siêu Loại (nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội). Cũng tại đây, ông cho lập điện Phật, gác kinh, nhà Tăng, tổng cộng 33 sở. Thầy Pháp Loa, tổ thứ hai Thiền phái Trúc Lâm đã đặt tên cho các nơi này; Minh Tông tự mình viết tấm biển “Nhị hương điện” trao cho chùa. 

Năm 1316, Thượng hoàng Anh Tông hạ chiếu thỉnh thầy Pháp Loa vào đại nội trao giới Bồ-tát tại gia cho Minh Tông. Từ đó, Minh Tông càng chuyên tâm nghiên cứu, học hỏi về Thiền học. Theo Thánh đăng ngữ lục, Minh Tông đã khuyến khích các thiền sư Pháp Loa, Huyền Quang, Pháp Cổ, Kim Sơn và Cảnh Huy giảng kinh sách của Phật và các Tổ Thiền tông ở hai kinh đô: Thăng Long và Thiên Trường. 

Minh Tông còn cống hiến nhiều tiền, vàng và nhân công cho việc xây dựng Bảo tháp Viên Thông (nơi chứa nhục thân của Pháp Loa sau khi ông viên tịch) và chùa Đại Tư Quốc – đều ở Hải Dương. Đại Việt sử ký oàn thư cũng ghi lại một lần Minh Tông bảo vệ lập trường trước Huệ Túc vương Trần Đại Niên, một người bài xích đạo Phật:

Lại một hôm, [Thượng hoàng] mời Huệ Túc vương vào tẩm điện, bảo ông ngồi. Thượng hoàng đang ăn chay. Huệ Túc vương… nhân nói:

– Thần không biết ăn chay thì có ích lợi gì?

Thượng hoàng đoán biết ý ông, liền dụ rằng:

– Ông cha ta ngày xưa thường ăn cơm chay, cho nên ta bắt chước đó thôi, còn ích lợi gì thì ta không biết.

Huệ Túc im lặng rồi lui ra.

Gia khuyến

Cha: Anh Tông Hoàng đế Trần Thuyên

Mẹ đích: Bảo Từ Hoàng hậu Trần Thị Phùng ( 保慈順后陳氏豐 ;? – 1330), là cháu nội của Trần Quốc Tuấn, con gái của Trần Quốc Tảng và là hoàng hậu của vua Trần Anh Tông

Mẹ đẻ: Chiêu Từ Hoàng Thái hậu Trần thị (昭慈皇太后 陳氏 ? – 1359), nguyên là Huy Tư Hoàng phi (徽資皇妃) của Trần Anh Tông, con gái Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng và Thụy Bảo Công chúa. Hoàng phi được Anh Tông và Bảo Từ Hoàng hậu yêu mến, được phong ngôi cao nơi cung cấm dù không xuất thân từ dòng dõi Hoàng tộc nhà Trần. Minh Tông tôn làm Huy Tư Hoàng thái phi (徽姿皇太妃), sau khi mất truy tặng Chiêu Từ Hoàng Thái hậu (昭慈皇太后).

Hậu phi:

  • Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng hậu Trần thị (憲慈宣聖皇后 陳氏 1299 – 1370), con gái Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn, cháu nội Trần Nhân Tông. Bà nguyên được gả cho Tông thất Uy Túc công, sau cải giá lấy Minh Tông làm Lệ Thánh Hoàng hậu (儷聖皇后) (1323). Sau bị Dương Nhật Lễ sát hại.
  • Minh Từ Hoàng thái phi Lê thị (明慈皇太妃 黎氏 ? – 1365), người Giáp Sơn, cô ruột Lê Quý Ly (sau này đổi tên thành Hồ Quý Ly), em gái cùng mẹ bà Hiến Từ, do con gái của Nguyễn Thánh Huấn lấy một người họ Lê sinh ra. Bà hạ sinh hai Hoàng tử, sau là Hiến Tông và Nghệ Tông, được lập làm Anh Tư Nguyên phi (英姿元妃), đứng đầu các phi tần ở nội cung. Vì sủng ái Nguyên phi, Minh Tông bất chấp sự phản đối từ phía Quốc trượng Trần Quốc Chẩn, lập con trưởng là Trần Vượng làm Hoàng thái tử, sau lại nhường ngôi cho Hoàng thái tử, tức Triết Hoàng Hiến Tông. Năm 1371, Nghệ Tông truy tôn làm Minh Từ Hoàng thái phi.
  • Đôn Từ Hoàng thái phi Lê thị (惇慈皇太妃 黎氏 ? – 1347), người Giáp Sơn, em gái trong họ tộc bà Minh Từ, mẹ sinh Trần Duệ Tông. Bà làm Cung tần theo hầu Minh Tông, được phong Sung viên. Năm 1372, Cung Tuyên vương Trần Kính được Nghệ Tông lập làm Hoàng thái đệ, truy tặng mẹ sinh Hoàng thái tử làm Quang Hiến Thần phi (光憲宸妃). Năm 1373, Duệ Tông truy tôn làm Đôn Từ Hoàng thái phi’.
  • Triều Môn Thứ phi Trần thị ( 朝門次妃陳氏 ), sinh Trần Nguyên Trác.
  • Thiên Xuân Thứ phi

Con:

  • Trần Hiến Tông Trần Vượng (陳旺), con của Minh Từ Hoàng thái phi.
  • Cung Tĩnh Đại vương Trần Nguyên Trác (恭静大王陈元晫; 1319 – 1370) , con của Triều Môn Thứ phi.
  • Trần Nghệ Tông Trần Phủ (陳暊), tước phong vốn là Cung Định vương (恭定王), con của Minh Từ Hoàng thái phi.
  • Cung Mẫn vương Trần Nguyên Hú (恭敏王陈元煦; ? – 1347).
  • Cung Giản vương Trần Nguyên Thạch (恭簡王陈元石; ? – 1350).
  • Cung Túc vương Trần Nguyên Dục (恭肃王陳元昱; ? – 1364), con của Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng hậu.
  • Cung Tín vương Trần Thiên Trạch (恭信王陈善泽; ? – 1379).
  • Trần Dụ Tông Trần Hạo (陳暭), con của Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng hậu.
  • Trần Duệ Tông Trần Kính (陳曔), tước phong là Cung Tuyên vương (恭宣王), con của Đôn Từ Hoàng thái phi.
  • Thiên Ninh Công chúa Trần Ngọc Tha (天寕公主 陳玉瑳) con của Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng hậu, lấy Chính Túc vương Trần Kham (陈堪).
  • Huy Ninh Công chúa (徽寕公主), trước lấy Tông thất Nhân Vinh (? – 1370), sau lấy Lê Quý Ly – tức Hồ Quý Ly, hoàng đế khai lập triều Hồ.

Cuối đời – thờ phụng

Năm 1356, Thượng hoàng Trần Minh Tông, Hoàng đế Trần Dụ Tông cùng đi tuần Nghệ An. Tháng 8 âm lịch năm này, Thượng hoàng lại đến chơi đền Huệ Vũ Đại vương Quốc Chẩn ở núi Kiệt Đặc, Chí Linh (Hải Dương); lúc trở về, ông bị một con ong vàng đốt ở má bên trái, do đó mà sinh bệnh. Vương hầu, quan lại định lập đàn chay cầu đảo; Thượng hoàng nghe tin, gọi con thứ ba là Hữu tướng quốc Trần Phủ đến hỏi. Trần Dụ Tông sợ, nên bảo Phủ nói là Phạm Ứng Mộng muốn chết thay Thượng hoàng. Trần Phủ đem lời này tâu với Thượng hoàng, Thượng hoàng phán: 

“Ứng Mộng tự nhận làm địa vị Chu Công thì cứ lấy thân mình mà chết thay cho cha hắn, còn đàn chay thì không được làm!”

Hiến Từ Thái hậu muốn phóng sinh gia súc để cầu mong Thượng hoàng hết bệnh, ông cũng ngăn lại: “Thân ta không thể lấy con lợn, con dê mà đổi được”. Nhà vua triệu các ngự y Trâu Canh, Vương Định, Phạm Thế Thường bắt mạch cho Thượng hoàng, Trâu Canh kết luận đây là “mạch phiền muộn”. Thượng hoàng liền ứng khẩu một bài thơ chấm biếm nhóm Trâu Canh. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Thượng hoàng vốn không ưa Canh vì người này ra vào cung cấm, từng thông dâm với cung nữ, và dùng những lời nói mê hoặc, gian xảo để mê hoặc Trần Dụ Tông. Trâu Canh bèn sắc thuốc dâng lên, thượng hoàng từ chối uống, vì “Người ta ở đời, bao nhiêu khổ não. Ngày nay thoát được khổ não này, thì ngày khác lại phải chịu khổ não khác”.

Ngày 19 tháng 2 âm lịch (10 tháng 3 dương lịch) năm 1357, Thượng hoàng Trần Minh Tông qua đời tại cung Bảo Nguyên, hưởng thọ 58 tuổi. 

Trước kia, đối với việc an táng, Trần Minh Tông tỏ ra là người ít tin vào duy tâm. Năm 1332, khi làm lễ an táng Thuận Thánh Hoàng thái hậu vào Thái Lăng, ở Yên Sinh, Thượng hoàng Minh Tông sai các quan chọn ngày chôn cất. Có người bác đi cho rằng: Chôn năm nay tất hại người tế chủ. Thượng hoàng không đồng tình, cho rằng:

Lễ cát lễ hung phải chọn ngày là vì coi trọng việc đó thôi, chứ đâu có phải câu nệ họa phúc như các nhà âm dương.

Ông được tôn thụy hiệu là Chương Nghiêu Văn Triết Hoàng Đế (章堯文哲皇帝). Ngày 11 tháng 11 âm lịch (22 tháng 12 dương lịch) năm đó, Minh Tông được mai táng vào Mục Lăng, xã Yên Sinh (nay là xã An Sinh).

Nhận xét đánh giá

Trong phần lớn quãng thời gian trị vì, Trần Minh Tông được nhìn nhận như một vị vua anh minh và nhân hậu. Với tư cách là một người con, ngài hiếu thảo tận tụy, đối với bậc bề trên thì lại càng tôn quý, đối với quan lại thì quan tâm hết mực. Với tư cách là một vị vua, ngài cần mẫn,lấy việc  đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu làm kim chỉ nam xuyên suốt giai đoạn trị vì. Với tư cách một người cha, vua chú tâm chỉ dạy, thường dặn các con tìm hiểu về các nhân vật lịch sử, đối chiếu cả mặt tốt lẫn mặt xấu nhằm tự rút kinh nghiệm cho bản thân mình.

Đánh giá về Trần Minh Tông, sử thần đời Lê sơ Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt Sử ký Toàn thư:

Vua đem văn minh sửa sang đạo trị nước, làm rạng rỡ công nghiệp của người xưa, giữ lòng trung hậu, lo nghĩ sâu xa, trong yên ngoài phục, kỷ cương đủ bày. Tiếc rằng không nhận biết mưu gian của Khắc Chung, để đến nỗi Quốc Chẩn phải chết, đó là chỗ kém thông minh vậy.

Phan Phu Tiên, một sử thần khác thời Lê sơ, cũng bình luận:

Minh Tông có tư chất nhân hậu, nối nghiệp thái bình, không thay đổi phép tắc của ông cha đã định. Khi bấy giờ có người học trò dâng sớ nói rằng: “Dân gian nhiều kẻ du thủ du thực, đến tuổi già vẫn không có tên trong sổ hộ, mà lại không đóng góp phú thuế và sưu dịch”. Ngài bảo: “Nếu không như thế thì sao gọi là cảnh đời thái bình? Nhà ngươi lại muốn ta bắt chúng nó làm nên trò trống gì nữa!”. Triều thần là Lê Bá Quát và Phạm Sư Mạnh đều muốn thay đổi chế độ. Ngài nói: “Nước nhà đã có nền nếp sẵn rồi, nếu nghe mưu kế muốn cho lời mình được đắt của bạch diện thư sinh kia thì sẽ sinh rối ren đấy!”. Có điều đáng tiếc là ngài nghe lời gian nịnh của Trần Khắc Chung mà giết Quốc Chẩn: đó là một điều làm vấp cho trí thông minh của ngài.

 

Tham khảo: 

  1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  2. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  3. Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử, Nxb Thanh Niên.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Cover ảnh thiền sư chốn thiêng (1)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)