Thân thế
Trần Dụ Tông (chữ Hán: 陳明宗, 19 tháng 10 năm Bính Tý 1336 – 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu 1369) là vị hoàng đế thứ bảy của Hoàng triều Trần nước Đại Việt. Ông giữ ngôi vua từ ngày 21 tháng 8 năm Tân Tỵ (1341) đến ngày 25 tháng 5 năm Kỷ Dậu (1369). Nửa sau thời kỳ này đánh dấu sự đi xuống của cơ nghiệp nhà Trần.
Trần Dụ Tông có tên húy là Hạo (陳暭), vua là con trai thứ 10 của Trần Minh Tông, thân mẫu là Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng hậu, con gái của Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn. Dẫu sinh ra sau vua Trần Hiến Tông 17 năm, Dụ Tông là con út do Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng hậu sinh ra, thuộc dòng Hoàng đích tử, thân phận cao quý hơn Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Duyệt Tông, vốn là con của các phi tần. Sử ghi vua sinh vào ngày 19 tháng 10 năm Bính Tý (1336), tức Khai Hựu năm thứ 8.
Bính Tý, [Khai Hựu ] năm thứ 8 [1336], (Nguyên Chí nguyên năm thứ 2). Thượng hoàng từ Ai Lao về đến kinh sư. Mùa thu, tháng 7, nước to. Mùa đông, tháng 10, ngày 19, con của Thượng hoàng là Hạo sinh (tức là Dụ Tông).
Năm 1339, khi mới 4 tuổi, ông đã bị ngã xuống nước suýt chết đuối hôm rằm trung thu. Thầy thuốc Trâu Canh (vốn gốc Hoa, có cha là ngự y của Hốt Tất Liệt) cứu sống được nhưng nói rằng Hoàng tử Hạo sẽ bị liệt dương.
Mùa thu, tháng 8, ngày 15, ban đêm, con của Thượng hoàng là Hạo đi thuyền chơi Hồ Tây bị chết đuối, vớt được ở lỗ cống đơm cá. Thượng hoàng sai thầy thuốc Trâu Canh cứu chữa. Canh nói: “Dùng kim châm sẽ sống lại, nhưng chỉ sợ sẽ bị liệt dương”. Dùng kim châm thì quả như lời ông ta nói, từ đấy mọi người gọi Trâu Canh là thần y. Canh sau mãi được thăng lên Quan phục hầu Tuyên Huy viện đại sứ kiêm Thái y sứ.
Bối cảnh lịch sử
Trần Dụ Tông lên ngôi khi ông mới 6 tuổi, không trải qua lễ sắc phong Thái tử. Nguyên do cho sự vội vã này nằm ở việc vua tiền nhiệm của Dụ Tông là Hiến Tông qua đời sớm (Trần Hiến Tông con của phi tần của Trần Minh Tông, Minh Từ Hoàng thái phi, sinh sớm hơn Trần Dụ Tông, khi đó Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng Hậu chưa có con trai). Trần Minh Tông lúc ấy còn ở ngôi Thượng Hoàng nhận định huynh trưởng của Dụ Tông, tức Cung Túc vương Trần Nguyên Dục, là người ngông cuồng, phông phù hợp với ngôi vua, nên đã để Trần Dụ Tông lên thay. Giai đoạn trị vì của vua có hai niên hiệu là Thiệu Phong (trong giai đoạn Thượng hoàng Trần Minh Tông còn sống) (1341 – 1357) và Đại Trị (1358 – 1369).
Tân Tỵ, [Khai Hựu] năm thứ 13 [1341], (từ tháng 8 trở đi là Dụ Tông, Thiệu Phong năm thứ 1, Nguyên Chí Chính năm thứ 1).
Mùa xuân, lấy Nguyễn Trung Ngạn làm Đại Doãn kinh sư.
Mùa hạ, tháng 6, ngày 11, vua băng ở chính tẩm, tạm quàn ở cung Kiến Xương, miếu hiệu là Hiến Tông.
Mùa thu, tháng 8, ngày 21, Thượng hoàng đón hoàng tử Hạo lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiệu Phong năm thứ 1.
Đại xá.
[Vua] tự xưng là Dụ Hoàng. Các quan dâng tôn hiệu là Thống Thiên Thể Đạo Nhân Minh Quang Hiếu Hoàng Đế. Vua lúc ấy mới lên 6 tuổi. [Thượng hoàng ] không lập con trưởng là Cung Túc Vương Dục, vì [Dục] là người ngông cuồng.
Sự nghiệp trị quốc
Giáo dục – khoa cử
Dưới thời Trần Dụ Tông, giáo dục và khoa cử vẫn được duy trì như một trụ cột của triều chính. Các kỳ thi được tổ chức thường xuyên (như kỳ thi năm 1345), tiếp tục áp dụng thể thức thi ám tả, cổ văn, kinh nghĩa và thi phú – thể hiện sự tiếp nối truyền thống Nho học dưới thời Trần.
Việc thi tuyển người có năng lực văn nghệ vào quán các, đồng thời tổ chức thi viết chữ để tuyển dụng lại viên, cho thấy triều đình không chỉ chú trọng tầng lớp trí thức trong quan trường mà còn mở rộng ra các lĩnh vực chuyên biệt như thư lại và hành chính. Tuy chưa có dấu hiệu của những đổi mới lớn, nhưng những hoạt động này cho thấy sự ổn định về mặt thể chế thi cử, đồng thời phản ánh ý chí duy trì văn trị của triều đình.
Ất Dậu, [Thiệu Phong] năm thứ 5[1345], (Nguyên Chí Chính năm thứ 5). Mùa xuân, tháng 3, thi thái học sinh. Phép thi dùng ám tả, cổ văn, kinh nghĩa, thi phú.
[…]
Tháng 3 (năm 1363), thi học trò, hỏi văn nghệ để lấy người bổ sung vào quán các. thi lại viên bằng viết chữ, lấy làm thuộc viên các sảnh, viện.
Từ giai đoạn niên hiệu Đại Trị (1358 – 1369), trong bối cảnh vua ngày càng buông lỏng chính sự, các trí thức như Chu Văn An, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh tuy có năng lực, nhưng không được trọng dụng đúng mức, dẫn đến hiện tượng từ quan, ẩn cư.Giáo dục – khoa cử không có nhiều đột phá. Tuy còn kế thừa di sản từ các triều vua trước, nhưng giai đoạn này bắt đầu xuất hiện sự lãng quên vai trò trí thức, coi nhẹ việc trọng dụng hiền tài, phản ánh một bước lùi trong chính sách đào tạo và sử dụng nhân lực quốc gia.
Dụ Tông ham chơi bời luời chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước, An khuyên can, [Dụ Tông] không nghe, bèn dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần, đều là những kẻ quyền thế được vua yêu. Người bấy giờ gọi là “Thất trảm sớ”. Sớ dâng lên nhưng không được trả lời, ông liền treo mũ về quê. Ông thích núi Chí Linh, bèn đến ở đấy. Khi nào có triều hội lớn thì đến kinh sư. Dụ Tông đem chính sự trao cho ông, ông từ chối không nhận. Hiến Từ thái hoàng thái hậu bảo:
“Ông ta là người không thể nào bắt làm tôi được, ta sai bảo thế nào được ông ta?”
Vua sai nội thần đem quần áo ban cho ông. Ông lạy tạ xong, liền đem cho người khác hết. Thiên hạ đều cho là bậc cao thượng. Đến khi Dụ Tông băng, quốc thống suýt mất, nghe tin các quan đến lập vua, ông mừng lắm. Chống gậy đến xin bái yết, xong lại xin trở về quê, từ chối không nhận chức gì. Vua sai quân đến tế, ban tặng tên thụy, ít lâu sau có lệnh cho tòng tự ở Văn miếu.
Cải cách hành chính – pháp luật
Thời gian đầu dưới sự nhiếp chính của Thượng hoàng Trần Minh Tông, triều đình có nhiều cải cách hành chính mang tính hệ thống, như sắp xếp lại các ty, sảnh, viện và thiết lập bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương. Trong các đợt thiên tai, triều đình vẫn quan tâm cứu tế, miễn giảm tô thuế và xét giảm hình phạt cho phạm nhân cũng thể hiện tinh thần nhân đạo trong một số thời điểm khó khăn. Tuy nhiên, vào giai đoạn sau đó,, về tổng thể, các cải cách hành chính này mang tính kỹ thuật và tình thế, không đi kèm với các cải cách thể chế sâu rộng. Khi triều đình bắt đầu bị gian thần lũng đoạn, hệ thống quan lại cũng trở nên rệu rã.
Quý Mùi, [Thiệu Phong] năm thứ 3 [1343], ( Nguyên Chí Chính năm thứ 3). Mùa xuân, tháng 2, Thượng hoàng ngự đến phủ Thiên Trường. Mùa hạ, tháng tư, ngày mồng một, nhật thực. Tháng 5, tháng 6, hạn hán. Xuất chiếu ban giảm một nửa thuế nhân đinh năm này.
[…]
Giáp Thân, [Thiệu Phong] năm thứ 4[1344], (Nguyên Chí Chính năm thứ 4). Mùa xuân, tháng 2, Đổi Hành khiển ty ở cung Thánh Từ làm Thương thư sảnh, còn Hành khiển ty ở cung Quan Triều vẫn để là môn hạ sảnh như cũ. Đặt đại sứ và phó sứ của viện Tuyên Huy. Đổi kiểm pháp quan của viện Đăng Văn thành Đình úy, Tự khanh và Thiếu khanh.
Đặt đồn điền sứ và phó sứ ở ty Khuyến nông. Lộ lớn thì đặt An phủ sứ và phó sứ, thuộc châu thì đặt Thông phán. Lại đặt chức Đề hình và chức Tào ty chuyển vận ở lộ nhỏ. Phủ Thiên Trường thì đặt là Thái phủ và Thiếu phủ. Phục hồi quan tước cho Quốc phụ thượng tể Quốc chẩn.
Mùa thu, tháng 8, đặt 20 đô phong đoàn ở các lộ để đuổi bắt giặc cướp.
[…]
Mùa hạ, tháng 4 và 5 hạn hán. Xuống chiếu soát tù, giảm tội bọn tội phạm.
[…]
Mùa thu,tháng 9 (năm 1354), có nạn sâu lúa. Xuống chiếu giảm một nửa tô ruộng.
[…]
Mùa hạ, tháng 4 (năm 1357), xuống chiếu chỉ cho các lộ ở Thanh Hóa và Nghệ An khơi các kênh ngòi cũ.
[…]
Từ tháng 5 đến tháng 7 mùa thu (năm 1362), hạn hán. Soát tù. Mưa to. Xuống chiếu miễn cho cả nước một nửa tô thuế năm ấy.
[…]
Tháng 8 Đói to. Xuống chiếu cho các nhà giàu dâng thóc để phát chẩn cho dân nghèo, ban tước theo thứ bậc khác nhau. Tháng 9, vua ngự đến phủ Thiên Trường. Dân có ai ốm thì được ban thuốc uống công và tiền gạo, ít nhiều khác nhau. (Thuốc có tên là viên Hồng ngọc sương, trừ bách bệnh. Dân nghèo ai nghe tin đến được thì được ban 2 viên thuốc, 2 tiền và 2 thăng gạo).
[…]
Quân sự
Về mặt quân sự, triều đình dưới thời Trần Dụ Tông có những cố gắng nhất định trong việc duy trì biên cương, đặc biệt là chống lại các cuộc xâm phạm của Ai Lao và Chiêm Thành. Tuy nhiên, công tác chuẩn bị chiến tranh thường thiếu đồng bộ, phối hợp lỏng lẻo giữa thủy – bộ và hay gặp thất bại. Dù vậy, các hành động tuyển chọn hoàng nam, đóng thuyền, rèn luyện binh sĩ cho thấy vẫn có sự chú ý đến quốc phòng.
Mùa hạ, tháng 5, Ai Lao vào cướp biên giới. Sai Bảo Uy Vương Hiến đánh tan bọn chúng. Bắt được rất nhiều người và súc vật.
[…]
Tân Mão, [Thiệu Phong] năm thứ 11[1351], (Nguyên Chí Chính năm thứ 11). Mùa xuân,tháng giêng, người Thái Nguyên và Lạng Sơn tụ họp làm giặc cướp, đánh lẫn nhau. Đánh dẹp được bọn chúng.
[…]
Quý Tỵ, [Thiệu Phong] năm thứ 13 [1353], (Nguyên Chí Chính năm thứ 13). Mùa xuân, tháng giêng, xuống chiếu cho các vương hầu đóng thuyền chiến, chế tạo vũ khí, luyện tập binh sĩ. Lấy cung Định Vương Phủ làm Hữu tướng quốc. Mùa hạ, tháng 6, cử đại binh đi đánh Chiêm thành. Quân bộ đến Cổ Lũy , quân thủy chở lương gặp trở ngại lại quay về.
Mùa thu, tháng 9, Chiêm Thành vào cướp Hóa Châu, quan quân đánh đuổi chúng rất bất lợi. Vua gọi Trương Hán Siêu mưu tính việc đó. Hán Siêu trả lời: “Không nghe lời thần nên đến nỗi thế”. Vua bèn sai Trương Hán Siêu đem các quân Thần sách đi trấn giữ Hóa Châu. (Tới tháng 11 năm 1354) Tả tham tri chính sự Trương Hán Siêu trấn giữ Hóa Châu, biên thùy trở lại yên ổn. Ông xin trở về triều, vua y cho, nhưng về chưa tới kinh sư thì chết, được truy tặng Thái bảo.
[…]
Tháng 8 (năm 1364), chọn hoàng nam trong nước, định 3 bậc quân ngũ, sửa soạn thuyền chiến và vũ khí để phòng việc biên cương.
Đối nội – đối ngoại
Về đối nội, thời kỳ đầu còn được duy trì ổn định nhờ Thượng hoàng nhiếp chính.
Giáp Thân, [Thiệu Phong] năm thứ 4[1344], (Nguyên Chí Chính năm thứ 4). Mùa xuân, tháng 2, người Trà Hương là Ngô Bệ họp bọn ở núi Yên Phụ làm giặc cướp. (Tháng 11,năm 1345) Sai quân nhân đi bắt Ngô Bệ ở núi Yên Phụ. Quân của Bệ chạy trốn tan rã cả.
[…]
Mùa hạ, tháng 6 (năm 1347), Bảo Uy Vương Hiến có tội bị đuổi ra làm Phiêu kỵ tướng quân trấn Vọng Giang, rồi bị giết ở sông Vạn Nữ, lộ Trường Yên. Buổi đầu dựng nước, thuyền buôn nước Tống sang dâng người nước Tiểu Nhân, thân dài 7 tấc, tiếng như ruồi nhặng, không thông ngôn ngữ, lại dâng một tấm vải hỏa hoãn giá mỗi thước 300 quan tiền, lưu truyền làm của quý. Sau đem may áo vua, cắt hơi ngắn, sai cất trong nội phủ. Bảo Uy tư thông với cung nhân lấy trộm áo ấy. Một hôm Bảo uy mặc áo ấy vào trong rồi vào chầu, tâu việc trước mặt Thượng hoàng, để lộ ống tay áo ra. Thượng hoàng trông thấy có ý ngờ, sai người kiểm xét lại, quả nhiên chiếc áo cất giữ đã mất. Người cung nhân sai người thị tỳ già đến nhà Bảo uy lấy áo đem về, rồi ngầm đem vào cung dâng trình. Thượng hoàng không nỡ giết, đuổi Bảo Uy ra làm quan ở trấn ngoài. Đến sông Vạn Nữ, sai vũ sĩ đi thuyền nhẹ đuổi giết, vứt xác vào bãi cát rồi về, giáng làm Bảo Uy hầu.
[…]
(Tháng 7, năm 1351) Trâu Canh có tội đáng chết, được tha. Bấy giờ Trâu Canh thấy vua bị liệt dương, dâng phương thuốc nói rằng [15b] giết đứa bé con trai, lấy mật hòa với dương khởi thạch mà uống và thông dâm với chị hay em ruột của mình thì sẽ hiệu nghiệm. Vua làm theo, thông dâm với chị ruột là công chúa Thiên Ninh, quả nhiên công hiệu. Canh từ đấy được yêu quý hơn, được ngày đêm luôn ở trong hậu cung hầu hạ thuốc thang. Canh liền thông dâm với cung nữ. Việc phát giác, Thượng hoàng Trần Minh Tông định bắt Canh chết, nhưng vì có công chữa khỏi bệnh cho vua nên được tha, song ngài vẫn ghét việc Canh ra vào cung cấm, hay dùng những câu kỳ lạ, những kế quỷ quyệt để huyễn hoặc Dụ Hoàng.
[…]
Song từ sau năm 1357, khi Trần Dụ Tông trực tiếp chấp chính, triều đình dần rơi vào suy đồi. Dân chúng chịu cảnh mất mùa, đói kém liên miên. Dụ Tông không có chiến lược phát triển nông nghiệp căn cơ về lâu dài (như đắp đê, làm thủy lợi), chỉ ra chỉ dụ tạm thời như khuyến khích nhà giàu bỏ thóc ra chẩn bần. Việc dẹp loạn dân khởi nghĩa chỉ dừng lại ở đàn áp, không giải quyết được căn nguyên.
Từ tháng 3 đến tháng 7 mùa thu (năm 1358), hạn hán, sạu cắn lúa, cá chết nhiều. Mùa thu, tháng 8, xuống chiếu khuyến khích nhà giàu ở các lộ bỏ thóc ra chẩn cấp dân nghèo. Các quan ở địa phương tính xem số thóc bỏ ra là bao nhiêu trả lại bằng tiền.
[…]
(Tháng 8, năm 1358) Ngô Bệ lại đem quân tụ họp ở núi Yên Phụ, dựng cờ lớn ở trên núi, tiếm sưng vị hiệu, yết bảng nói cứu giúp dân nghèo.Từ Thiên Liêu đến Chí Linh. Bệ chiếm giữ cả. Mùa đông, tháng 11, xuống chiếu cho An phủ sứ các lộ đem quân các đội phong đoàn đi bắt giặc cướp. Tháng 3 (năm 1360), Ngô Bệ bị giết. Bấy giờ, quân của lộ bắt được Bệ ở Yên Phụ. Bệ chạy trốn, định về kinh sư thú tội. Các quan bản lộ bắt được Bệ cùng 30 tên bè đảng của hắn, đóng cũi giải về kinh, đều bị chém cả.
[…]
Giai đoạn này, các gian thần trở nên lộng quyền, nhà vua sa đọa vào hưởng lạc, đánh bạc, đàn hát và xây cung điện xa hoa. Trong khi đó, nhà vua vẫn tổ chức xây cung điện, hồ nuôi cá sấu, nuôi thú quý… thể hiện sự xa rời thực tế dân sinh.
Nhâm Dần, [Đại Trị], năm thứ 5 [1362]. (Nguyên Chí Chính năm thứ 22). Mùa xuân, tháng giêng, lệnh cho các nhà vương hầu, công chúa dâng [24b] các trò tạp hý vua xét duyệt trò nào hay thì thưởng cho. Trước đấy, khi đánh Toa Đô, bắt được người phường hát là Lý Phương Cát rất giỏi hát, những con ở trẻ của các nhà thế gia theo y tập hát điệu phương Bắc. Nguyên Cát sáng tác các vở tuồng truyện cổ, có các tích như Tây vương Mẫu hiến bàn đào. Trong tuồng cổ có các vai quan nhân, chu tử, đán nương, câu nô gồm 12 người, mặc áo gấm, áo thêu, đánh trống, thổi sáo, gảy đàn, vỗ tay, gõ ồn phím đàn (Chú : Chu Hậu chết, Hậu Chủ ghi vào mặt sau đàn tỳ bà: Hương trời còn đuôi phượng, hơi ấm tỏa phím đàn), thay đổi nhau ra vào làm trò, khiến người xem xúc động, muốn cho buồn được buồn, muốn cho vui được vui. Nước ta có tuồng truyện bắt đầu từ đấy. Lại cho gọi các nhà giàu trong nước, như ở làng Đình Bảng ở huyện Bắc Giang, làng Nga Đình thuộc Quốc Oai vào cung đánh bạc làm vui. Có tiếng bạc đặt tới 300 quan tiền, ba tiếng thì đã gần ngàn quan rồi.
[…]
Mùa đông, tháng 10 (năm 1363), đào hồ ở vườn ngự trong hậu cung.Trong hồ xếp đá làm núi, bốn mạch đều khai ngòi cho chảy thông nhau. Trên bờ hồ trồng thông, tre và các thứ hoa thơm cỏ lạ. Lại nuôi chim quý, thú lạ trong đó. Phía tây hồ trồng hai cây quế, dựng điện Song Quế. Lại gọi tên điện là điện Lạc Thanh, tên hồ là hồ Lac Thanh. lại đào một hồ nhỏ khác. Sai người hải Đông chở nước mặn chứa vào đó, đem các thứ hải vật như đồi mồi, cua, cá nuôi ở trong hồ. Lại sai người Hóa Châu chở cá sấu đến thả vào đó. Lại có hồ Thanh Ngư để thả cá thanh phụ [ cá diếc ]. Đặt chức khách đô để trông coi.
[…]
Giáp Thìn, [Đại Trị] năm thứ 7 [1364], (Nguyên Chí Chính năm thứ 24). Mùa xuân, tháng 2, xây dãy khách lang ở Tây điện, thẳng đến cửa Hoàng Phúc. Mùa hạ, tháng 4, gọi Cánh chưởng phụng cung Vĩnh An là Bùi Khoan cùng uống rượu. Khoan lập mẹo uống vờ hết 100 thăng rượu, được thưởng tước 2 tư. Tháng 5, vua đi hóng gió chơi trăng. Vì uống rượu quá sai, lại lội xuống sông tắm, nên bị ốm. Sai quan thầy thuốc là bọn Trâu Canh thay nhau hầu thuốc thang.
[…]
Tháng 3 (1366), người Chiêm cướp phủ Lâm Bình. Quan phủ Phạm A Song đánh bại chúng. Thăng A Song làm đại tri phủ Lâm Bình, Hành quân thủ ngự sứ. Mùa hạ, tháng 4, xuống chiếu cho An phủ sứ các lộ đi bắt giặc cướp. Tháng 6, vua ngự thuyền nhỏ đến chơi nhà Thiếu úy Trần Ngô Lang ở hương Mễ Sở, đến canh ba mới về. khi tới sông Chử Gia bị cướp mất ấn báu, gươm báu. vua tự biết mình không sống lâu, càng thả sức chơi bời.
[…]
Về đối ngoại, quan hệ giữa Đại Việt với Chiêm Thành ngày càng xấu đi sau khi không duy trì thông hiếu hàng năm. Quan hệ với nhà Minh được xác lập bước đầu khi Dụ Tông cho sứ thần sang triều cống năm 1369, nhưng không kịp nhận sách phong do vua qua đời. Dù giữ thế trung lập khôn ngoan trước hỗn loạn ở Trung Hoa, nhưng triều đình cũng không nắm bắt thời cơ hay chủ động hoạch định chính sách đối ngoại mới.
Bính Tuất, [Thiệu Phong] năm thứ 6 [1346], (Nguyên Chí Chính năm thứ 6). Mùa xuân, tháng 2, ngày mồng một, nhật thực. Sai Phạm Nguyên Hằng sang sứ [13b] Chiêm Thành, trách hỏi về việc thiếu lễ triều cống hàng năm.
[…]
Mùa đông, tháng 10, Chiêm Thành sai sứ sang cống, lễ vật rất đơn bạc.
[…]
Kỷ Sửu, [Thiệu Phong] năm thứ 9 [1349], (Nguyên Chí Chính năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 3, thuyền buôn phương Bắc sang cống bát Diêu Biến. (Cuối đời Tống, người Hàng Châu nung lò bát sắp được, thấy con chim diêu bay qua trên lò bát, ỉa phân vào trong lò, hoá thành bát ngọc, nên đặt tên là Diêu Biến) . Mùa hạ, tháng 5, nước Đại Oa sang cống sản vật địa phương và chim vẹt đỏ biết nói.
[…]
Tháng 3, giặc cỏ Chiêm Thành vượt biển đến cướp dân ở cửa biển Dĩ Lý. Quân của phủ ấy đánh tan bọn chúng.
[…]
Mùa hạ, tháng 4 (năm 1368), Trần Thế Hưng đến Chiêm Động. Người Chiêm phục quân đánh trộm, quân ta tan vỡ. Thế Hưng bị giặc bắt, Tử Bình đem quân trở về. Minh Thái Tổ lên ngôi ở Kim Lăng, đặt niên hiệu là Hồng Vũ, sai Dịch Tế Dân sang thăm ta.
Mùa thu, tháng 8, sai Lễ bộ thị lang Đào Văn Đích sang Minh đáp lễ.
Có thể thấy, trong khi Chiêm Thành ngày càng lấn tới và đạt cực thịnh dưới thời Chế Bồng Nga, thì nhà Trần thất bại liên tiếp trong việc phòng thủ và phản công. Với phương Bắc, mặc dù nhà Nguyên suy yếu, Dụ Tông vẫn giữ thái độ thần phục khi Minh vừa mới thành lập.
Gia khuyến
Cha: Trần Minh Tông
Mẹ đích: Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng Hậu Trần thị
Hậu phi: Huy Từ Tá Thánh Hoàng hậu
Vua không có con.
Cuối đời – thờ phụng
Năm Kỷ Dậu (1369), vua Trần Dụ Tông băng hà ở Quang Triều cung, thọ 34 tuổi. Ông trị vì 28 năm, được an táng tại Phụ Lăng (阜陵). Thụy hiệu là Thống Thiên Thể Đạo Nhân Minh Quang Hiếu Hoàng Đế (統天體道仁明光孝皇帝).
Dụ Tông không có con kế vị. Trước khi mất, ông để lại di chiếu lập con của người anh Cung Túc vương Trần Nguyên Dục là Trần Nhật Lễ lên kế vị, Cung Túc Vương vốn đã qua đời trước Dụ Tông 5 năm (1364).
Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn về việc này như sau:
Dụ Tông bị ngã xuống nước mà bệnh, chẳng lẽ lại không biết là mình không có con hay sao? Nhật Lễ là đứa làm trò, chẳng lẽ lại không biết nó không phải là con của Dục hay sao? Huống chi các con của Minh Tông đều có tài nghệ cả, nếu nghĩ tới xã tắc làm trọng thì chọn người nào có tài đức lập làm thiên tử để làm yên lòng thiên hạ, như vậy gốc nước sẽ được vững bền. Đã không biết làm như thế, đến khi ốm nặng lại không bàn với thái hoàng tính kế vì xã tắc, lại xuống chiếu gọi Nhật Lễ vào nối đại thống để cho mình bị tuyệt tự, mà sau khi chết, còn vạ lây đến Thái hoàng và Thái tể. Nếu không có Nghệ Hoàng và các vị tông thất khác thì quốc gia đã không còn là của họ Trần nữa rồi.
Trong triều, hoàng tộc muốn lập người anh khác của Dụ Tông là Cung Định vương Trần Phủ lên kế vị nhưng Hiến Từ hoàng thái hậu nhất định đòi lập người con của Cung Túc vương Trần Nguyên Dục là Trần Nhật Lễ lên ngôi, vì bà cho rằng Nhật Lễ là con của người con trai lớn, cháu đích tôn của bà, nên lên kế vị là hợp lý.
Nguyên mẹ Nhật Lễ là một đào hát, lấy một kép hát bội là Dương Khương có thai rồi mới bỏ Dương Khương mà lấy Cung Túc vương sinh ra Nhật Lễ. Triều thần không tán thành vì cho rằng Nhật Lễ vốn là người họ Dương, không có máu mủ gì với Cung Túc vương, nhưng Hiến Từ hoàng thái hậu cho rằng Nhật Lễ về danh nghĩa vẫn là con của Trần Nguyên Dục nên lập là hợp lẽ.
Cuối cùng Nhật Lễ được lên ngôi vào tháng 6 năm 1369. Nhưng Nhật Lễ ăn chơi sa đọa như Dụ Tông, lại còn muốn bỏ họ Trần để lấy lại họ Dương, nên gây một làn sóng bất bình trong giới tôn thất nhà Trần. Chỉ hơn một năm sau, các tông thất nhà Trần hội nhau khởi binh về bắt giết Nhật Lễ rồi rước Cung Định vương về lên kế vị, tức Trần Nghệ Tông.
Nhận xét đánh giá
Trần Dụ Tông (trị vì 1341–1369) lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, việc triều chính ban đầu do Thượng hoàng Trần Minh Tông nhiếp chính. Dưới sự điều hành của Minh Tông, triều đình tiếp tục ổn định, duy trì được chính sách cũ, tổ chức biên soạn luật lệ, chỉnh đốn cơ cấu hành chính và quan tâm đến các chính sách dân sinh. Đây có thể coi là giai đoạn chuyển tiếp thuận lợi, tiếp nối thời các vua Trần trước.
Tuy nhiên, sau khi Minh Tông mất (1357), Dụ Tông bắt đầu tự thân chấp chính thì sự yếu kém của nhà vua bộc lộ rõ rệt theo thời gian. Ông dần buông bỏ việc triều chính, mê đắm tửu sắc, cờ bạc, tuồng trò, xây cung điện xa hoa, dẫn đến sự lỏng lẻo và mục ruỗng trong bộ máy quản lý nhà nước. Việc cho phép đánh bạc công khai trong cung, khuyến khích các trò tuồng chèo giữa giới quý tộc, tổ chức những cuộc thi rượu để ban thưởng tước vị, là bằng chứng rõ ràng về một vị quân vương đánh mất phẩm cách và phép nước. Những việc làm ấy dẫn đến sự suy đồi đạo đức trong giới quan lại và lan rộng trong toàn xã hội. Dụ Tông không có tài năng về quân sự. Mặc dù có lúc tổ chức tuyển binh, rèn vũ khí, luyện quân, nhưng phần lớn chỉ mang tính hình thức. Các cuộc khởi nghĩa nông dân trong nước, như cuộc nổi dậy của Ngô Bệ kéo dài suốt hơn 15 năm (1344–1360), cho thấy sự bất lực của triều đình trong việc xử lý mâu thuẫn xã hội một cách căn cơ. Với Chiêm Thành, trong suốt những năm cuối đời ông, triều đình phải hứng chịu nhiều cuộc tập kích bất ngờ, bị cướp bóc, bắt dân, thậm chí đến khi gửi quân đánh trả, thì tướng chủ lực là Trần Thế Hưng bị bắt sống. Việc này báo hiệu sự thất thế rõ rệt của Đại Việt trước mối đe dọa từ phía Nam – điều chưa từng xảy ra ở giai đoạn hưng thịnh của triều Trần.
Sử bàn về Trần Dụ Tông như sau:
Vua tính rất thông tuệ, học vấn cao minh, chăm lo việc võ, sửa sang việc văn, các di thần đều phục. Đời Thiệu Phong, chính sự tốt đẹp; từ năm Đại Trị về sau, chơi bời quá độ, cơ nghiệp nhà Trần suy yếu từ đó.
Tham khảo
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
