TRẦN HIẾN TÔNG (1319 – 1341)

TRẦN HIẾN TÔNG (1319 – 1341)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Trần Hiến Tông (chữ Hán: 陳憲宗 17 tháng 5 năm Kỷ Mùi (1300) – 11 tháng 6 năm Tân Tỵ (1341)), là vị hoàng đế thứ sáu của Hoàng triều Trần nước Đại Việt. Ông giữ ngôi từ ngày 3 tháng 4 năm 1314 đến ngày 11 tháng 6 năm 1341. 

Trần Hiến Tông có tên húy là Vượng (陳旺), hiệu Thiên Kiến (天建), ông là con đầu lòng của Trần Minh Tông, song thân mẫu chỉ là phi tần (Minh Từ Quý phi họ Lê, người Giáp Sơn, là cô của Lê Quý Ly, sau được tấn lên Minh Từ hoàng thái phi) nên xét về chính danh thì vẫn chỉ là con thứ, đích mẫu của ông là Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng thái hậu. Ông được lập làm Đông cung thái tử vào năm Mậu Thìn (1328), sau đó một năm thì được cha là Trần Minh Tông nhường ngôi vào ngày 15 tháng 2 năm Kỷ Tỵ (1329). Khi đó Trần Hiến Tông mới 10 tuổi. Sử viết:

Kỷ Tỵ, [Khai Thái] năm thứ 6 [1329], (từ tháng 2 trở đi là Khai Hựu năm thứ 1, Nguyên Đại Lịch năm thứ 2). Mùa xuân, tháng 2, ngày mồng 7, sách phong Đông cung thái tử Vượng làm Hoàng thái tử. 

Ngày 15, vua nhường ngôi, Vượng lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Khai Hựu năm thứ 1. Đại xá. (Vua tự) xưng là Triết Hoàng, Tôn Thượng hoàng là Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng Hoàng Đế. Tôn Lệ Thánh hoàng hậu làm Hiến Từ thái thượng hoàng hậu (Hiến có sách chép là Huệ). 

Quần thần dâng tôn hiệu là Thể Nguyên Ngự Cực Duệ Thánh Chí Hiếu Hoàng Đế.

Đương thời, cha của vua là Trần Minh Tông luôn chú trọng việc giáo huấn con cháu, ngài thường bàn về các nhân vật thời trước, khuyến khích các con đối chiếu cả mặt thiện lẫn ác để rút ra bài học cho mình. 

Thượng hoàng thường hay bàn đến các nhân vật của bản triều. Thái bảo Uy Túc Văn Bích nói: 

“Xét bàn nhân vật để dạy hoàng tử, chỉ nên nhắc tới người thiện, còn kẻ ác hãy bỏ chớ bàn đến, sợ các hoàng tử nghe được, có thể sẽ có người bắt chước”. 

Thượng hoàng nói: 

“Thiện ác đều phải nêu để đối chiếu, không thể bỏ một bên nào. Nếu con ta quả là hiền, thì 

nghe điều thiện tất phải theo mà học tập, nghe điều ác tất phải ghét mà tránh xa; thiện, ác đều có thể làm gương được cả. Nếu (con ta) không hiền, thì đợi gì thấy kẻ ác rồi mới làm điều ác? Như Thái Khang thất đức, là bởi các vua trước chơi bời mà bắt chước hay sao? Tùy Dưỡng Đế luôn mồm nói đến Nghiêu Thuấn, nhưng mọi việc làm của ông ta thì lại như Kiệt, Trụ, có phải là ông ta thấy điều thiện mà bắt chước hay sao”.

Uy Túc cúi đầu nhận là phải. 

Dưới sự dạy bảo gắt gao như vậy, trong giai đoạn cầm quyền của mình, Trần Hiến Tông được đánh giá là người có thiên tư tinh anh và sáng suốt, song ngài hưởng thọ không dài, âu cũng là một điều đáng tiếc.

Bối cảnh lịch sử

Hiến Tông lên ngôi khi mới 10 tuổi, thời gian đầu Minh Tông vẫn nắm quyền quyết định và đốc thúc mọi việc trong nước. Việc ông được lập làm Thái tử vốn không hề là một chuyện đơn giản, mà là một vấn đề tạo ra sự mâu thuẫn có hậu quả lớn trong nền chính trị nhà Trần.

Sử chép rằng:

Bấy giờ, vua ở ngôi đã 15 năm, tuổi đã cao mà vẫn chưa lập thái tử. Cha hoàng hậu là Quốc Chẩn giữ ý định đợi hoàng hậu có con rồi sẽ lập. Cương Đông Văn Hiến hầu (không rõ tên) là con (có sách chép là em) của Tá Thánh thái sư Nhật Duật, muốn đánh đổ hoàng hậu để lập hoàng tử Vượng, mới đem 100 lạng vàng đút lót cho gia thần của Quốc Chẩn là Trần Phẫu, bảo nó vu cáo Quốc Chẩn âm mưu phản loạn. Vua tin là thực, giam Quốc Chẩn ở chùa Tư Phúc rồi đem việc ấy hỏi Thiếu bảo Trần Khắc Chung. Khắc Chung cùng cánh với Văn Hiến, lại cùng mẹ với Vượng, đều là người Giáp Sơn và đã từng làm thầy dạy Vượng, liền trả lời: “Bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó”. [46b] Vua mới cấm tuyệt không cho Quốc Chẩn ăn uống, bắt phải tự tử. Hoàng hậu lấy áo tẩm nước cho Quốc Chẩn uống, uống xong thì chết. Bắt bớ đến hơn trăm người liên can. Mỗi khi xử án, bị can phần nhiều đều kêu oan.

Vài năm sau, gặp khi vợ cả vợ lẽ tên Phẫu ghen nhau, đem chuyện Văn Hiến đút vàng tâu lên vua. Phẫu bị hạ ngục. Ngục quan Lê Duy là người cương trực, xét xử ngay ngày hôm ấy. Tên Phẫu bị lăng trì, nhưng chưa kịp hành hình thì gia nô của Thiệu Võ (không rõ tên) là con của Quốc Chẩn đã ăn sống hết cả thịt của nó. Văn Hiến được miễn tội chết, bị giáng làm dân thường, xóa tên trong sổ [hoàng tộc]. 

Cái chết oan của Quốc Chuẩn đã trở thành một tì vết trong sự nghiệp chính trị anh minh của Trần Minh Tông. Trần Minh Tông lúc nào cũng bị ám ảnh bởi vụ án oan của cha vợ. Để sửa sai, nhà vua đã cho khôi phục chức tước, sai lập đền thờ Trần Quốc Đền Quốc phụ thờ ông nằm bên tả ngạn sông Kinh Thầy là một trong tám di tích thuộc “Chí Linh bát cổ” nổi tiếng được nhiều sử sách ghi nhận. Đến năm Giáp Thân (1344), thời Trần Dụ Tông (cháu ngoại của ông), vụ án Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn được minh oan hoàn toàn. Thượng hoàng Minh Tông phục chức Nhập nội Quốc Phụ Thượng Tể cho ông, tương truyền còn viết bài thơ Dạ vũ để tỏ nỗi lòng tiếc thương và ân hận.

Theo sử gia Hoa Kỳ K. W. Taylor trong sách A History of the Vietnamese (2013), Trần Minh Tông về cuối đời thường bị ám ảnh về việc không ngăn chặn cái chết của Trần Quốc Chẩn. Việc Trần Quốc Chẩn bị xử tử đã chấm dứt sự đoàn kết, tin tưởng lẫn nhau trong hoàng tộc Trần – vốn là sức mạnh của các triều vua trước. Taylor viết:

“Trần Mạnh từ đây trở thành một vị vua cô độc. Sự khuyên bảo từ các tôn thất cao niên và sự phục vụ trung thành từ các tôn thất trẻ trở nên suy giảm, như chưa từng có đối với một ông vua Trần”.

Ngày 7 tháng 2 năm Kỷ Tỵ (1329), Thái tử Vượng được lập làm Hoàng thái tử, tới ngày 15 thì vua nhường ngôi, đổi niên hiệu là Khai Hựu năm thứ 1, đại xá toàn dân.

(Vua tự) xưng là Triết Hoàng, Tôn Thượng hoàng là Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng Hoàng Đế. Tôn Lệ Thánh hoàng hậu làm Hiến Từ thái thượng hoàng hậu (Hiến có sách chép là Huệ). Quần thần dâng tôn hiệu là Thể Nguyên Ngự Cực Duệ Thánh Chí Hiếu Hoàng Đế.

Sự nghiệp trị quốc

Dù có khoảng thời gian trị vì dài hơn một thập kỷ, song thời gian đầu, vì Trần Hiến Tông lên ngôi khi còn quá nhỏ nên chủ yếu những quyết sách đáng lưu ý nhất giai đoạn trị vì của ông đều được thúc đẩy bởi cha ông là Thượng hoàng Trần Minh Tông.

Giáo dục – khoa cử

Trong thời gian trị vì của Trần Hiến Tông, nhà Trần không tổ chức khoa thi nào để chọn nhân tài.

Vào thời kỳ này, văn hóa cùng với một số ngành khoa học như thiên văn, lịch pháp và y học đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Dưới triều vua Trần Hiến Tông, Đặng Lộ, người huyện Sơn Minh (nay thuộc Ứng Hòa, Hà Nội), giữ chức Hậu nghi lang Thái sử cục lệnh, đã sáng chế ra một thiết bị quan trắc khí tượng có tên là Lung Linh nghi. Khi đem thử nghiệm, thiết bị này cho kết quả hoàn toàn chính xác, không hề sai lệch.

Kỷ Mão, [Khai Hựu] năm thứ 11 [1339], (Nguyên Chí Nguyên năm thứ 5). Mùa xuân, đổi tên lịch Thụ thành lịch Hiệp kỷ. 

Khi ấy, Hậu nghi lang thái sử cục lệnh là Đặng Lộ cho rằng lịch các đời trước đều gọi là lịch Thụ thì, xin đổi tên thành lịch Thụ thì, xin đổi  thành lịch Hiệp kỷ. Vua y theo. 

(Lộ là người huyện Sơn Minh). Lộ từng làm linh lung nghi thảo nghiệm thiên tượng, không việc gì là không đúng.

[…]

Mùa thu, tháng 8, ngày 15, ban đêm, con của Thượng hoàng là Hạo đi thuyền chơi Hồ Tây bị chết đuối, vớt được ở lỗ cống đơm cá. Thượng hoàng sai thầy thuốc Trâu Canh cứu chữa. Canh nói: “Dùng kim châm sẽ sống lại, nhưng chỉ sợ sẽ bị liệt dương”. Dùng kim châm thì quả như lời ông ta nói, từ đấy mọi người gọi Trâu Canh là thần y. Canh sau mãi được thăng lên Quan phục hầu Tuyên Huy viện đại sứ kiêm Thái y sứ.

Cải cách hành chính – pháp luật

Giai đoạn 1333 đến 1338 ghi nhận nhiều đợt thiên tai lớn như lụt lội, bão tố và động đất xảy ra liên tục. Trước nguy cơ mất mùa và đói kém lan rộng, Trần Hiến Tông đã chủ trương cho lập các kho chứa thóc thuế tại các địa phương, nhằm chủ động cung cấp lương thực cứu trợ dân chúng khi gặp hoạn nạn.

Giáp Tuất, [Khai Hựu] năm thứ 6 [1334], (Nguyên Nguyên Thống năm thứ 2). Mùa xuân, đặt 

thêm chức tả hữu chính ngôn tham nghị ở Trung thư. 

[…] Lấy Nguyễn Trung Ngạn làm Phát vận sứ Thanh Hóa, vận tải lương thực đi trước. 

[…]

(Năm 1337) Lấy Nguyễn Trung Ngạn làm An phủ sứ Nghệ An, kiêm Quốc sử viện giám tu quốc sử, hành Khoái Châu lộ tào vận sứ Trung Ngạn kiến nghị lập tào thương chứa thóc tô để chẩn cấp dân bị đói. Xuống chiếu cho các lộ bắt chước thế mà làm.

Luật pháp vẫn y cứ triều đại trước.

Quân sự

Dưới triều Trần Hiến Tông, biên giới phía Bắc và phía Nam tương đối ổn định, có nạn Ai Lao (Ất hợi 1334) hay quân Man thì Thượng hoàng là Trần Minh Tông đích thân đi dẹp yên hoặc giao phó cho vương đi, tuy không toàn thắng nhưng giữ yên được bờ cõi và giặc cũng không dám bén mảng tới thêm.

Giáp Tuất, [Khai Hựu] năm thứ 6[1334], (Nguyên Nguyên Thống năm thứ 2). Mùa xuân, đặt thêm chức tả hữu chính ngôn tham nghị ở Trung thư. Thượng hoàng tuần thú đạo Nghệ An, thân đi đánh Ai Lao. […] Ai Lao nghe tin chạy trốn. Sai Trung Ngạn mài vách núi khắc chử ghi công rồi về

[…].

Mùa thu, tháng 9 (năm 1335), Thượng hoàng thân đi đánh Ai Lao bị thua. […] Thượng hoàng nói : 

“Năm ngoái định thân chinh rồi không được, năm nay lại vì đau mắt mà hoãn việc xuất quân, thiên hạ sẽ bảo ta là nhát, nếu giặc phương Bắc xâm lấn thì ta còn nhờ cậy vào đâu?”. 

Bèn quyết chí thân chinh, ít lâu sau mắt cũng khỏi. Đến Nghệ An, bệnh lại tái phát. Thượng hoàng ngồi thuyền cố gượng mà đi, khi lên bộ thì khỏi. 

[…]

Đến ngày giao chiến, mây mù che tối, giặc đã phục sẵn voi ngựa, hai mặt giáp công, quan quân thua to, sa xuống nước chết đuối đến quá nửa. Nhữ Hài cũng ở trong số người chết đuối đó. 

[…]

Sai Hưng Hiếu Vương dẹp người man Ngưu Hống. [Hưng Hiếu Vương] tiến quân vào trại Trịnh Kỳ, đánh tan quân man, chém tù trưởng của họ là Xa Phần. 

Quân trở về, quân sĩ đều được ban thưởng. 

Đối nội – đối ngoại

Trần Hiến Tông tiếp tục trọng dụng hàng quan và các văn sĩ của đời trước, tích cực đốc thúc quan viên xét duyệt những thuộc viên do mình quản lý hàng năm nhằm loại bỏ những người không làm được, giữ lại những người siêng năng và cẩn thận.

Gia khuyến

Cha: Trần Minh Tông

Mẹ đích: Hiến Từ Tuyên Thánh Hoàng Hậu Trần thị

Mẹ sinh: Minh Từ Hoàng thái phi Lê thị

Hậu phi – Chính thất: Hiển Trinh Công chúa, con gái trưởng Bình Chương Huệ Túc vương
Hậu duệ: 1 công chúa (không rõ tên)

Cuối đời – Thờ phụng

Ngày 11 tháng 6 năm Tân Tỵ (1341), vua băng tại chính tẩm, cung Kiến Xương, miếu hiệu Hiến Tông

Nhận xét đánh giá

Sử Thần Ngô Sĩ Liên nói: “Vua tuy có thiên tư tốt đẹp, nhưng vì tuổi trẻ nối ngôi, công việc trong nước đều do Thượng hoàng giữ cả, thì cũng như là người chưa nắm việc của đất nước, tức như câu “cha còn sống, con không được chuyên quyền” vậy, còn bàn vào đâu được nữa. 

Tham khảo

  1. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  2. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  3. Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên Hà Nội.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Cover ảnh thiền sư chốn thiêng (2)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)