Tên gọi và vị trí địa lý
Đền Cổ Loa, còn được gọi là đền Thượng hoặc đền thờ vua An Dương Vương, là một trong những công trình thờ tự quan trọng nằm trong quần thể di tích Cổ Loa. Di tích tọa lạc tại xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô khoảng 20 km về phía Bắc. Nơi đây thuộc khu vực Thành Nội của thành Cổ Loa xưa, nay thuộc địa phận xóm Chùa.
Lịch sử và nhân vật
Vùng đất Cổ Loa là một không gian văn hóa – lịch sử đặc biệt quan trọng, lưu giữ dấu tích cư trú liên tục của cộng đồng cư dân Việt cổ từ thời tiền sử đến nay. Khoảng 20.000 – 11.000 năm trước, nơi đây đã xuất hiện dấu vết sinh sống của người nguyên thủy thuộc văn hóa Sơn Vi, một trong những nền văn hóa cổ xưa nhất của Việt Nam.
Bước sang thời kỳ Âu Lạc dưới triều An Dương Vương, Cổ Loa trở thành kinh đô của quốc gia, được xây dựng thành một quần thể thành lũy quy mô lớn với cấu trúc xoáy ốc độc đáo. Thành Cổ Loa được đánh giá là đô thị cổ đại sớm nhất và có quy mô lớn nhất Đông Nam Á, vừa là trung tâm chính trị – quân sự, vừa là nơi hội tụ những giá trị văn hóa của cư dân Lạc Việt.
Trong thời kỳ Bắc thuộc, Loa Thành bị sáp nhập vào hệ thống cai trị của các triều đại phương Bắc và trở thành một huyện thành có vị trí chiến lược. Đến năm 938, sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền lên ngôi vua và chọn Cổ Loa làm kinh đô, đánh dấu sự chấm dứt hơn một thiên niên kỷ Bắc thuộc và mở ra thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc.
Từ thế kỷ XI đến XVIII, cấu trúc thành Cổ Loa dần biến đổi, các làng xã được hình thành và ổn định, tạo nền tảng cho đời sống kinh tế – văn hóa trong khu vực. Từ thế kỷ XIX đến hiện đại, Cổ Loa tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đồng thời phát triển thành khu dân cư sinh sống lâu đời, bảo tồn các giá trị truyền thống gắn với di tích.
Gắn với đền Cổ Loa là hệ thống truyền thuyết nổi tiếng về An Dương Vương, công chúa Mỵ Châu và Trọng Thuỷ – câu chuyện mang chiều sâu lịch sử và tính biểu tượng của văn hóa Việt. Phía trước đền là giếng Ngọc, một hồ nước lớn hình cung tròn, bờ kè bằng đá, được bao quanh bởi thảm cây xanh. Theo truyền thuyết, đây là nơi công chúa Mỵ Châu và Trọng Thuỷ thường dạo chơi bằng thuyền trước khi Triệu Đà xâm lược Âu Lạc. Giếng Ngọc đồng thời là nơi gắn với “hồi kết” của bi kịch tình yêu: sau khi chiến tranh kết thúc và nhận ra lỗi lầm khiến Mỵ Châu thiệt mạng, Trọng Thuỷ đã gieo mình xuống giếng để tự kết liễu cuộc đời.
Dân gian còn truyền lại câu chuyện rằng máu của công chúa Mỵ Châu rơi xuống biển hóa thành ngọc trai; khi đem ngọc trai ấy rửa dưới nước giếng Ngọc thì càng trở nên sáng và đẹp hơn, từ đó người dân gọi nơi đây là giếng Ngọc. Giai thoại này vừa biểu tượng cho nỗi oan khuất của Mỵ Châu, vừa thể hiện lòng thương cảm của dân gian đối với câu chuyện tình đầy bi thương.
Kiến trúc và hiện vật
Đền Thục An Dương Vương nằm trên một gò đất cao ở góc Tây – Nam của tòa thành cổ, dưới chân lũy đất còn lại của Cổ Loa xưa. Từ đường cái làng bước lên các bậc tam cấp là cổng ngoài với hai cột nanh lớn, mặt ngoài và mặt trong đều khắc câu đối chữ Hán; trên đỉnh cột đắp nghê gắn các mảnh sứ cổ. Từ đây, một lối gạch thoai thoải dẫn đến cổng tam quan cổ kính, lầu gác cao sừng sững. Hai bên lối vào là hai giếng Mắt Rồng, bố trí cân xứng, góp phần tạo nên địa thế linh thiêng cho toàn bộ khu đền.
Cổng tam quan được xây trên nền cao hơn, phải bước qua thêm bậc tam cấp, lan can có hai rồng đá thời Lê chạm khắc tinh xảo. Qua tam quan là sân đền, hai bên có nhà khách phục vụ người hành hương. Khu đền chính gồm Hạ điện và Thượng điện, bố cục liên hoàn theo hình chữ “khẩu”.
Hạ điện là tòa nhà ba gian lớn, cột lim to khỏe, tám mái cong mềm mại. Gian giữa đặt kiệu thần đồng thời là án thờ chính; hai bên bố trí giá cờ quạt, bát bửu, trống – chiêng. Tại đây còn lưu giữ hai con ngựa gỗ có kích thước bằng ngựa thật, yên bành thêu kim tuyến lộng lẫy, chế tác từ đời vua Vĩnh Thịnh (1706–1769). Trên các câu đầu, xà nhà treo hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng, trong đó có đôi câu đối của đại thần Tôn Thất Thuyết:
Tặc đáo Loa thành tùy diệt một;
Điện vô quy nỏ dũ uy linh.
Tạm dịch:
Giặc đến Loa thành thua tan tác;
Đền không nỏ máy tỏa linh uy.
Từ Hạ điện dẫn sang Thượng điện là dãy hành lang tả – hữu nối kín. Ở giữa là một tòa nhà trùng diêm tám mái cao, nơi đặt bàn thờ thần Kim Quy, có tượng Rùa Vàng sơn son thếp vàng cùng một chiếc cung thần được truyền tụng gắn với truyền thuyết nỏ thần.
Thượng điện gồm ba gian, gian giữa thờ Thục An Dương Vương, hai gian bên thờ Phụ Vương và Hoàng Hậu. Bàn thờ vua kê cao, bên trong đặt long ngai lớn khắc sáu chữ: “Thánh tổ An Dương Vương hoàng đế”. Trước long ngai bày mũ hoàng đế, đôi hia lớn và hộp quốc ấn phủ vóc đỏ. Tượng đồng Thục An Dương Vương được đặt ở vị trí trung tâm, tạc giống người thật trong triều phục. Trước tượng luôn duy trì một ngọn đèn dầu — “ngọn lửa thần” từng cháy hàng trăm năm; ngày nay đã được thay bằng đèn hiện đại nhưng vẫn phảng phất linh khí xưa.
Phía Tây đền, trên một gò đất cao nơi xưa vua Thục dựng miếu thờ Thần Nông, là nhà bia hình vuông nhỏ, mái cong bốn góc, lan can rồng đá. Bên trong đặt nhiều bia ghi chỉ dụ của các triều vua về việc bảo vệ, duy trì việc thờ phụng. Tấm bia cổ nhất khắc niên hiệu Lê Thần Đức (1614), cấp cho xã Cổ Loa 50 mẫu ruộng tế điền miễn thuế và 32 suất lính để trông coi đền. Nhiều triều đại sau như Vĩnh Tộ (1620), Phúc Thái (1649), Cảnh Trị (1673), Khang Vương (1686), Vĩnh Thịnh (1708), Long Đức (1735), Vĩnh Hữu (1743)… tiếp tục ban chỉ dụ duy trì.
Trước đền không xa là giếng Ngọc, một ao tròn đường kính 80m, giữa có gò nổi và giếng xây gạch — nơi Trọng Thủy gieo mình sau khi nghe tin về Mỵ Châu. Toàn bộ địa thế đền Thục An Dương Vương được ví như một con rồng lớn hướng về Nam: đầu rồng là đền Thượng, mắt rồng là hai Giếng Mắt Rồng, mỏm rồng là giếng Ngọc, còn thân rồng là lũy Thành Nội uốn lượn.
Cách đền Thượng vài trăm mét, gần đình Cổ Loa, là am Bà Chúa thờ công chúa Mỵ Châu. Một cây đa cổ thụ có từ thời Ngô Quyền tỏa bóng che am, dưới gốc đặt bàn thờ nhỏ luôn khói hương. Am gồm Thượng điện và Hạ điện.
– Hạ điện là nhà ba gian, cửa đóng kín, trong gian giữa đặt bàn thờ, cột khắc nhiều câu đối và thơ vịnh sơn son thếp vàng.
– Thượng điện ba gian, gian giữa đặt bàn thờ Mỵ Châu với mũ cườm và giày cườm, hai bên thờ mười hai nàng hầu. Câu đối của Đại các Học sĩ Nguyễn Tư Giản khắc tại đây:
Trung tín thệ tẩm thân hóa thạch;
Hưng vong sá lệ tỉnh trầm châu.
Tạm dịch:
Lời thề trung tín thân hóa đá;
Giọt lệ hưng vong giếng trầm châu.
Sau bàn thờ công chúa là khối đá hình người, được coi là mộ Mỵ Châu, phủ vải vàng trong hậu cung xây kín. Một bài thơ nổi tiếng của Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh (1903) được khắc trong miếu đã bộc lộ cảm xúc thiêng liêng khi viếng mộ:
Lang quân tình trọng phụ ân thâm,
Bất bạch kỳ oan trực đáo câm.
Cơ trảo vô hình quy diệc khứ,
Minh Châu hữu lệ, bạng do trầm.Hoàng bi cổ mộc thiên niên quốc,
Bích hải giao thiên nhất phiến tâm.
Tịch mịch tiên triều cung ngoại miếu,
Đỗ quyên đề đoạn, nguyệt âm âm.
(Trần Hữu Thung phỏng dịch)
Về niên đại, việc xác định thời điểm xây dựng đền Thục An Dương Vương là rất khó. Theo thần phả, thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa, quân Hai Bà từng nghỉ tại am Bà Chúa, cho thấy khu vực này đã có thờ tự từ rất sớm. Trải qua thời Mạc – Lê, nhiều lần đền được trùng tu. Đời Chính Hòa (1682–1703), đền được mở rộng với quy mô gần giống hiện nay. Dưới triều Nguyễn và sau Cách mạng tháng Tám, đền tiếp tục được tu bổ, giữ nguyên sự tôn nghiêm cho đến ngày nay.
Sự kiện và lễ hội
Tại đền Thục An Dương Vương – Cổ Loa, nghi thức thờ tự và các kỳ lễ hội truyền thống hằng năm luôn được tổ chức long trọng, phản ánh vai trò trung tâm tín ngưỡng của di tích trong đời sống cộng đồng. Trước kia, ruộng đất phục vụ cho việc tế lễ lên tới hàng trăm mẫu, trong đó có phần được miễn thuế nhằm bảo đảm nguồn lực cho các hoạt động cúng tế.
Về tổ chức, xã Cổ Loa cử các ông đám – ông từ: ông đám Đoài (thôn Đoài) và ông đám Đông (thôn Đông) trông coi và thắp hương tại đền Thượng. Tham gia cúng tế ở đền Thục An Dương Vương có các xã Thư Cựu (tổng Cổ Loa), Mạch Tràng, Văn Thượng (tổng Xuân Canh), Đại Bì, Cầu Cả, Ngoại Sát, Sẵn Dã (tổng Uy Nội). Hằng năm, theo âm lịch, đền Cổ Loa có ba kỳ tế chính: mồng 6 tháng Giêng (lễ hội Cổ Loa), mồng 7 tháng Ba (ngày Thánh hóa) và 18 tháng 11 (ngày Thánh sinh – Thục An Dương Vương). Trong các kỳ lễ, xã Văn Thượng phụ trách viết chúc văn, xã Thư Cựu lo cỗ bàn, các xã khác đảm trách các phần việc còn lại. Đại biểu làng Quẹo (xã Liên Hà ngày nay), vốn là dòng dõi gốc Cổ Loa, được mời ngồi chiếu nhất.
Kỳ lễ quan trọng nhất diễn ra vào mồng 6 tháng Giêng, kéo dài mười ngày. Nội dung lễ hội bao gồm ba phần: lễ tế thần, lễ rước kiệu và phần hội. Từ sáng sớm, sân đền được chuẩn bị trang trọng: bàn thờ ngoài trời kê cao, bày đủ đồ tế khí trong đền, gồm cả mũ, hia, cung nỏ tượng trưng của Đức Vua. Kiệu đền Thượng đặt trước sân cùng hai dãy giá cắm cờ quạt và bát bửu. Các xã rước kiệu của mình đến, xếp thành hai hàng dọc theo giá cờ và bát bửu. Một góc huyện Đông Ngạn rực rỡ sắc đỏ – vàng của cờ lọng, hòa cùng tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng nhạc bát âm. Các đoàn rước kiệu gồm cờ, gươm, giáo, chùy, trượng, bát xà mâu, đội nhạc, các chức sắc và dân làng trong trang phục truyền thống. Đoàn rước giá văn của xã Văn Thượng cũng diễn ra long trọng trước khi bắt đầu lễ tế thần kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ.
Buổi chiều là lễ rước kiệu từ đền Thượng sang đình Cổ Loa. Kiệu đền Thượng đi đầu, tiếp theo là kiệu của bảy xã. Tại đình, lễ tế thần được tái hiện một lần nữa và kết thúc bằng lễ ban phúc – nghi thức quan trọng trong đó chủ tế xin phúc và trao nắm hương cháy cho các xã đem về kiệu mình để nhận lộc Thánh.
Từ ngày mồng 7, đền mở cửa cho khách thập phương trẩy hội. Người từ Hà Nội, Hải Phòng, Hà Đông, Bắc Ninh, Lạng Sơn và nhiều vùng khác đổ về đông đúc. Trước đền Thượng và am Bà Chúa, dòng người chen chân dâng hương. Không khí cầu khấn diễn ra suốt ngày đêm. Ngoài khu vực tế lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian như đu tiên, đấu vật, chọi gà, cờ người, cờ thẻ, bài điếm, vật cù lộ…; ban đêm có hát tuồng, hát chèo. Hàng quán phục vụ khách lễ hội bày bán la liệt, từ hương hoa, đồ lễ đến quà bánh, cơm, cháo, phở.
Sau Cách mạng tháng Tám, Cổ Loa được xếp hạng di tích lịch sử. Việc thờ phụng ở đền vua Thục và am Bà Chúa do xã Cổ Loa đảm trách, với Ban phụng sự gồm 12 người. Hai từ đường đảm nhiệm việc chăm sóc đền, đón tiếp khách, quét dọn, hương khói, giới thiệu thần tích và giữ chìa khóa đền. Lượng khách viếng thăm luôn đông, kể cả người nước ngoài.
Hiện nay, lễ hội Cổ Loa vẫn được duy trì hằng năm, diễn ra trong hai ngày: mồng 5 vào hội, mồng 6 chính hội. Tuy không còn lễ rước kiệu và ban phúc như trước, nhưng vẫn giữ nghi thức tế thần tại đền Thượng buổi sáng và đình Cổ Loa buổi chiều. Lượng người tham dự rất lớn, gồm cơ quan, đoàn thể, địa phương và du khách trong ngoài nước. Người đi trẩy hội thường mua huy hiệu, hạt cườm, tràng hạt, dây ngũ sắc… làm kỷ niệm, như một niềm tin vào sự linh ứng và phúc lành của Đức Thánh.
Xếp hạng
Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học tiêu biểu của di tích, ngày 27/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Cổ Loa là Di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 1419/QĐ-TTg).
Tham khảo
Vũ Ngọc Khánh (2007), Đền Miếu Việt, Nxb Thanh Niên.
