Tiểu sử
Cư sĩ sinh ngày 3 tháng 3 năm 1902 tại Phú Hiệp – Huế, con của cụ ông Tôn Thất Hiển, Pháp danh Tâm Linh và cụ bà Nguyễn Thị Hòa, Pháp danh Tâm Phúc. Cư sĩ lập gia đình với bà Trần Đạo Thi Truyền, người làng Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên. Cư sĩ sinh được 2 trai và 1 gái, trong đó có Bác sĩ Tôn Thất Chiểu.
Từ nhỏ, Cư sĩ được cha mẹ cho học trường Pháp – Việt tại Huế. Cư sĩ học chữ Nho với Thân phụ và giỏi về y lý cổ truyền nên đã bốc thuốc, bắt mạch giúp cho nhiều người trong vùng.
Thời Pháp thuộc, Cư sĩ làm công chức trong ngành Bưu điện.
Cuộc đời của Cư sĩ đến với đạo Phật như thế nào? Chính Cư sĩ tự thuật như sau: “Tôi nay tuổi đã ngồi 90 cho nên đã trãi qua nhiều chuyện vui buồn lẫn lộn, khen có mà chê cũng có là chuyện thường tình, vào nhà quan trường cũng hái được hường (hồng) táo, thị, sồi gì đó, nhưng tôi có đặc biệt là vào nhà tù 2 lần mà không phải vì phạm pháp luật hay vì tranh đua danh lợi nhưng vì không muốn phản bội giống nòi và không muốn bỏ đạo mình (đạo Phật) đã theo lâu nay.
Bỉ cực, thái lai, được làm lại Thư ký sở Bưu điện, được gặp ông cố đạo người Pháp tên là Darbon, khen tôi con người chỉnh đốn có lễ độ và khuyên tôi rửa tội theo Chúa để sau hết lên thiên đường sướng đời đời. Tôi hỏi phải có điều kiện gì? Thì ông nói không có điều kiện gì phiền tối mà chỉ lấy đức tin lời răn của Chúa, mỗi tuần ngày chủ nhật thì phải đến nhà thờ xem lễ và đọc kinh cầu nguyện, kinh bằng tiếng Việt, rất dễ học.
Tôi đem câu chuyện này về kể lại cho cha tôi nghe thì cha tôi nói : Cha là đạo Khổng, Mệ nội và bà cô con theo đạo Phật có thờ Tổ tiên, còn đạo Chúa, họ chỉ thờ Chúa mà không thờ cha mẹ… thế là tôi đi tìm hiểu đạo Phật. Được gặp 1 ông Phật tử trung niên đậu tú tài Pháp thì tôi nói : Thưa anh, tôi đã hiểu sơ sơ đạo trời, đạo Khổng rồi nhưng tôi chưa thỏa thích, nay tôi đến xin anh vui lòng cho tôi hiểu đạo Phật. Ông nói : Bổn phận của anh là phổ biến đạo Phật, mà nay em có lòng đến hỏi thì anh rất vui lòng, trình bày đại cương giáo lý của đạo Phật, nhưng anh khuyên em đừng có quan niệm “xưa bày nay bắt chước” mà phải suy luận rất kỷ rồi theo, ấy là Chánh tư duy. Ở đời có nhiều điều mê tín dị đoan cho nên đạo Phật là đạo lý trí, siêu phàm nhập thánh, nói cho rõ trừ ma lên Phật.
Thưa anh, muốn trở thành Phật tử thì phải có điều kiện gì? Là phát nguyện quy y theo Phật, Pháp, Tăng có nghĩa là bỏ đời sống tội lỗi, bê tha, bỏ ngũ dục (sắc, thanh, hương, vị, xúc) để đem lại đời sống trí tuệ, có lợi cho mình cho muôn lồi. Nói tóm lại là ban vui cứu khổ.
Thưa anh, em đi đêm 30 mà được anh cho cái đuốc để thấy rõ đường mà đi thì quý hóa biết bao nhiêu… Năm 1947 tôi xin làm lại Bưu điện và rũ 6 đạo hữu xin thành lập khuôn hội Phật giáo An Lạc từ năm 1948 đến nay mà vẫn để tôi làm Khuôn trưởng.
Năm 1963, nhân lễ Phật đản, cờ Phật bị hạ xuống thì phong trào đấu tranh Phật giáo nổi lên, nào là biểu tình, tuyệt thực, đình công, bãi thị, mấy thầy cô bị bắt cùng 1 số đông Phật tử. Chiểu là con tôi học y khoa Sài gòn về thăm cũng bị bắt luôn trong năm 1962 đến ngày 3 tháng 11 năm 1963 mới được ra tù.
Cuộc đời của Cư sĩ Tôn Thất Hàng từ khi tìm hiểu đạo Phật, theo Phật, phụng sự đạo Phật cho đến khi qua đời cũng cầu vãng sanh cõi Phật là bước đi vững chắc không sai lệch.
Cư sĩ trong những năm sau đó, ngồi chức Khuôn trưởng khuôn An Lạc, là giảng sư Cư sĩ cho các Khuôn hội, còn viết sách, in sách và làm báo, thủ quỷ kiêm phát hành báo Viên Âm tục bản (của Tổng Trị sự Việt Nam Phật học tại Huế).
Những tác phẩm của Cư sĩ đã trước tác và in ấn gồm : Phật học thường thức tập 1, tập 2 và kinh Di đà yếu lược.
Tất cả các kinh luận trên đều được Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Siêu duyệt và đích thân viết lời giới thiệu.
Cuộc đời của Cư sĩ đã hiện diện 100 năm, có phước duyên Quy y Tam bảo và phục vụ Đạo pháp trên 50 năm là một tấm gương để con cháu noi theo.
Cư sĩ là người cha, người ông, hết sức thương yêu con cháu. Cư sĩ đã làm tròn trách nhiệm của mình đối với gia đình.
Cư sĩ còn là một vị Lương y trị bệnh cho đời. Nhà của Cư sĩ là phòng khám nhân dân, không phân biệt giàu nghèo, ai có bệnh đến là Cư sĩ giúp đỡ, đúng với câu người xưa nói: “Lương y như từ mẫu”. Tốt đời đẹp đạo, Cư sĩ đã làm tròn trách nhiệm của mình. Như đèn hết dầu, có hợp có tan theo luật vô thường, Cư sĩ đã xả bỏ thân tứđại để về với Phật năm 2003, thọ 101 tuổi.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản 2011.