Thông tin chung
Công chúa Thiều Dương, tên thật là Trần Thị Thúy, là một trong những người con gái của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Bà nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam với danh xưng là vị công chúa đại hiếu và đại tình.
Xuất thân
Công chúa Thiều Dương là con gái thứ của Thượng hoàng Trần Thái Tông. Bà được sinh ra bởi một Thứ phi của vua Trần Thái Tông và là em gái cùng mẹ với công chúa Thụy Bảo. Năm 16 tuổi, công chúa được gả cho Thượng vị Văn Hưng Hầu (hoặc Thượng vị hầu Văn Hưng).
Cuộc đời
Công chúa Thiều Dương, còn gọi là Trần Thị Thúy, là con gái của Thượng hoàng Trần Thái Tông, được sử sách ghi nhận hai chữ “Đại Tình” nhờ những đóng góp to lớn cho dân nghèo và tinh thần hiếu thảo tuyệt vời đối với cha. Trong suốt cuộc đời mình, công chúa không chỉ là một thành viên hoàng tộc bình dị mà còn là biểu tượng của lòng thương dân và sự tận tụy.
Về công lao vì dân, công chúa Thiều Dương thực sự là người đi đầu trong các chính sách khai hoang của triều Trần. Vào tháng 10 năm Bính Dần (1226), vua Trần ban chiếu cho các vương hầu, công chúa và phò mã được quyền chiêu tập dân lưu tán không có sản nghiệp để khai khẩn ruộng hoang. Dù được ban tặng một khối lượng ruộng đất lớn với 450 mẫu ruộng thế nghiệp, 26 mẫu thổ thế nghiệp, 110 mẫu bãi dâu và 600 mẫu ruộng, công chúa từ chối nhận bổng lộc, chọn về vùng An Nữ (thôn Nứa) để tự khai khẩn. Bà huy động 150 người cùng chiêu mộ thêm dân nghèo, khai khẩn 300 mẫu ruộng cạnh sông Thái Sư, sử dụng tiền vua cấp để mua thêm ao đầm, lập chùa, đúc chuông, tô tượng và xây cầu bắc qua sông Nại. Công chúa còn giúp người Chăm mở ấp Quang Chiêm, góp phần làm cho vùng đất trở nên trù phú, đem lại cuộc sống ấm no cho người dân nghèo. Chính vì những việc làm này, nhân dân và sử sách đời sau ghi nhận bà với danh xưng “đại tình”, tấm lòng thương dân lớn lao.
Biến cố năm Đinh Sửu (1277): Cha mất – con qua đời
Tháng 3 năm Đinh Sửu (1277), Thượng hoàng Thái Tông lúc này đã 60 tuổi, sức khỏe suy yếu. Khi ấy, công chúa Thiều Dương vừa mới sinh con cho Thượng vị Văn Hưng hầu, đang trong thời gian ở cữ nên không thể đến thăm cha. Bà rất lo lắng, nhiều lần sai người đến hỏi thăm tình hình sức khỏe của Thượng hoàng. Tuy nhiên, người hầu cận đều trả lời rằng Thượng hoàng đã bình phục, không có việc gì, nhằm trấn an công chúa. Đến ngày mùng Một tháng tư năm Đinh Sửu (1277), tuổi cao sức yếu, Thượng hoàng Thái Tông băng hà tại cung Vạn Thọ. Theo lệ, khi vua hoặc Thượng hoàng mất, triều đình cho kéo chuông để báo cho dân chúng biết.
Lúc ấy, công chúa Thiều Dương bỗng nghe tiếng chuông gióng liên hồi, liền hỏi những người xung quanh: Có thể nào không phải là tin dữ chăng?
Những người hầu bên cạnh vì lo công chúa đau buồn, ảnh hưởng đến sức khỏe nên đã nói dối. Lúc đó công chúa đang ở cữ, vừa mới sinh con, không thể trực tiếp đến thăm cha. Nhưng linh tính mách bảo, công chúa hiểu rằng đó chính là tin phụ vương đã về miền cực lạc. Bà đau buồn khôn xiết, thương khóc không ngừng, kêu gào mãi không thôi. Sau đó, công chúa nhắm nghiền mắt, ít lâu sau thì qua đời, để lại chồng góa, con thơ. Người trong nước ai cũng thương xót, còn nhà Trần thì tang lại tiếp tang, cảnh tượng vô cùng đau buồn. Sự ra đi của bà, tuổi đời còn rất trẻ, đã khiến người trong nước thương xót và ghi nhớ tấm lòng hiếu thảo tuyệt vời.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư (quyển V, tờ 35a-36b), trước khi Thượng hoàng băng, công chúa đã nhiều lần cử người đến hỏi thăm nhưng được báo ngài bình phục. Khi nghe tiếng chuông báo tin dữ, công chúa không thể kìm nén, đau buồn đến nỗi mắt mờ đi và qua đời, khiến hậu thế ghi nhận bà là người con gái đại hiếu. Dù cuộc đời Công chúa Thiều Dương trôi qua bình dị như bao phu nhân của quan quân thời Trần, nhưng sự kiện liên quan đến cái chết của Thượng hoàng Trần Thái Tông đã làm tên tuổi bà đi vào sử sách và tâm thức nhân dân như hình ảnh con gái hiếu thảo tuyệt vời, sinh ký tử quy trong niềm thương tiếc.
Cuộc đời công chúa Thiều Dương là biểu tượng của đại tình, đại hiếu, vừa vì dân, vừa vì cha, để lại một sử tích cảm động ngàn đời về một người phụ nữ hiền hậu, trung hậu và dũng cảm của triều Trần.
Chùa Hoàng Mai và Thiều Dương công chúa
Chùa Hoàng Mai hiện tọa lạc tại thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (xưa thuộc phường Hoàng Ma, sau là làng Hoàng Mai). Chùa có tên chữ là Linh Quang tự, sau đổi thành Minh Linh tự. Đây là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng cư dân địa phương qua nhiều thế kỷ.
Theo ngọc phả làng Hoàng Mai do sử thần Nguyễn Bính soạn vào mùa xuân năm Hồng Phúc thứ nhất (1572), dưới triều vua Lê Anh Tông, chùa Hoàng Mai đã tồn tại từ sớm với tên gọi Linh Quang tự. Việc đổi tên chùa thành Minh Linh tự gắn liền với sự kiện Thiều Dương công chúa, con gái thứ 8 của vua Lê Thánh Tông, qua đời và được triều đình cho phép dân làng phụng thờ, chính thức từ năm 1572. Ngoài ra, các tư liệu sử và gia phả cho biết công chúa được triều đình sắc phong thêm mỹ hiệu “Tối linh đại vương” vào năm 1498, triều vua Lê Hiến Tông.
Theo ngọc phả, thuở ban đầu tại làng Hoàng Mai chỉ có một ngôi chùa nhỏ tên Linh Quang tự. Đến thời vua Lê Thánh Tông, Thiều Dương công chúa – con gái thứ 8 của nhà vua – đã bỏ tiền của, hưng công tu tạo và mở mang ngôi chùa, khiến cảnh chùa trở nên huy hoàng, rực rỡ và linh thiêng hơn. Sau khi công chúa mất, nhà vua ban chỉ cho phép dân làng Hoàng Mai được phụng thờ công chúa, đồng thời sắc phong mỹ hiệu là “Minh Linh”. Từ đó, nhân dân đổi tên chùa từ Linh Quang tự sang Minh Linh tự, và tên gọi này được ghi chép chính thức trong sử sách.
Theo sự tích địa phương, xưa kia vùng đất này còn thưa vắng cư dân, chưa có chùa miếu. Đến thời vua Lê Thái Tông, niên hiệu Thiệu Bình (1434–1439), tại phường Yên Phú có một hào trưởng là Đỗ Danh Cần, cùng người vợ họ Nguyễn sinh sống bằng nghề chài lưới. Trong một lần đến vùng Hoàng Ma, thấy đất đai màu mỡ, thuận lợi cho sinh kế, ông bà quyết định ở lại khai khẩn, lập nghiệp. Hai ông bà dựng nhà ở, làm nơi cứu vật, dung nạp và trợ giúp người khốn khó, đồng thời tự tay dựng một ngôi chùa nhỏ thờ Phật. Nhờ đó, dân cư các nơi tụ hội ngày càng đông, hình thành phường Hoàng Ma.
Sau khi ông bà qua đời, nhân dân địa phương ghi nhớ công lao lập làng, dựng chùa nên tôn thờ để bày tỏ lòng tri ân. Đến thế kỷ XV, Thiều Dương công chúa tiếp tục tu sửa, mở mang ngôi chùa, làm cho chùa ngày càng khang trang, tố hảo.
Ngọc phả còn chép rằng, trong một lần đến địa phận Hoàng Ma, Thiều Dương công chúa được Đỗ Danh Cần thỉnh mời nghỉ lại chùa Linh Quang. Thấy phong tục nơi đây thuần hậu, con người lương thiện, chùa chiền hương khói trang nghiêm, công chúa rất yêu mến và đã bỏ tiền tu tạo, xây dựng chùa lớn đẹp hơn. Từ đó, chùa càng thêm linh ứng. Khi công chúa qua đời, nhà vua ban sắc cho dân Hoàng Mai được chính thức thờ phụng.
Theo sử sách và gia phả họ Phạm ở Xuân Hương (Lạng Giang), Thiều Dương công chúa, tên thật là Lê Thị Ngọc Khanh, từng tham gia việc đánh giặc Liễu Thăng, có công lớn trong việc bảo vệ và khôi phục cương vực đất nước. Bà mất vào giờ Tý, ngày 22 tháng 2 (không rõ năm), được cấp ruộng thế nghiệp để trông nom mồ mả, từ đường và lăng miếu, đồng thời được hưởng nghi thức thờ phụng theo lễ nghi nhà nước. Như vậy, chùa Hoàng Mai không chỉ là nơi thờ Phật mà còn phối thờ ba đối tượng quan trọng: Phật, ông Đỗ Danh Cần – người có công lập làng dựng chùa, và Thiều Dương công chúa Lê Thị Ngọc Khanh – người có công với dân với nước ở thế kỷ XV.
Hiện nay, chùa Hoàng Mai đã được tu sửa với các hạng mục gồm Tiền đường nối Thượng điện, nhà thờ Tổ, nhà thờ Mẫu và nhà khách. Trong chùa còn lưu giữ hệ thống tượng Phật đầy đủ, cùng nhiều tư liệu và hiện vật gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của ngôi chùa.
Thờ phụng
Công chúa Thiều Dương hiện được thờ tại Miếu Nứa, thôn Nứa, xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, vùng đất phát tích và dựng nghiệp của nhà Trần. Ngôi miếu nhỏ nép dưới tán cây đa cổ thụ, tọa lạc trên gò đất nơi hội tụ của hai con lạch, một bắt nguồn từ Nhật Tảo, một từ Lưu Xá, tạo thế đất “Quần Long hội tụ”. Theo các cụ cao niên và giới phong thủy, thế đất này đã góp phần làm ngôi miếu linh thiêng và tồn tại vững bền hơn 700 năm, bất chấp biến thiên của lịch sử.
Miếu Nứa không chỉ là nơi thờ phụng, mà còn là biểu tượng tôn vinh công đức và lòng hiếu thảo của công chúa. Trong miếu hiện còn đôi câu đối:
Kính thiên hiếu khốc danh tại sử
An Nữ ân thâm thụy vĩnh tường
có nghĩa là:
Tiếng khóc thương vua tên ghi trong sử,
Ơn sâu thương dân An Nữ còn thơm mãi đến muôn đời
Về mặt lịch sử, công chúa Thiều Dương đã có nhiều đóng góp to lớn cho vùng đất này. Năm 16 tuổi, bà được gả cho Thượng vị Văn Hưng Hầu. Tháng 10 năm Bính Dần (1226), vua Trần ban chiếu cho các vương hầu, công chúa và phò mã được phép chiêu tập dân lưu tán không có sản nghiệp để khai khẩn ruộng hoang. Dù được ban tặng lượng ruộng đất rất lớn, công chúa từ chối nhận bổng lộc và chọn về An Nữ tự khẩn hoang, sử dụng 150 người cùng chiêu mộ thêm dân nghèo khai khẩn 300 mẫu ruộng cạnh sông Thái Sư, mua thêm ao đầm, lập chùa, đúc chuông, tô tượng, xây cầu bắc qua sông Nại và giúp người Chăm mở ấp Quang Chiêm. Dưới sự lãnh đạo của công chúa, vùng này trở nên trù phú, đem lại cuộc sống ấm no cho người dân nghèo, khiến sử sách ghi nhận bà với hai chữ “đại tình”.
Miếu Nứa còn gắn với các nghề truyền thống nổi danh của vùng: đan võng và làm mộc. Vùng đất bãi ven sông trù phú, cung cấp nguyên liệu chất lượng cao, đã tạo nên những sản phẩm đan võng tinh xảo cho quan lại và các công trình kiến trúc mộc nức tiếng, với nhiều nghệ nhân như Ba Nồm, Lý Thựu, Lý Nhàn, cụ Giống, lưu dấu ở nhiều đình đền, miếu tại các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên.
Lễ hội Miếu Nứa được tổ chức từ ngày 1 đến 4 tháng 4 âm lịch hằng năm, tưởng nhớ ngày mất của công chúa Thiều Dương. Sáng mồng 1 tháng Tư, nhân dân làm lễ rước kiệu công chúa và tế thần. Hai ngày tiếp theo diễn ra các hoạt động vui chơi dân gian như thi đánh cờ, chọi gà, thi hát dân ca, vừa tưởng nhớ công chúa, vừa gắn kết cộng đồng.
Miếu Nứa và lễ hội gắn liền với tên tuổi công chúa Thiều Dương, ghi dấu tấm lòng hiếu thảo, thương dân và đóng góp cho quê hương, trở thành di sản văn hóa – tâm linh quý giá của vùng đất Liên Hiệp.
Tham khảo
- Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu, Wikipedia.
- Các công chúa của vua Trần Thái Tông, trên trang nghiencuulichsu.com.
- Các công chúa triều Trần với đạo Phật và chốn Thiền môn, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, đăng tải ngày 06/07/2024.
- Nhà Trần, dăm điều thú vị. Kỳ 1. Hai cha con mất cùng ngày, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, đăng tải ngày 05/01/2021.
- Vị công chúa đại hiếu – đại tình trong lịch sử Việt Nam, trên trang nhadautu.vn, đăng tải ngày 05/05/2021.
- Đồng Thái, Vị công chúa đại hiếu, đại tình trong lịch sử Việt Nam, trên trang nongnghiepmoitruong.vn.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
General Information
Princess Thieu Duong, whose real name was Tran Thi Thuy, was one of the daughters of King Tran Thai Tong (Tran Canh). She is renowned in Vietnamese history as a princess of great filial piety and profound compassion.
Origin
Princess Thieu Duong was the second daughter of Retired Emperor Tran Thai Tong. She was born to a secondary consort of the king and was a full sister to Princess Thuy Bao. At the age of sixteen, the princess was married to Thuong Vi Van Hung Hau (or Thuong Vi Hau Van Hung).
Life
Princess Thieu Duong, also called Tran Thi Thuy, was noted in historical records for the two words “Dai Tinh” (great compassion) due to her substantial contributions to the poor and her exemplary filial devotion to her father. Throughout her life, she was not only a humble member of the royal family but also a symbol of benevolence toward the people and selfless dedication.
Regarding her public service, Princess Thieu Duong was a pioneer in the land reclamation policies of the Tran dynasty. In October of the Binh Dan year (1226), the king issued an edict allowing princes, princesses, and their husbands to recruit displaced people without property to cultivate wasteland. Although she was granted a large amount of land—450 acres of heritable fields, 26 acres of property land, 110 acres of mulberry fields, and 600 acres of rice fields—the princess refused any salary or income and chose to personally reclaim land in the An Nu (Nua village) area. She mobilized 150 people and recruited additional poor laborers to cultivate 300 acres of fields along the Thai Su River, using royal funds to purchase ponds, build pagodas, cast bells, decorate statues, and construct a bridge across the Nai River. She also assisted the Cham people in establishing the Quang Chiem settlement, making the region prosperous and bringing a stable livelihood to the poor. These acts earned her the historical recognition as a figure of “great compassion” (dai tinh).
The Greatest Tragedy: Filial Devotion
The most notable event that secured Princess Thieu Duong’s place in historical records was her act of extreme filial piety—the death caused by grief for her father. On the 1st day of the 4th lunar month in 1277, Retired Emperor Tran Thai Tong passed away. At that time, Princess Thieu Duong had just given birth and was unable to visit her father personally. Previously, when the Retired Emperor was unwell, she had sent envoys to inquire, but the attendants reported that he had recovered. Upon hearing the repeated bell tolls announcing her father’s death, Princess Thieu Duong intuitively realized the truth and was overwhelmed with grief. She wept and wailed continuously, her vision blurred, and she died on the same day, leaving behind a widowed husband and a young child. Her premature death deeply moved the people and was recorded as an example of supreme filial devotion.
According to the Dai Viet Su Ky Toan Thu (Volume V, folios 35a-36b), prior to the emperor’s death, the princess had sent multiple envoys who reported his recovery. Upon hearing the funeral bell, she was unable to contain her sorrow, her eyes blurred, and she passed away, thereby earning recognition from later generations as a daughter of exceptional filial piety. Though her life as a member of the royal family was relatively ordinary, the incident surrounding the death of Retired Emperor Tran Thai Tong immortalized her in history as a model of filial devotion, leaving an enduring impression in the collective memory of the people.
Princess Thieu Duong’s life symbolizes dai tinh (great compassion) and dai hieu (great filial piety), dedicated both to the welfare of the people and to her father, creating a moving historical narrative of a kind, loyal, and courageous woman of the Tran dynasty.
Veneration
Princess Thieu Duong is currently worshipped at Mieu Nua, Nua village, Lien Hiep commune, Hung Ha district, Thai Binh province, the land where the Tran dynasty originated and established its foundation. The small shrine lies beneath the shade of an ancient banyan tree, situated on a mound at the confluence of two streams, one originating from Nhat Tao and the other from Luu Xa, forming the feng-shui pattern of “Quan Long hoi tu” (gathering of dragons). According to elders and feng-shui experts, this land formation has contributed to the shrine’s sacredness and has allowed it to endure for more than 700 years, despite the vicissitudes of history.
Mieu Nua is not only a place of worship but also a symbol honoring the princess’s virtue and filial devotion. Inside the shrine, a couplet remains:
Kinh thien hieu khoc danh tai su
An Nu an tham thuy vinh tuong
(“The sound of filial lament for the king is recorded in history;
The deep grace toward the people of An Nu endures forever”.)
Historically, Princess Thieu Duong made significant contributions to this region. At age sixteen, she was married to Thuong Vi Van Hung Hau. In October of Binh Dan (1226), the king issued an edict granting royal family members the authority to recruit displaced people to reclaim wasteland. Despite receiving large land allocations, she refused salaries and personally undertook reclamation efforts in An Nu, mobilizing 150 people and additional laborers to cultivate 300 acres along the Thai Su River, acquiring ponds, constructing pagodas, casting bells, painting statues, building a bridge over the Nai River, and assisting the Cham in founding Quang Chiem. Under her leadership, the area became prosperous, providing a stable livelihood for the poor, earning her the historical epithet “dai tinh”.
Mieu Nua is also associated with the region’s traditional crafts, including hammock weaving and carpentry. The fertile riverside land provided high-quality materials, resulting in finely crafted hammocks for officials and renowned woodwork for architectural structures, with notable artisans such as Ba Nom, Ly Thuu, Ly Nhan, and Cu Giong, whose works remain in temples and shrines across Hai Duong and Hung Yen provinces.
The Mieu Nua festival is held annually from the 1st to 4th days of the 4th lunar month to commemorate Princess Thieu Duong’s death. On the morning of the 1st day, locals perform a palanquin procession and ritual ceremonies. The following two days feature folk activities such as chess competitions, cockfighting, and folk singing contests, honoring the princess while fostering community bonds.
Mieu Nua and its festival are closely linked to the legacy of Princess Thieu Duong, commemorating her filial devotion, compassion for the people, and contributions to her homeland, forming a treasured cultural and spiritual heritage of Lien Hiep.
References
- Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu, Wikipedia.
- Các công chúa của vua Trần Thái Tông, trên trang nghiencuulichsu.com.
- Các công chúa triều Trần với đạo Phật và chốn Thiền môn, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, đăng tải ngày 06/07/2024.
- Nhà Trần, dăm điều thú vị. Kỳ 1. Hai cha con mất cùng ngày, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, đăng tải ngày 05/01/2021.
- Vị công chúa đại hiếu – đại tình trong lịch sử Việt Nam, trên trang nhadautu.vn, đăng tải ngày 05/05/2021.
- Đồng Thái, Vị công chúa đại hiếu, đại tình trong lịch sử Việt Nam, trên trang nongnghiepmoitruong.vn.
Tiếng Trung (中文)
基本信息
肖陽公主(Thieu Duong Cong chua),本名陳氏翠(Tran Thi Thuy,是陳太宗(Tran Thai Tong,Tran Canh)之女。她在越南歷史上以“大孝大情”著稱。
出身
肖陽公主是陳太宗之女,由陳太宗的一位側妃所生,與瑞寶公主(Thuy Bao Cong chua)同母。十六歲時,公主嫁給上位文興侯(Thuong vi Van Hung Hau,或稱上位侯文興)。
生平
肖陽公主,又名陳氏翠,是陳太宗之女。史書記載她為“大情”,因她對貧民的貢獻及對父親的孝心極大而聞名。她一生不僅是平凡的皇族成員,更是愛民與奉獻的象徵。
在民生事業上,肖陽公主是陳朝開墾政策的先行者。丁丙寅年(1226年)十月,陳王下詔,允許王侯、公主與駙馬招募無業流民開墾荒田。公主雖被賜予大面積土地,包括450畝世業田、26畝土地、110畝桑田及600畝農田,卻拒絕領取俸祿,選擇回安女(An Nu,Nua村)自行開墾。她動員150人並招募貧民,開墾泰師河旁300畝田,並用王給資金購置池塘、建寺、鑄鐘、塑像、建橋過奈河,還協助占族開發光占村(Quang Chiem),使當地富庶,改善貧民生活。因這些功績,民間及史書稱她為“大情”,體現她對民的深厚愛心。
公主生平最大的悲劇,也是使其名留史冊的是“大孝”事件,即為父而死。農曆1277年四月初一,陳太宗駕崩。當時公主正產後休養,無法親自探望父親。此前太宗身體不適,她曾多次派人探視,但侍從回報太宗已康復。聽到連續鐘聲報喪,公主靈感察覺真相,悲痛不已,哭喊不止,眼目昏花,當日即逝,留下年幼子女與孀夫。她年紀尚輕,其去世使國人悲痛並銘記其孝心。
根據《大越史記全書》(卷五,頁35a-36b)記載,太宗駕崩前,公主多次派人探望,被告知已康復。聽聞鐘聲報噩耗,公主悲痛至眼目昏花而死,後世稱其為大孝女。雖然肖陽公主一生平凡如陳朝其他官妻,但其與太宗之死相關事件,使其名入史冊,並成為民間孝女典範。
肖陽公主一生象徵大情大孝,既為民,又為父,留下感人歷史,顯示她溫良、忠厚、勇敢的品格。
供奉
肖陽公主現供奉於竹廟(Mieu Nua),位於太平省興河縣聯合社竹村(Lien Hiep,Thon Nua),是陳朝發跡之地。小廟依古榕而建,坐落於兩條小溪匯合之地,一源自日灶,一源自留舍,形成“群龍匯聚”地勢。據長者及風水學,地勢使廟宇靈驗並延續七百餘年,歷經變遷仍穩固。
竹廟不僅供奉公主,亦象徵其德行與孝心。廟中尚有對聯:
敬天孝慟名在史
安女恩深諡永昌
意為:
哀哭天子名留史
愛民恩深安女香
歷史上,公主對此地貢獻巨大。十六歲嫁上位文興侯。丁丙寅年十月,陳王下詔允許王侯、公主與駙馬招募流民開荒。公主雖獲大量土地,卻拒俸祿,自行開墾,帶領150人及貧民開墾泰師河旁300畝田,購置池塘、建寺、鑄鐘、塑像、建橋、協助占族開發光占村。其領導下,當地富庶,民生安定,史書稱其“大情”。
竹廟亦與地方傳統手工業相關,如編織吊床與木工。河畔肥沃土地提供優質材料,製成精美吊床及知名木工建築,由多位工匠如Ba Nom、Ly Thuu、Ly Nhan、Giong等在海陽、興安多處廟宇與祠堂留下痕跡。
竹廟祭典每年農曆四月初一至四日舉行,紀念肖陽公主逝世。初一早晨舉行公主神轎巡遊及祭祀,隨後兩天有民間活動如下棋、鬥雞、民歌比賽,既追思公主,也凝聚社群。
竹廟與祭典緊扣肖陽公主名字,彰顯孝心、愛民及鄉土貢獻,成為聯合地區珍貴文化與精神遺產。
參考資料
- Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu, Wikipedia.
- Các công chúa của vua Trần Thái Tông, trên trang nghiencuulichsu.com.
- Các công chúa triều Trần với đạo Phật và chốn Thiền môn, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, đăng tải ngày 06/07/2024.
- Nhà Trần, dăm điều thú vị. Kỳ 1. Hai cha con mất cùng ngày, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, đăng tải ngày 05/01/2021.
- Vị công chúa đại hiếu – đại tình trong lịch sử Việt Nam, trên trang nhadautu.vn, đăng tải ngày 05/05/2021.
- Đồng Thái, Vị công chúa đại hiếu, đại tình trong lịch sử Việt Nam, trên trang nongnghiepmoitruong.vn.
Tiếng Pháp (Français’)
Informations generales
La princesse Thieu Duong, de son vrai nom Tran Thi Thuy, etait l’une des filles de l’empereur Tran Thai Tong (Tran Canh). Elle est celebre dans l’histoire du Viet Nam pour son titre de princesse de grande devotion filiale et d’un amour profond.
Origine
La princesse Thieu Duong etait la fille cadette de l’empereur retraité Tran Thai Tong. Elle est nee d’une concubine secondaire de l’empereur et etait la soeur maternelle de la princesse Thuy Bao. A l’age de 16 ans, la princesse fut mariee au Marquis de Van Hung (ou Marquis Thuong Vi Van Hung).
Vie
La princesse Thieu Duong, ou Tran Thi Thuy, fille de l’empereur retraité Tran Thai Tong, est mentionnee dans les annales avec l’expression “Dai Tinh” pour ses grandes contributions envers les pauvres et son esprit exemplaire de devotion filiale envers son pere. Tout au long de sa vie, la princesse ne fut pas seulement un membre ordinaire de la famille royale, mais aussi un symbole de compassion pour le peuple et de devouement.
En ce qui concerne ses contributions pour le peuple, la princesse Thieu Duong fut en premiere ligne dans les politiques de mise en valeur des terres vierges de la dynastie Tran. En octobre de l’annee Binh Dan (1226), l’empereur Tran ordonna aux princes, princesses et epoux de pouvoir recruter des populations dispersees sans terre pour mettre en valeur les terres vierges. Bien qu’elle ait recu une grande quantite de terres, soit 450 moules de terres hereditaires, 26 moules de terres domaniales, 110 moules de terres de murier et 600 moules de terres cultivables, la princesse refusa les revenus et choisit de s’installer a An Nu (village de Nua) pour cultiver elle-meme. Elle mobilisa 150 personnes et recruta d’autres pauvres, cultiva 300 moules de terres pres de la riviere Thai Su, acheta des etangs et mares, fit construire un temple, fondit une cloche, fit des statues et construisit un pont sur la riviere Nai. Elle aida egalement les Cham a etablir le hameau de Quang Chiem, contribuant a rendre la region prospere et a ameliorer la vie des pauvres. Pour ces actions, le peuple et les annales lui attribuent le titre “Dai Tinh”, symbole de son grand amour pour le peuple.
Le drame le plus important, qui fit entrer le nom de la princesse Thieu Duong dans les annales, est l’episode de “Dai Hieu”, sa mort par devotion filiale envers son pere. Le 1er jour du 4e mois lunaire de l’annee 1277, l’empereur retraité Tran Thai Tong deceda. La princesse etait alors en periode post-natale et ne pouvait se rendre directement au chevet de son pere. Avant cela, quand l’empereur ne se portait pas bien, elle avait envoye plusieurs fois des emissaires pour prendre des nouvelles, mais les serviteurs disaient qu’il allait bien. A l’annonce du deces par les cloches, la princesse sentit la verite, et dans une douleur incontrolable, elle pleura et mourut le jour meme, laissant derriere elle son mari veuf et son jeune enfant. Sa mort precoce suscita la compassion et le souvenir de sa devotion filiale exceptionnelle.
Selon le “Dai Viet Su Ky Toan Thu” (tome V, pages 35a-36b), avant le deces de l’empereur, la princesse avait envoye plusieurs emissaires qui rapportaient qu’il allait bien. A l’annonce du deces, elle ne put se contenir, sa tristesse etant telle que ses yeux se brouillerent et elle mourut, ce qui fit d’elle un exemple de “Dai Hieu”. Bien que la vie de la princesse Thieu Duong fut simple comme celle des epouses des dignitaires de la dynastie Tran, l’episode lie au deces de Tran Thai Tong grava son nom dans les annales et dans la memoire du peuple comme l’image d’une fille filiale exemplaire.
La vie de la princesse Thieu Duong est ainsi un symbole de “Dai Tinh” et de “Dai Hieu”, agissant a la fois pour le peuple et pour son pere, laissant un recit emouvant sur une femme douce, fidele et courageuse de la dynastie Tran.
Veneration
La princesse Thieu Duong est actuellement venerée au temple Nua, village de Nua, commune de Lien Hiep, district de Hung Ha, province de Thai Binh, la region d’origine et de fondation de la dynastie Tran. Le petit temple, niché sous un banian ancien, est situe sur une colline ou convergent deux ruisseaux, l’un venant de Nhat Tao, l’autre de Luu Xa, formant la disposition geographique appelee “Quan Long Hoi Tu”. Selon les anciens et les experts en geomancie, cette configuration contribue a rendre le temple sacre et durable depuis plus de 700 ans, malgre les aléas de l’histoire.
Le temple Nua n’est pas seulement un lieu de culte, mais egalement un symbole honorant les merites et la devotion filiale de la princesse. On y trouve encore un couplet :
Kinh thien hieu khoc danh tai su
An Nu an tham thuy vinh tuong
Ce qui signifie :
Les pleurs pour l’empereur sont inscrits dans l’histoire,
La profonde bienveillance pour le peuple d’An Nu perdure pour toujours.
Historiquement, la princesse Thieu Duong a beaucoup contribue a cette region. A 16 ans, elle fut mariee au Marquis de Van Hung. En octobre de l’annee Binh Dan (1226), l’empereur Tran autorisa princes, princesses et epoux a recruter les populations dispersees pour cultiver les terres vierges. Bien qu’elle ait recu une grande quantite de terres, la princesse refusa les revenus et choisit An Nu pour cultiver elle-meme, mobilisant 150 personnes, recruta d’autres pauvres pour cultiver 300 moules de terres pres de la riviere Thai Su, acheta etangs et mares, fit construire un temple, fondit une cloche, fit des statues, construisit un pont sur la riviere Nai et aida les Cham a etablir Quang Chiem. Sous sa direction, la region devint prospere, apportant une vie confortable aux pauvres, ce qui lui valut le titre de “Dai Tinh” dans les annales.
Le temple Nua est egalement lie aux artisanats traditionnels de la region : tissage de hamacs et menuiserie. La terre fertile pres de la riviere fournissait des materiaux de haute qualite, produisant des hamacs exquis pour les dignitaires et des ouvrages de menuiserie celebres, avec de nombreux artisans tels que Ba Nom, Ly Thuu, Ly Nhan, Giống, laissant leur empreinte dans les temples et pavillons des provinces de Hai Duong et Hung Yen.
La fete du temple Nua se tient chaque annee du 1er au 4e jour du 4e mois lunaire, en memoire de la mort de la princesse Thieu Duong. Le matin du 1er jour, le peuple effectue la procession du palanquin et des rites en l’honneur de la princesse. Les deux jours suivants, des activites folkloriques ont lieu, telles que jeux d’echecs, combats de coqs, concours de chants populaires, rendant hommage a la princesse et renforcant les liens communautaires.
Le temple Nua et sa fete sont etroitement lies a la princesse Thieu Duong, symbolisant sa devotion filiale, son amour pour le peuple et ses contributions a la region, devenant un patrimoine culturel et spirituel precieux de Lien Hiep.
References
- Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu, Wikipedia.
- Các công chúa của vua Trần Thái Tông, trên trang nghiencuulichsu.com.
- Các công chúa triều Trần với đạo Phật và chốn Thiền môn, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, đăng tải ngày 06/07/2024.
- Nhà Trần, dăm điều thú vị. Kỳ 1. Hai cha con mất cùng ngày, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, đăng tải ngày 05/01/2021.
- Vị công chúa đại hiếu – đại tình trong lịch sử Việt Nam, trên trang nhadautu.vn, đăng tải ngày 05/05/2021.
- Đồng Thái, Vị công chúa đại hiếu, đại tình trong lịch sử Việt Nam, trên trang nongnghiepmoitruong.vn.