Thân thế
Lê Anh Tông (chữ Hán: 黎英宗; 1532 – 22 tháng 1 năm 1573), tên húy Lê Duy Bang (黎維邦), là hoàng đế thứ ba của nhà Lê trung hưng và là vị hoàng đế thứ 14 của triều Hậu Lê trong lịch sử Đại Việt. Ông trị vì từ năm 1556 đến năm 1572, tổng cộng 16 năm, trong giai đoạn đất nước bị chia cắt bởi cục diện Nam – Bắc triều.
Lê Anh Tông xuất thân trong hoàng tộc nhà Lê, là cháu năm đời của Lê Trừ, anh ruột của Lê Thái Tổ (Lê Lợi). Đại Việt Sử ký Toàn thư chép rõ phả hệ như sau:
“Anh thứ hai của Thái Tổ là Trừ (tặng Lam Quốc công, nay tôn phong là Hoằng Dụ vương). Trừ sinh ra Khang (tặng Quỳ Quốc công, nay tôn phong là Hiển Công vương). Khang sinh ra Thọ (nay tôn phong là Quang Nghiệp vương). Thọ sinh Duy Thiệu (nay tôn phong là Trang Giản vương). Duy Thiệu sinh Duy Khoáng (nay tôn phong là Hiếu Tông Nhân Hoàng đế). Duy Khoáng lấy vợ người hương Bố Vệ, huyện Đông Sơn, sinh ra vua.”
Như vậy, về vai vế trong hoàng tộc, Lê Anh Tông thuộc hàng “ông” của vua Lê Trung Tông. Ông quê gốc ở hương Bố Vệ, huyện Đông Sơn, xứ Thanh Hoa (nay thuộc Thanh Hóa). Thân phụ là Lê Duy Khoáng (Hiếu Tông Nhân Hoàng đế, được truy tôn sau này), thân mẫu là người cùng quê Bố Vệ.
Bối cảnh lịch sử
Năm 1556, vua Lê Trung Tông qua đời mà không để lại con nối dõi. Trong hoàng tộc nhà Lê khi ấy, dòng dõi của Lê Thái Tổ vẫn còn một số hậu duệ sinh sống tại vùng Thanh Hóa, trong đó có con cháu của Lê Kiện (hoàng tử út của vua Lê Thánh Tông). Tuy nhiên, quyền thần Thái sư Lượng quốc công Trịnh Kiểm, người nắm giữ binh quyền và thực quyền triều chính, lại chủ trương chọn người kế vị từ nhánh khác của hoàng tộc, cụ thể là dòng dõi của Lê Trừ, anh ruột của Lê Thái Tổ.
Sau khi cân nhắc, Trịnh Kiểm quyết định lập Lê Duy Bang, cháu năm đời của Lê Trừ, lên ngôi hoàng đế. Từ đó, ông lấy niên hiệu Lê Anh Tông, trở thành vị vua thứ ba của thời Lê trung hưng.
Trị vì
Khi Lê Anh Tông lên ngôi, thế lực của nhà Lê chỉ còn kiểm soát vùng lãnh thổ từ Thanh Hóa trở vào Nam, còn toàn bộ vùng đất phía Bắc vẫn nằm dưới quyền cai trị của nhà Mạc. Trong giai đoạn này, nhà vua hầu như trao toàn bộ quyền điều hành quốc sự vào tay Thái sư Lượng quốc công Trịnh Kiểm. Năm 1558, khi Thái úy Đoan quận công Nguyễn Hoàng xin được trấn thủ xứ Thuận Hóa – Quảng Nam, Lê Anh Tông cũng để cho Trịnh Kiểm toàn quyền quyết định. Ngay cả vụ hoàng đệ Lê Duy Hàn lấy trộm ấn báu của triều đình, vua cũng để Trịnh Kiểm xử lý. Điều này cho thấy, quyền lực thực tế trong triều đã rơi vào tay quyền thần họ Trịnh ngay từ buổi đầu trung hưng, và ảnh hưởng của họ Nguyễn cũng đã hình thành, chứ không đợi đến thời Lê Thế Tông mới rõ rệt.
Tuy vậy, khác với hai vị vua đầu thời Lê trung hưng thường hoàn toàn ủy thác việc quân cho Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm, Lê Anh Tông đôi khi vẫn trực tiếp thân chinh cầm quân chống lại nhà Mạc. Cùng thời, một tướng họ Lê khác là Lê Cập Đệ nhiều lần lập công lớn ngoài mặt trận và được phong chức Thái phó.
Sau khi Trịnh Kiểm mất năm 1570, quyền lực trong phủ chúa rơi vào vòng tranh chấp giữa hai con ông là Trịnh Cối và Trịnh Tùng. Lê Anh Tông đứng về phía Trịnh Tùng, phong ông làm Trường quận công để đối phó với Trịnh Cối và quân Mạc do Nhiếp chính Mạc Kính Điển chỉ huy. Kết quả, Trịnh Cối thất bại và phải chạy sang hàng nhà Mạc. Nhà vua tiếp tục thăng Trịnh Tùng làm Thái úy Trưởng quốc công, giao trọng trách cầm quân đánh Mạc.
Ban đầu, mối quan hệ giữa Lê Anh Tông và Trịnh Tùng khá hòa hợp. Dưới sự lãnh đạo của Tùng, quân đội triều đình trở nên mạnh mẽ, binh sĩ tinh nhuệ, võ nghệ cao cường. Tuy nhiên, đến năm 1572, do nghe lời gièm pha của Cảnh Hấp và Đình Ngạn, vua dần lo ngại trước thế lực ngày càng lớn của Trịnh Tùng. Lê Cập Đệ cũng khuyên nhà vua nên tìm cách trừ khử Trịnh Tùng để khôi phục thực quyền về tay nhà Lê, mở đầu cho một biến cố lớn trong nội bộ Nam triều.
Gia quyến
Thân phụ: Hiếu Tông Nhân Hoàng đế Lê Duy Khoáng (được truy tôn), mẫu thân: không rõ
Hậu cung
- Ý Thận Hoàng hậu Nguyễn Thị Minh
- Nhuy Khanh Hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc
- Cung nhân Lê Thị Ngọc Quế.
- Cung nhân Lê Thị Ngọc Bền.
Hậu duệ
- Bản Quốc công Lê Duy Bách, con của Ý Thận Hoàng hậu Nguyễn Thị Minh, mất năm 1600.
- Lê Duy Lưu, con của Cung nhân Lê Thị Ngọc Quế.
- Lê Duy Ngạch, con của Cung nhân Lê Thị Ngọc Bền.
- Lê Duy Tùng, con của Cung nhân Lê Thị Ngọc Bền.
- Lê Thế Tông húy Lê Duy Đàm, con của Nhuy Khanh Hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc, kế vị ngai vàng sau khi Lê Anh Tông băng.
- Trưởng công chúa Lê Thị Ngọc Lễ, gả cho Hoàng Đình Phùng.
- Công chúa Lê Thị Ngọc Hoa
- Công chúa Mai Hoa
Cuối đời – thờ phụng
Cuối đời của vua Lê Anh Tông là một chuỗi biến cố bi thương, gắn liền với cuộc tranh đoạt quyền lực giữa hoàng triều và phủ chúa.
Sau khi bố trí xong mọi việc, Anh Tông cùng tướng Cập Đệ bí mật bàn mưu: hễ đêm đến, nghe tiếng pháo nổ một tiếng thì nhà vua sẽ vượt sông để thực hiện kế hoạch hành động. Tuy nhiên, cơ mưu chưa kịp tiến hành thì đã bị tiết lộ. Trịnh Tùng khi ấy đang nắm binh quyền biết rõ mọi chuyện nhưng giả vờ vẫn hậu đãi Cập Đệ, biếu nhiều vàng bạc. Khi Cập Đệ vào tạ ơn, ông bị đao phủ của Tùng phục sẵn giết chết ngay tại chỗ.
Nhận tin Cập Đệ bị sát hại, Anh Tông hiểu rõ kế hoạch đã bại lộ, bèn rời bỏ hành cung, mang theo bốn hoàng tử lớn chạy vào Nghệ An. Ngày mùng 1 tháng Giêng năm 1573, Trịnh Tùng lập con trai thứ năm của Anh Tông là Lê Duy Đàm, khi ấy còn nhỏ tuổi, lên ngôi, lấy niên hiệu Gia Thái, tức vua Lê Thế Tông.
Không dừng ở đó, Trịnh Tùng sai tướng Nguyễn Hữu Liêu dẫn quân vào Nghệ An bắt Anh Tông. Nhà vua phải lánh ra ruộng mía để tránh truy bắt. Hữu Liêu tìm được, quỳ lạy mà thưa:
“Xin bệ hạ mau mau hồi cung để cho thần và bá quan trong nước được thỏa lòng mong đợi. Chúng tôi tuyệt không dám có ý gì khác.”
Nghe lời, Anh Tông buộc phải quay về. Trịnh Tùng liền sai Tống Đức Vị túc trực ngày đêm bên cạnh để giám sát. Ngày 22 tháng Giêng năm 1573, khi vua đi đến Lôi Dương, Đức Vị bí mật bức hại, khiến nhà vua phải chết, rồi loan tin rằng vua tự thắt cổ.
Theo Đại Nam Thực lục Tiền biên:
“Quý Dậu, năm thứ 16 [1573]… mùa xuân tháng Giêng, vua Lê bị Trịnh Tùng bắt phải thắt cổ chết ở Lôi Dương, lập người con thứ là Duy Đàm làm vua… Từ đấy Tùng ngày càng lấn quyền, vua Lê gia phong cho tước vương, sau thành thế tập.”
Lê Anh Tông mất khi mới 42 tuổi, được an táng tại lăng Bố Vệ, để lại dấu mốc đau thương trong lịch sử thời Lê – Trịnh, khi quyền lực hoàng gia hoàn toàn bị phủ chúa thao túng.
Tài liệu tham khảo
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1962), Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
___________________
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Background
Le Anh Tong (Chinese: 黎英宗; 1532 – 22 January 1573), personal name Le Duy Bang (黎維邦), was the third emperor of the Le Restoration and the 14th emperor of the Later Le dynasty in the history of Dai Viet. He reigned from 1556 to 1572, a total of 16 years, during the period of division between the Southern and Northern Dynasties (Nam – Bac trieu).
Le Anh Tong descended from the Le royal clan, being a fifth-generation grandson of Le Tru, elder brother of Le Thai To (Le Loi). The Dai Viet Su Ky Toan Thu records his genealogy as follows:
“The second elder brother of Thai To was Tru (posthumously Duke of Lam, now honored as Prince Hoang Du). Tru begot Khang (posthumously Duke of Quy, now honored as Prince Hien Cong). Khang begot Tho (now honored as Prince Quang Nghiep). Tho begot Duy Thieu (now honored as Prince Trang Gian). Duy Thieu begot Duy Khoang (now posthumously Emperor Hieu Tong Nhan). Duy Khoang took a wife from Bo Ve village, Dong Son district, and their son became emperor.”
Thus, in relation to the royal lineage, Le Anh Tong was in the “uncle” generation of Emperor Le Trung Tong. His ancestral home was Bo Ve village, Dong Son district, Thanh Hoa. His father was Le Duy Khoang (later posthumously honored as Emperor Hieu Tong Nhan); his mother was also from Bo Ve.
Historical Context
In 1556, Emperor Le Trung Tong died without an heir. At that time, some descendants of Le Thai To still lived in Thanh Hoa, including the lineage of Prince Le Kien, youngest son of Emperor Le Thanh Tong. However, Grand Chancellor Trinh Kiem, who held military and political power, preferred to select a successor from another branch of the Le clan—specifically from the line of Le Tru, elder brother of Le Thai To.
After deliberation, Trinh Kiem chose Le Duy Bang, fifth-generation grandson of Le Tru, to ascend the throne. He took the reign title Anh Tong, becoming the third ruler of the Le Restoration.
Reign
When Le Anh Tong ascended, the Le court controlled only the territory from Thanh Hoa southwards, while the north remained under the Mac dynasty. For national affairs, the emperor entrusted most authority to Trinh Kiem. For example, in 1558, when Nguyen Hoang requested to govern Thuận Hóa–Quang Nam, Anh Tong left the decision entirely to Trinh Kiem. Even when Prince Le Duy Han stole the royal seal, Anh Tong allowed Trinh Kiem to handle the matter—showing that real power was already in Trinh hands, while Nguyen influence also began to rise, well before Emperor Le The Tong’s era.
Unlike his two predecessors, however, Anh Tong sometimes personally led military campaigns against the Mac. At the same time, Le Cap De, another Le general, earned many victories and was appointed Grand Preceptor (Thai pho).
After Trinh Kiem’s death in 1570, power in the Trinh residence was contested by his sons Trinh Coi and Trinh Tung. Anh Tong supported Trinh Tung, appointing him Duke of Truong to resist Trinh Coi and Mac forces under Regent Mac Kinh Dien. Trinh Coi was defeated and fled to the Mac. Anh Tong then elevated Trinh Tung to Grand Commander (Thai uy), Duke of Truong quoc, entrusting him with command against the Mac.
At first, relations between Anh Tong and Trinh Tung were harmonious. Under Tung’s leadership, the army became strong and disciplined. However, by 1572, influenced by courtiers Canh Hap and Dinh Ngan, the emperor began to fear Tung’s growing power. Le Cap De advised the emperor to eliminate Tung and restore Le authority—sparking a major internal crisis.
Family
Father: Emperor Hieu Tong Nhan (Le Duy Khoang, posthumously honored).
Mother: Unknown.
Consorts
Empress Y Than Nguyen Thi Minh.
Empress Nhuy Khanh Nguyen Thi Ngoc.
Consort Le Thi Ngoc Que.
Consort Le Thi Ngoc Ben.
Issue
Le Duy Bach, Duke Ban Quoc, son of Empress Y Than Nguyen Thi Minh, died 1600.
Le Duy Luu, son of Consort Le Thi Ngoc Que.
Le Duy Ngach, son of Consort Le Thi Ngoc Ben.
Le Duy Tung, son of Consort Le Thi Ngoc Ben.
Le The Tong (Le Duy Dam), son of Empress Nhuy Khanh Nguyen Thi Ngoc, who succeeded the throne.
Princess Le Thi Ngoc Le, married Hoang Dinh Phung.
Princess Le Thi Ngoc Hoa.
Princess Mai Hoa.
Final Years & Death
Anh Tong’s final years were marred by tragedy, intertwined with the struggle between the royal court and the Trinh lords.
He and Le Cap De plotted to overthrow Trinh Tung: upon hearing a cannon signal at night, the emperor would cross the river to act. But the plan was leaked. Trinh Tung, aware of everything, pretended to honor Cap De with gifts of gold and silver. When Cap De came to thank him, Tung’s assassins killed him on the spot.
Hearing of Cap De’s death, Anh Tong realized the plot had failed. He left the court with four princes, fleeing to Nghe An. On 1 January 1573, Trinh Tung enthroned Anh Tong’s fifth son Le Duy Dam as emperor with the reign title Gia Thai, known as Le The Tong.
Tung then sent General Nguyen Huu Lieu to capture Anh Tong in Nghe An. The emperor hid in a sugarcane field but was found. Lieu knelt and said:
“Your Majesty, please return to the court so that your ministers and the people may find peace. We harbor no other intent.”
Anh Tong reluctantly returned. Trinh Tung placed Tong Duc Vi to guard him day and night. On 22 January 1573, while the emperor was in Loi Duong, Duc Vi secretly forced him to death, spreading the false report that the emperor had hanged himself.
The Dai Nam Thuc Luc Tien Bien records:
“In the spring of Quy Dau, 16th year [1573]… in the first month, Trinh Tung forced Emperor Le to hang himself at Loi Duong and enthroned his son Duy Dam. From then on, Tung increasingly seized power, and the Le emperors granted him the title of Prince, which later became hereditary.”
Emperor Le Anh Tong died at age 42, buried at Bo Ve Mausoleum. His death marked a sorrowful milestone in Le–Trinh history, when royal power was entirely usurped by the Trinh lords.
References
- Quynh Cu, Do Duc Hung (2001), Cac trieu dai Viet Nam, Thanh Nien Publishing.
- Phan Huy Chu (2007), Lich trieu hien chuong loai chi, Giao Duc Publishing.
- Le Quy Don (1993), Dai Viet thong su, Dong Thap General Publishing.
- Le Van Huu, Phan Phu Tien, Ngo Si Lien, … (1993), Dai Viet su ky toan thu, Social Sciences Publishing.
- Le Tung, Dai Viet thong giam tong luan, Nom Preservation Society.
- Le trieu ngoc pha.
- Tran Trong Kim (1943), Viet Nam su luoc, Bac Thanh Printing House.
- Quoc su quan trieu Nguyen (1962), Dai Nam thuc luc tien bien, Su Hoc Publishing.
- Quoc su quan trieu Nguyen (1998), Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, Giao Duc Publishing.
____________________
Tiếng Pháp (français’)
Origines
Le Anh Tong (黎英宗 ; 1532 – 22 janvier 1573), nom personnel Le Duy Bang (黎維邦), fut le troisième empereur de la période Le trung hung et le quatorzième souverain de la dynastie Hau Le dans l’histoire du Đại Việt. Il régna de 1556 à 1572, soit seize années, durant l’époque du conflit Nord-Sud opposant les Le aux Mac.
Issu de la famille impériale, il descendait de la lignée de Le Tru, frère aîné du fondateur Le Loi (Le Thai To). Le Dai Viet Su Ky Toan Thu retrace sa généalogie ainsi :
« Le deuxième frère du Thai To était Tru (élevé à titre posthume Lam Quoc Cong, plus tard honoré comme Hoang Du Vuong). Tru engendra Khang (Quy Quoc Cong, puis Hien Cong Vuong). Khang engendra Tho (Quang Nghiep Vuong). Tho engendra Duy Thieu (Trang Gian Vuong). Duy Thieu engendra Duy Khoang (Hiếu Tông Nhân Hoàng Đế). Ce dernier, marié à une femme du village Bo Ve, district Dong Son, eut pour fils l’empereur. »
Ainsi, dans la hiérarchie dynastique, Le Anh Tong appartenait à la génération de l’« oncle » de l’empereur Le Trung Tong. Sa famille était originaire de Bo Ve, district de Dong Son, province de Thanh Hoa. Son père, Le Duy Khoang, fut honoré à titre posthume comme Hiếu Tông Nhân Hoàng Đế ; sa mère était également native de Bo Ve.
Contexte historique
En 1556, à la mort de Le Trung Tong sans héritier, la cour dut choisir un nouveau souverain. Bien qu’il restât des descendants directs de Le Thai To, notamment ceux issus du prince cadet Le Kien, le pouvoir réel était alors détenu par le grand chancelier Trinh Kiem. Celui-ci préféra restaurer sur le trône une branche cadette issue de Le Tru, et choisit Le Duy Bang. Celui-ci monta sur le trône sous le nom de règne Le Anh Tong.
Règne
Lorsque Anh Tong accéda au trône, l’autorité des Le se limitait au territoire au sud de Thanh Hoa, tandis que le nord restait sous la domination des Mac. De fait, le pouvoir réel appartenait à Trinh Kiem, maître de l’armée et de l’administration. En 1558, il laissa ce dernier décider de l’installation du général Nguyen Hoang à Thuận Hóa – Quảng Nam, ce qui marque déjà l’émergence de l’influence de la famille Nguyen.
Contrairement à ses prédécesseurs, qui abandonnèrent entièrement le commandement militaire à leurs protecteurs, Anh Tong mena parfois lui-même des campagnes contre les Mac. Le général Le Cap De s’illustra à plusieurs reprises et fut nommé Thai pho.
À la mort de Trinh Kiem en 1570, une lutte de pouvoir opposa ses deux fils, Trinh Coi et Trinh Tung. Anh Tong soutint Trinh Tung, qui vainquit son frère et les troupes mac. Récompensé, Trinh Tung reçut le titre de Truong Quoc Cong puis de Thai uy Truong Quoc Cong, devenant l’homme fort du régime.
Cependant, dès 1572, des courtisans calomnièrent Trinh Tung auprès du roi. Craignant la montée en puissance de son général, et conseillé par Le Cap De, l’empereur envisagea de se débarrasser de lui, ce qui provoqua une grave crise.
Famille
Père : Le Duy Khoang, honoré à titre posthume Hiếu Tông Nhân Hoàng Đế.
Mère : inconnue.
Épouses
Nguyen Thi Minh, Impératrice Y Than.
Nguyen Thi Ngoc, Impératrice Nhuy Khanh.
Le Thi Ngoc Que, concubine.
Le Thi Ngoc Ben, concubine.
Descendance
Le Duy Bach (Ban Quoc Cong), fils de l’impératrice Y Than, mort en 1600.
Le Duy Luu, fils de Le Thi Ngoc Que.
Le Duy Ngach, fils de Le Thi Ngoc Ben.
Le Duy Tung, fils de Le Thi Ngoc Ben.
Le Duy Dam (empereur Le The Tong), fils de l’impératrice Nhuy Khanh.
Princesse Le Thi Ngoc Le, mariée à Hoang Dinh Phung.
Princesse Le Thi Ngoc Hoa.
Princesse Mai Hoa.
Fin de règne et mort
Après avoir envisagé, avec Le Cap De, un complot contre Trinh Tung, le plan fut découvert. Cap De fut assassiné, et Anh Tong, comprenant sa défaite, s’enfuit avec ses fils vers Nghe An.
Le 1er janvier 1573, Trinh Tung proclama empereur le cinquième fils d’Anh Tong, Le Duy Dam (futur Le The Tong). Peu après, l’empereur fugitif fut capturé. Officiellement escorté pour « revenir au palais », il fut en réalité surveillé de près. Le 22 janvier 1573, à Loi Duong, il fut contraint au suicide par pendaison, bien que la version officielle parla d’un suicide volontaire.
Il mourut à l’âge de 42 ans et fut enterré au mausolée Bo Ve, laissant le souvenir tragique d’un souverain pris dans la lutte implacable entre le trône des Le et la puissance montante des Trinh.
Références
- Quynh Cu, Do Duc Hung (2001), Cac trieu dai Viet Nam, Nxb Thanh Nien.
- Phan Huy Chu (2007), Lich trieu hien chuong loai chi, Nxb Giao duc.
- Le Quy Don (1993), Dai Viet thong su, Nxb Tong hop Dong Thap.
- Le Van Huu, Phan Phu Tien, Ngo Si Lien, … (1993), Dai Viet su ky toan thu, Nxb Khoa hoc Xa hoi.
- Le Tung, Dai Viet thong giam tong luan, Hoi Bao ton di san chu Nom.
- Le trieu ngoc pha.
- Tran Trong Kim (1943), Viet Nam su luoc, Nha in Bac Thanh.
- Quoc su quan trieu Nguyen (1962), Dai Nam thuc luc tien bien, Nxb Su hoc.
- Quoc su quan trieu Nguyen (1998), Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, Nxb Giao duc.
____________________
Tiếng Trung (中文)
身世
黎英宗(1532年-1573年1月22日),讳黎維邦,后黎朝中兴第三帝、后黎第十四帝,自1556年至1572年在位,共十六年。其时国家正处于南北朝分裂之局。
黎英宗出自黎氏宗室,为黎太祖(黎利)之兄黎除之后五世孙。 《大越史记全书》载其世系如下:
“太祖之次兄曰除(赠蓝国公,今尊号弘裕王)。除生康(赠圭国公,今尊号显恭王)。康生寿(今尊号光业王)。寿生維紹(今尊号莊簡王)。維紹生維曠(今尊号孝宗仁皇帝)。維曠娶东山布卫乡女,生此帝。”
是故,黎英宗在宗族辈分上属黎中宗之“叔父”辈。籍贯清化东山县布卫乡。父为黎維曠(追尊孝宗仁皇帝),母亦布卫人。
历史背景
1556年,黎中宗崩而无嗣。彼时黎太祖之裔尚有部分存于清化,如黎圣宗幼子黎建之后裔。然而执政太师梁国公鄭检(掌兵权与国政)主张改立太祖兄黎除之后裔。
遂择黎維邦承嗣,是为黎英宗,建元“英宗”,为中兴第三帝。
在位
英宗初即位时,黎朝仅据清化以南,北方尽属莫氏。其朝政大权悉委于太师鄭检。1558年,端郡公阮潢请镇顺化、广南,亦由鄭检决之。皇弟黎維韩盗取玺印,亦付鄭检裁处。由是可见,自中兴伊始,政权即操于鄭氏,阮氏势力亦已萌芽。
然与前二帝全托军务于阮淦、鄭检不同,英宗时或亲率兵征伐莫氏。其宗室将黎及第亦屡建奇功,受封太傅。
1570年鄭检卒,权柄属其二子鄭槩、鄭松之争。英宗偏于鄭松,封为长郡公以御鄭槩及摄政莫敬典所率大军。鄭槩败降莫氏。英宗复擢松为太尉长国公,专任统军。
初,帝与鄭松相得,松治军严整,兵精将勇。然至1572年,因受景翕、廷彦谗言,帝始疑忌松势日隆。黎及第亦劝帝除松以复大权,遂开南朝内变。
家属
父:孝宗仁皇帝黎維曠(追尊)。
母:不详。
后妃
懿慎皇后阮氏明。
叙庆皇后阮氏玉。
宫人黎氏玉桂。
宫人黎氏玉贲。
子嗣
本国公黎維栢,懿慎皇后所生,卒于1600年。
黎維留,宫人黎氏玉桂所生。
黎維额,宫人黎氏玉贲所生。
黎維松,宫人黎氏玉贲所生。
黎世宗黎維潭,叙庆皇后阮氏玉所生,嗣位。
长公主黎氏玉礼,嫁黄廷馮。
公主黎氏玉花。
公主梅花。
末年与身后
英宗暮年,因与鄭松权争而起大变。帝与黎及第密谋除松,然事未发而泄。松诈厚赐及第,伺机杀之。
帝闻及第被害,知谋泄,遂携四子遁入乂安。1573年正月初一,鄭松立帝第五子黎維潭为帝,是为黎世宗(嘉泰元年)。
松又遣将阮有僚追英宗于乂安。帝避于蔗田,被寻获。僚跪谕曰:
“愿陛下速返,以慰臣与百官之望,绝无他意。”
帝不得已返。松遂命宋德尉监视。1573年正月二十二日,帝至雷阳,被德尉迫死,外称自缢。
《大南实录前编》曰:
“癸酉十六年(1573)春正月,黎王为鄭松所迫,自缢于雷阳,立其子維潭为帝。自此松益专政,黎王授其王爵,后遂世袭。”
英宗卒年四十二,葬于布卫陵。此为黎—鄭时代皇权彻底受制于府主之惨烈转折。
参考文献
- 瓊居、杜德雄(2001),《越南历代》,青年出版社。
- 潘輝注(2007),《历朝宪章类志》,教育出版社。
- 黎貴惇(1993),《大越通史》,同塔综合出版社。
- 黎文休、潘孚先、吳士連等(1993),《大越史记全书》,社会科学出版社。
- 黎嵩,《大越通监总论》,喃字文献保护会。
- 《黎朝玉谱》。
- 陳仲金(1943),《越南史略》,北城印书馆。
- 阮朝国史馆(1962),《大南实录前编》,史学出版社。
- 阮朝国史馆(1998),《欽定越史通鑑綱目》,教育出版社。