Thân thế
Nùng Trí Cao là người dân tộc thiểu số, sinh ra ở châu Quảng Nguyên, nay thuộc tỉnh Cao Bằng. Về xuất thân của ông, các sử liệu có ghi chép khác nhau.
Theo An Nam chí lược của Lê Tắc đời nhà Nguyên và Tục tư trị thông giám của sử gia Tất Nguyên đời Mãn Thanh, châu Quảng Nguyên thời đó là vùng đất mà cả nhà Tống lẫn Đại Việt đều tuyên bố chủ quyền. Tuy nhiên, các tù trưởng ở đây chủ yếu cống nạp cho Đại Việt. Khi đó, Nùng Tồn Phúc làm Tri châu Quảng Do; em ông, Nùng Tồn Nhai, làm Tri châu Vạn Nhai; còn em vợ, Nùng Đương Đạo, làm Tri châu Vũ Lịch. Nùng Tồn Phúc dùng quân đánh giết Tồn Nhai và Đương Đạo, sau đó khởi binh gây loạn khắp vùng thuộc cả Đại Tống và Đại Việt.
Lý Thái Tông nổi giận, tự thân đem quân đi đánh, giết Nùng Tồn Phúc và con trai là Trí Thông, bắt toàn bộ gia tộc Nùng Tồn Phúc xử tử, chỉ trừ vợ ông, A Nùng 阿侬, thoát chết. Sau đó, A Nùng kết hôn với một thương nhân và sinh một con trai đặt tên là Trí Cao. Khi Trí Cao 13 tuổi, ông giết cha ruột của mình, nói: “Thiên hạ làm gì có ai hai cha bao giờ”, rồi tự xưng là con Tồn Phúc, đổi sang họ Nùng.
Trong khi đó, Đại Việt sử kí toàn thư không nhắc đến người cha ruột thương nhân của Trí Cao mà cho rằng ông chính là con thứ hai của Nùng Tồn Phúc và A Nùng. Ban đầu, Nùng Tồn Phúc tự xưng hiệu Chiêu Thánh Hoàng Đế và lập A Nùng làm Minh Đức Hoàng Hậu. Khi Lý Thái Tông đem quân đánh, giết Tồn Phúc và con Trí Thông, A Nùng cùng Trí Cao, khi đó 14 tuổi, may mắn chạy thoát.
Hoàng đế Đại Lịch
Năm 1041, Nùng Trí Cao cùng mẹ là A Nùng tập hợp lực lượng, trở về chiếm châu Thảng Do (gần châu Quảng Nguyên) và lập ra nước Đại Lịch (大曆). Lý Thái Tông sai quân lên đánh, bắt được Trí Cao và đưa về Thăng Long. Tuy nhiên, vì thương tình sau khi Trí Cao đã mất cha và anh, vua không giết mà tha cho ông, đồng thời phong Trí Cao làm Quảng Nguyên mục. Sau đó, Trí Cao vào triều yết kiến và được Lý Thái Tông phong tước Thái bảo, đồng thời giao thêm 4 động và 1 châu để Trí Cao cùng mẹ là A Nùng tiếp tục quản lý.
Theo Đại Việt Sử ký Tiền biên, các vùng bổ sung cho châu Quảng Nguyên mà Trí Cao được cai quản năm 1041 gồm:
- Động Lôi Hỏa (nay thuộc trấn Hạ Lôi, huyện Đại Tân, thành phố cấp địa Sùng Tả, tỉnh Quảng Tây, giáp biên giới đông bắc huyện Trùng Khánh, Cao Bằng)
- Động Bình An
- Động Bà Tư
- Châu Tư Lang (nay tương ứng với các huyện Hạ Lang và Trùng Khánh, Cao Bằng)
Năm 1048, Trí Cao lại nổi dậy, không thần phục nhà Lý, chiếm động Vật Ác (phía bắc Cao Bằng, sau thuộc Tống và đổi thành Thuận An Châu, nay là các hương trấn biên giới thuộc thành phố cấp huyện Tĩnh Tây, Quảng Tây, giáp các huyện Hà Quảng và Trà Lĩnh, Cao Bằng) và tuyên bố lập nước Đại Nam (大南). Lý Thái Tông sai Quách Thịnh Dật đi đánh, Trí Cao lại thất bại và xin đầu hàng.
Theo giai thoại người Tày, khi quân Lý tới nơi, Trí Cao còn nói với Quách Thịnh Dật rằng đừng tiến quân, ông sẽ không gây hấn với nhà Lý nữa mà sẽ rút sang phương Bắc. Nhà Lý đồng ý tha cho ông, để Trí Cao tiếp tục quản lý các vùng đất cũ.
Tuy vậy, Nùng Trí Cao vẫn muốn lập một vương quốc độc lập theo mô hình Đại Việt. Do lo sợ nguy cơ bị nhà Lý trừng phạt sau ba lần nổi dậy thất bại, ông quyết định di chuyển ra ngoài lãnh thổ Đại Việt, đến châu An Đức (安德州, nay thuộc trấn An Đức, thành phố cấp huyện Tĩnh Tây) thuộc nhà Tống, để dựng nước Nam Thiên quốc (南天国).
Châu Quảng Nguyên giàu khoáng sản như vàng, bạc và chu sa thu hút nhiều thương nhân người Hán từ Quảng Đông đến giao thương. Nhờ quản lý vùng đất này, Nùng Trí Cao có đầy đủ tài lực và nhân lực để xây dựng một đội quân hùng mạnh, tạo cơ sở cho những kế hoạch chính trị và quân sự của mình.
Hoàng đế Đại Nam
Năm 1052, Nùng Trí Cao lại nổi dậy, tự xưng là Nhân Huệ Hoàng đế và đặt quốc hiệu là Đại Nam. Ông muốn lập một vương quốc tự trị cho người Tày, Nùng, Tráng và đề nghị phụ thuộc vào nhà Tống, nhưng vua Tống Nhân Tông từ chối. Không từ bỏ tham vọng, Trí Cao đem quân tấn công nhà Tống. Nhờ sự ủng hộ của các thủ lĩnh người Tày-Thái ở Quảng Tây như Nùng Trí Trung và Nùng Kiến Hậu, uy danh của ông càng lớn mạnh. Quân của Trí Cao chiếm Ung Châu, sau đó mở rộng sang 8 châu khác ở Quảng Đông và Quảng Tây, gồm Hoành, Quý, Tầm, Củng, Đằng, Ngô, Phong, Khang và Đoan.
Quân Trí Cao tiến đến Quảng Châu, bao vây thành nhưng sau 57 ngày không thành công, phải rút lui. Ông quay về phía bắc, hạ các thành Thanh Viễn, Anh Châu, Thiều Châu; rồi tiến sang phía tây chiếm Liên Châu, Hạ Châu, Thiệu Châu, tiếp đó lên phía bắc đánh Cung Châu và Toàn Châu. Không vượt qua Ngũ Lĩnh, Trí Cao chuyển hướng tây nam, chiếm Hưng An, Quế Châu, Liễu Châu, Tấn Châu và tái chiếm Ung Châu. Tại đây, ông chuẩn bị thuyền bè để tấn công Quảng Châu lần nữa, nhằm lập kinh đô Đại Nam.
Nhà Tống nhiều lần điều quân phản công nhưng thất bại. Cuối cùng, họ cử đại tướng Địch Thanh, vốn có kinh nghiệm 25 lần lâm trận, dẫn 31.000 quân và 32 tướng, phối hợp kỵ binh Phiên Lạc nổi tiếng nhanh nhẹn trên địa hình đồi núi, triển khai đánh Trí Cao. Nhà Tống lo ngại đến mức từ chối viện binh của Đại Cồ Việt, dù Lý Thái Tông đã đề nghị hợp tác.
Đầu năm 1053, Địch Thanh hợp quân với các tướng Tống tại Tân Châu (Liễu Châu) và chặn không cho Trí Cao ra đánh. Trí Cao chủ quan không phòng bị, để Địch Thanh bất ngờ chiếm đèo Côn Luân, cửa ải quan trọng của ông. Tháng 1 năm 1054, trận Ung Châu nổ ra, quân Trí Cao khoảng 10.000 người bị quân Tống 20.000 người áp đảo, nhiều tướng và binh sĩ thiệt mạng, Trí Cao phải bỏ chạy.
Tháng 10 năm 1053, Trí Cao cầu cứu Đại Cồ Việt. Lý Thái Tông phái quân tiếp ứng, nhưng trước khi quân tới, ông lại bị Địch Thanh đánh bại và phải chạy sang nước Đại Lý. Quân Lý rút về, còn Đại Lý để tránh gây hấn với Tống đã bắt và chém Trí Cao, gửi đầu nộp nhà Tống.
Năm 1055, dưới triều Lý Thánh Tông, Đô giám nhà Tống Tiêu Chú tấn công qua Vân Nam, bắt giữ mẹ Trí Cao (A Nùng), em ông (Trí Quang) và con trai (Kế Phong). Sau đó tất cả đều bị giết, đánh dấu sự diệt vong hoàn toàn của Nùng Trí Cao cùng gia quyến.
Di tích và thờ tự
Hiện nay còn di tích thành Nà Lữ, nơi ông đóng quân, ở gần thành phố Cao Bằng.
Sau khi ông mất, vua Lý đã sắc phong cho ông là Khâu Sầm Đại Vương. Đền Khâu Sầm (Kỳ Sầm) Đại vương thờ Nùng Trí Cao vẫn còn ở xóm 9, xã Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Lễ hội đền Khâu Sầm vẫn được tổ chức hằng năm vào ngày 10 tháng giêng. Đền Phja Đeng thuộc xã Cường Lợi, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn là di tích thờ hai Vua Đinh Tiên Hoàng và Vua Nùng Trí Cao, thể hiện sự giao thoa văn hóa giữa cộng đồng người dân tộc Tày, Nùng với người Kinh.
Tài liệu tham khảo
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Nung Tri Cao (?-1055)
Biography
Nung Tri Cao was an ethnic leader of the Tay, Nung, and Zhuang peoples, born in Quang Nguyen Prefecture, present-day Cao Bang Province. Historical sources differ regarding his parentage.
According to An Nam Chi Lược by Le Tac (Yuan Dynasty) and Tu Tu Tri Thong Giam by historian Tat Nguyen (Manchu Qing Dynasty), Quang Nguyen Prefecture was a disputed territory claimed by both the Song Dynasty and Dai Viet, though most local chieftains primarily paid tribute to Dai Viet. At that time, Nung Ton Phuc served as Chief of Quang Do Prefecture; his brother, Nung Ton Nhai, governed Van Nhai Prefecture; and his brother-in-law, Nung Duong Dao, governed Vu Lich Prefecture. Nung Ton Phuc killed Ton Nhai and Duong Dao and then led a rebellion across territories claimed by both Dai Song and Dai Viet.
King Ly Thai Tong, enraged, personally led troops against them, killing Nung Ton Phuc and his son Tri Thong, and executing the entire Nung Ton Phuc family, sparing only his wife, A Nung. A Nung later married a merchant and gave birth to a son named Tri Cao. At age 13, Tri Cao killed his biological father, proclaiming, “There is no one in the world with two fathers,” and adopted the surname Nung, claiming descent from Ton Phuc.
In contrast, the Dai Viet Su Ky Toan Thu does not mention Tri Cao’s merchant father but states he was the second son of Nung Ton Phuc and A Nung. Initially, Nung Ton Phuc declared himself Emperor Zhao Sheng and made A Nung Empress Minh Duc. When Ly Thai Tong attacked, killing Ton Phuc and Tri Thong, A Nung and the 14-year-old Tri Cao narrowly escaped.
Emperor of Dai Lich
In 1041, Nung Tri Cao and his mother A Nung rallied forces, recaptured Thang Do Prefecture (near Quang Nguyen), and established the Dai Lich Kingdom (大曆). Ly Thai Tong sent troops against him, capturing Tri Cao and bringing him to Thang Long. Out of compassion for his lost father and brother, the king spared him and appointed Tri Cao as Prefect of Quang Nguyen. Tri Cao also received the title of Thai Bao and was granted four valleys and one prefecture to manage alongside his mother.
According to Dai Viet Su Ky Tien Bien, the additional territories under Tri Cao’s administration in 1041 included:
- Dong Loi Hoa (present-day Ha Loi Town, Da Tan County, Chongzuo City, Guangxi, bordering northeastern Trung Khanh District, Cao Bang)
- Dong Binh An
- Dong Ba Tu
- Tu Lang Prefecture (corresponding to present-day Ha Lang and Trung Khanh Districts, Cao Bang)
In 1048, Tri Cao rebelled again, refusing Ly authority, seized Vat Ac (north Cao Bang, later under Song, renamed Thuan An Prefecture, now border townships under Jingxi County, Guangxi), and proclaimed the Dai Nam Kingdom (大南). Ly Thai Tong sent Guo Thinh Dut to attack; Tri Cao was defeated and offered to surrender.
According to Tay folklore, when Ly troops arrived, Tri Cao told Guo Thinh Dut not to advance, promising no aggression and intending to retreat north. The Ly court agreed, allowing him to continue managing his old territories.
Tri Cao nonetheless aspired to establish an independent kingdom modeled on Dai Viet. Fearing punishment after three failed uprisings, he moved outside Dai Viet territory to An Duc Prefecture (安德州, present-day An Duc Town, Jingxi City), under the Song Dynasty, to establish the Nam Thien Kingdom (南天国).
Quang Nguyen was rich in minerals such as gold, silver, and cinnabar, attracting Han merchants from Guangdong. Controlling this region gave Tri Cao sufficient resources and manpower to build a formidable army, laying the foundation for his political and military ambitions.
Emperor of Dai Nam
In 1052, Nung Tri Cao rebelled again, declaring himself Emperor Nhan Hue and naming his kingdom Dai Nam. He sought autonomy for the Tay, Nung, and Zhuang peoples and requested vassal status under the Song Dynasty, but Emperor Renzong refused. Undeterred, Tri Cao attacked Song territories. With support from Tay-Thai leaders in Guangxi such as Nung Tri Trung and Nung Kien Hau, his reputation grew. His forces captured Ung Prefecture, then expanded to eight other prefectures in Guangdong and Guangxi, including Hoanh, Quy, Tam, Cung, Dang, Ngo, Phong, Khang, and Doan.
Tri Cao’s army advanced to Guangzhou and besieged the city for 57 days without success, then retreated north, capturing Thanh Vien, Anh, and Thieu prefectures; then moved west to take Lien, Ha, and Thieu prefectures, followed by the north against Cung and Toan prefectures. Unable to pass Wu Ling, Tri Cao shifted southwest, capturing Hung An, Que, Lieu, and Tan prefectures, and retook Ung Prefecture, preparing ships for another attack on Guangzhou to establish the Dai Nam capital.
Song forces repeatedly counterattacked unsuccessfully. Eventually, Song appointed General Dich Thanh, experienced in 25 campaigns, to lead 31,000 troops and 32 generals, supported by the agile Phi-Lac cavalry across mountainous terrain. The Song refused assistance from Dai Co Viet, despite Ly Thai Tong’s offer.
In early 1053, Dich Thanh’s army joined other Song generals at Tan Prefecture (Liu Zhou), blocking Tri Cao. Overconfident, Tri Cao failed to guard key passes; Dich Thanh captured the strategic Con Luan pass. In January 1054, the battle of Ung Châu occurred. Tri Cao’s 10,000 troops were overwhelmed by 20,000 Song soldiers; many generals and soldiers were killed, forcing Tri Cao to flee.
In October 1053, Tri Cao sought aid from Dai Co Viet. Ly Thai Tong sent troops, but before they arrived, he was defeated by Dich Thanh again and fled to the Dali Kingdom. Dai Viet forces withdrew, and Dali, avoiding conflict with Song, captured and executed Tri Cao, sending his head to Song.
In 1055, under King Ly Thanh Tong, Song Inspector Xiao Zhu invaded via Yunnan, capturing Tri Cao’s mother A Nung, his brother Tri Quang, and his son Ke Phong, all of whom were executed, marking the complete demise of Nung Tri Cao and his family.
Relics and Worship
The remains of Na Lu Fortress, where Tri Cao stationed his troops, are near Cao Bang City. Posthumously, the Ly court honored him as Khau Sam Dai Vuong. Khau Sam (Ky Sam) Temple, which venerates Nung Tri Cao, still stands in Hamlet 9, Vinh Quang Commune, Cao Bang City, and the Ky Sam Temple Festival continues annually on the 10th day of the first lunar month.
Pja Deng Temple in Cuong Loi Commune, Na Ri District, Bac Kan Province, honors both King Dinh Tien Hoang and King Nung Tri Cao, reflecting cultural interaction between the Tay-Nung communities and the ethnic Kinh.
References
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
Tiếng Pháp
Nung Tri Cao (?-1055)
Biographie
Nung Tri Cao était issu des ethnies Tay, Nung et Zhuang, né dans le district de Quang Nguyen, aujourd’hui dans la province de Cao Bang. Les sources historiques divergent sur ses origines.
Selon An Nam chi lược de Le Tac (dynastie Yuan) et le Tu tu tri thong giam de l’historien Tat Nguyen (dynastie Qing), à l’époque, le district de Quang Nguyen était revendiqué à la fois par la dynastie Song et par Dai Viet. Les chefs locaux payaient cependant principalement tribut à Dai Viet. Nung Ton Phuc était alors chef du district de Quang Do, son frère Nung Ton Nhai dirigeait le district de Van Nhai, et son beau-frère Nung Duong Dao celui de Vu Lich. Nung Ton Phuc tua Nung Ton Nhai et Nung Duong Dao et leva des troupes semant le désordre dans les régions sous contrôle à la fois des Song et de Dai Viet.
Le roi Ly Thai Tong envoya ses troupes en personne, tua Nung Ton Phuc et son fils Tri Thong, et fit exécuter toute la famille de Nung Ton Phuc, épargnant seulement son épouse A Nung (阿侬). Celle-ci se remaria avec un marchand et eut un fils, Tri Cao. À 13 ans, Tri Cao tua son père biologique en disant : « Qui dans le monde a deux pères ? » puis se déclara fils de Ton Phuc et adopta le nom de famille Nung.
Selon le Dai Viet su ky toan thu, Tri Cao était considéré comme le deuxième fils de Nung Ton Phuc et d’A Nung. Initialement, Nung Ton Phuc s’était proclamé empereur Chieu Thanh Hoang De et avait fait d’A Nung l’impératrice Minh Duc Hoang Hau. Lors de l’attaque de Ly Thai Tong, A Nung et Tri Cao, alors âgé de 14 ans, réussirent à s’échapper.
Empereur de Dai Lich
En 1041, Tri Cao et sa mère A Nung réunirent des forces, reprirent le district de Thang Do (près de Quang Nguyen) et fondèrent le royaume Dai Lich (大曆). Ly Thai Tong envoya des troupes qui capturèrent Tri Cao et l’emmenèrent à Thang Long. Par compassion, le roi le grâcia et le nomma gouverneur de Quang Nguyen, lui confiant également quatre districts et un district supplémentaire pour continuer à administrer avec sa mère.
Selon le Dai Viet Su ky Tien bien, les territoires supplémentaires confiés à Tri Cao en 1041 comprenaient :
- Dong Loi Hoa (aujourd’hui Hạ Lôi, district Daxin, Guangxi, près de la frontière nord-est de Cao Bang)
- Dong Binh An
- Dong Ba Tu
- District Tu Lang (aujourd’hui Hạ Lang et Trùng Khánh, Cao Bang)
En 1048, Tri Cao se révolta à nouveau, refusant de se soumettre aux Ly, prit le district de Vat Ac (au nord de Cao Bang, futur Shun’an, Guangxi) et proclama le royaume Dai Nam (大南). Ly Thai Tong envoya Quach Thinh Dật pour le combattre. Tri Cao fut vaincu et demanda à se rendre. Selon les légendes Tay, Tri Cao proposa de se retirer pacifiquement vers le nord, ce que les Ly acceptèrent.
Craignant de nouvelles représailles après trois révoltes infructueuses, Tri Cao se déplaça hors du territoire de Dai Viet vers le district d’An Duc (安德州, aujourd’hui An Duc, Guangxi) sous contrôle Song pour établir le royaume Nam Thien Quoc (南天国). Le district de Quang Nguyen, riche en or, argent et cinabre, attirait de nombreux marchands Han de Canton, fournissant à Tri Cao ressources et forces pour construire une armée puissante et soutenir ses projets politiques et militaires.
Empereur de Dai Nam
En 1052, Tri Cao se proclama empereur Nhan Hue et donna à son royaume le nom de Dai Nam. Il souhaitait créer un État autonome pour les Tay, Nung et Zhuang et devenir vassal des Song, mais l’empereur Song Ren Tong refusa. Tri Cao lança alors des campagnes contre les Song. Soutenu par les chefs Tay-Thai du Guangxi tels que Nung Tri Trung et Nung Kien Hau, il étendit son influence, conquit Ung Châu, puis huit autres districts à Guangdong et Guangxi.
Son armée assiégea Canton pendant 57 jours sans succès et dut se replier vers le nord, prenant plusieurs autres villes pour préparer une nouvelle attaque sur Canton et établir la capitale de Dai Nam. Les Song envoyèrent plusieurs fois des troupes pour le contrer, mais échouèrent. Finalement, le général Song Dich Thanh, avec 31 000 hommes et 32 généraux, prit le dessus. Tri Cao fut surpris, battu à Ung Châu en janvier 1054 et dut fuir.
En octobre 1053, Tri Cao demanda l’aide de Dai Co Viet. Ly Thai Tong envoya des renforts, mais avant leur arrivée, Dich Thanh le vainquit de nouveau, le forçant à fuir vers Dai Ly. Dai Ly, pour éviter le conflit avec les Song, captura et exécuta Tri Cao en remettant sa tête aux Song.
En 1055, sous Ly Thanh Tong, le commissaire Song Tieu Chu envahit le Yunnan, captura la mère de Tri Cao (A Nung), son frère (Tri Quang) et son fils (Ke Phong) et les fit tous exécuter, entraînant l’extinction complète de la famille de Nung Tri Cao.
Vestiges et culte
Aujourd’hui, subsistent les vestiges de Na Lu, son camp militaire, près de la ville de Cao Bang. Après sa mort, Ly Thai Tong lui donna le titre de Khau Sam Dai Vuong. Le temple Khau Sam (Ky Sam) dédié à Nung Tri Cao se trouve toujours au hameau 9, commune de Vinh Quang, ville de Cao Bang, et la fête annuelle du temple a lieu le 10 du premier mois lunaire. Le temple Phja Deng à Cuong Loi, district de Na Ri, province de Bac Kan, rend hommage à la fois à l’empereur Dinh Tien Hoang et à Nung Tri Cao, reflétant l’échange culturel entre les populations Tay, Nung et les Viet.
Références
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
Tiếng Trung
侬智高(?-1055)
生平
侬智高是岱族、侬族、壮族人,生于广原州(今高平省境内)。关于他的出身,史料记载各异。
据元代黎泽所著《安南志略》和满清史学家薛元的《续资治通鉴》记载,当时的广原州为大宋与大越都宣称主权的地区,但当地土司主要向大越纳贡。侬智高之父侬存福任广度州刺史,侬智高之弟侬存崖任万崖州刺史,其妻之弟侬当道任武历州刺史。侬存福先后派兵杀死侬存崖和侬当道,随后起兵扰乱大宋和大越交界地区。
黎太宗震怒,自率大军讨伐,杀死侬存福及其子侬智通,并诛其全家,仅侬智高之母阿侬(A Nùng)幸免。阿侬后嫁给一商人,生下儿子取名智高。智高十三岁时,传说他杀死亲生父亲,自称:“天下哪有人有两父?”并自称侬存福之子,改姓侬。
而《大越史记全书》则未提及智高亲生父为商人的说法,而认为他为侬存福与阿侬的第二子。起初,侬存福自称昭圣皇帝,立阿侬为明德皇后。黎太宗征讨时,侬存福与子智通被杀,阿侬和当时14岁的智高幸存逃脱。
大历国皇帝
1041年,智高与母阿侬聚集力量,收复尚度州(近广原州),建立大历国(大曆)。黎太宗遣军征讨,俘获智高押往升龙。因怜悯其失父失兄,黎太宗未杀他,赦免后授以广原州牧。智高入朝觐见黎太宗,被封为太保,并获四洞一州的管理权,与母阿侬共同治理。
《大越史记前编》记载,1041年智高所管理的增补地区包括:
- 雷火洞(今广西崇左地级市大新县下雷镇,靠近高平省崇庆县东北边境)
- 平安洞
- 巴四洞
- 四郎州(今高平省下两县:下郎与崇庆)
1048年,智高再次起兵,不再归附黎朝,占领物厄洞(今高平北部,宋代改为顺安州,位于广西靖西市边境,与高平省河广、茶岭县接壤),并自立国号大南(大南)。黎太宗派郭盛逸讨伐,智高失败,求降。
据岱族民间传说,当黎军抵达时,智高对郭盛逸说不必进军,他不再与黎朝作对,愿退往北方。黎朝同意赦免,让智高继续管理原有地区。
然而,智高仍欲建立独立王国,模仿大越国制。担心三次失败后被黎朝惩罚,他决定迁出大越境内,至宋朝安德州(今广西靖西安德镇)建立南天国(南天国)。
广原州富含黄金、白银及朱砂,吸引大量广东汉人商贸。智高借此掌握充足人力与财力,建立强大军队,为其政治与军事计划奠定基础。
大南国皇帝
1052年,智高再次起兵,自称仁惠皇帝,国号大南。他欲为岱族、侬族、壮族建立自治王国,并请求附属宋朝,宋仁宗拒绝。智高不甘,遂率军进攻宋地。凭借广东岱族首领如侬智中、侬建后支持,智高威望进一步提升。其军队占领雍州,继而扩张至广东、广西八州:横、贵、咫、巩、腾、吴、丰、康、端。
智高军攻广州,围城57天未克,只得撤退。北上攻青远、英州、旂州,再西进占连州、下州、绍州,北上攻贡州、全州。未越五岭,智高转西南,占兴安、桂州、柳州、晋州,再收复雍州,并准备船只再攻广州,企图建立大南国都城。
宋多次派军反攻均失败,最终派出经验丰富的将领狄清,率3.1万兵及32名将领,联合擅长山地机动的番骑作战,围攻智高。宋朝顾忌大越援兵,拒绝接受黎太宗合作提议。
1053年初,狄清与宋将合军于新州(柳州),阻止智高外出作战。智高轻敌,未防备,狄清突袭,占领昆仑关,智高关键关口失守。1054年1月,雍州之战爆发,智高约万人兵力,被宋军2万人压制,多将士阵亡,智高逃亡。
1053年10月,智高向大越求援,黎太宗派兵支援,但未及援军到达,智高已被狄清击败,只得逃往大理。黎军撤退,大理为避触宋军,将智高斩首,送头献宋。
1055年,黎圣宗时期,宋都监萧珠自云南进攻,擒获智高母阿侬、弟智光及子继凤,全部处决,标志侬智高及其家族彻底灭亡。
遗迹与供奉
现存那吕城遗址为智高驻军之地,位于高平市附近。
智高死后,黎朝追封其为高岑大王。供奉侬智高的祁岑大王庙仍在高平市永光社九组,每年农历正月初十举办庙会。北坎县强利社Phja Đeng庙供奉两位皇帝:丁先皇与侬智高,体现岱族、侬族与京族社区文化交融。
参考资料
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.