Tên gọi và vị trí địa lý
Từ thành phố Nam Định theo quốc lộ 21 A đến gần nghĩa trang Cầu Ho (cũ), rẽ tay phải vào đường rải đá, đi khoảng 1,5 km nhìn sang bên phải là đến đình Sùng Văn. Đình tọa lạc tại xã Mỹ Thuận, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (cũ), ngày nay thuộc phường Mỹ Lộc, tỉnh Ninh Bình. Xưa kia, vùng đất Mỹ Lộc, thời thuộc Minh thuộc phủ Phụng Hoá, đời Lê đổi tên là Mỹ Lộc và giữ cho đến bây giờ.
Lịch sử và nhân vật
Đình thờ ba vị là Linh Lang Đại Vương, tướng của vua Hùng Duệ Vương và hai tướng Cao Đê, Đãi Chân dưới triều vua An Dương Vương. Đây là những người có nhiều công lao trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc ngay từ buổi đầu dựng nước.
Vùng đất Mỹ Thuận không chỉ gắn liền với địa bàn đóng quân và hoạt động kháng chiến của các vị thành hoàng, mà còn là nơi các ngài trực tiếp đóng góp công sức, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân địa phương. Với những đóng góp to lớn cho đất nước và công lao giúp dân làng ổn định, phát triển cuộc sống, sau khi các ngài qua đời, để ghi nhớ công đức, nhân dân thôn Sùng Văn đã tôn các ngài làm Tôn Thần và lập đền thờ tại đây.
Thuở ban đầu, đình Sùng Văn chỉ được dựng lên với quy mô nhỏ, đơn sơ, để phục vụ việc thờ tự. Đến khoảng cuối thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII, dưới thời Hậu Lê, đình được xây dựng lại khang trang, bề thế hơn. Sang thời Nguyễn, đình được tu sửa vào niên hiệu Minh Mệnh thứ 21 (1840) và niên hiệu Bảo Đại thứ 12 (1937). Đến năm 2009 đình lại được tu sửa khang trang đẹp đẽ nhưng vẫn giữ được nét nghệ thuật đặc trưng của hai thế kỷ XVII và XVIII.
Đình Sùng Văn đồng thời từng là địa điểm diễn ra nhiều hoạt động cách mạng quan trọng, từ thời kỳ Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội đến giai đoạn Đông Dương Cộng sản Đảng.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đình Sùng Văn là cơ sở tin cậy để cán bộ Việt Minh hoạt động bàn kế hoạch chỉ đạo phong trào đấu tranh ở địa phương, tổ chức lực lượng chặn đánh những cuộc càn quét của địch. Thời kỳ chống giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, đình Sùng Văn được sử dụng làm kho tàng của Nhà nước, là cơ sở để một số cơ quan của tỉnh sơ tán về làm việc.
Trải qua chiều dài lịch sử, đình tiếp tục được trùng tu, tôn tạo qua nhiều giai đoạn, từng bước hoàn thiện để có diện mạo khang trang, rộng rãi như ngày nay.
Kiến trúc cảnh quan
Ngôi đình tọa lạc trên một khu đất cao, rộng rãi, nằm gần tuyến đường đi lại của nhân dân, trong khuôn viên đình hiện còn nhiều cây cổ thụ lâu năm, tỏa bóng mát. Tổng thể kiến trúc đình Sùng Văn hiện nay gồm các hạng mục chính: Tam Quan, Đại Đình và hai dãy Tả/Hữu Mạc.
Tam Quan
Từ mặt đường đi lại của nhân dân, là con đường dẫn vào đình phía bên trong, con đường bắc ngang qua một hồ nước rộng, tiến sâu khoảng 200m là đến khu vực Tam Quan. Tam Quan xây dựng theo lối truyền thống, gồm ba cửa ra vào, trong đó cổng chính ở giữa có kích thước lớn hơn hai cổng phụ hai bên. Cổng chính được tạo hình vòm cung, xây hai tầng tám mái, lợp giả ngói ống bằng xi măng, trên mặt tường tầng hai đắp nổi ba chữ Hán, dịch nghĩa “Đình Sùng Văn”, hai bên trụ cổng khắc câu đối bằng chữ Hán, ca ngợi công đức các vị thành hoàng.
Hai cổng phụ được xây đối xứng nhau ở hai bên, cách cổng chính một bức tường lửng dài khoảng 1m, gồm hai tầng mái nhưng có quy mô thấp hơn. Tam Quan nối liền với hệ thống tường bao chạy khép kín xung quanh khu di tích.
Qua tam quan, là khoảng sân rộng lát gạch, là khoảng sân trước Đại Đình.
Đại Đình
Qua khoảng sân rộng là đến tòa Đại Đình, được xây dựng theo kiểu chữ Đinh, bao gồm Tiền Đường và Hậu Cung. Toà Tiền Đường gồm 5 gian, dài 21m, rộng 11m, được dựng hoàn toàn bằng gỗ với bộ mái đồ sộ, lợp ngói nam và uốn cong đều về bốn góc, tạo nên thế kiến trúc bốn mái uy nghi, cân đối.
Bên trong tòa Tiền Đường, kết cấu kiến trúc được tạo nên bởi 4 hàng cột gỗ lim với tổng cộng 24 cột, liên kết chặt chẽ bằng hệ thống câu đầu, xà lòng và xà nách, hình thành một bộ khung gỗ vững chắc. Các cột cái có đường kính khoảng 0,60m, cột quân khoảng 0,45m, đều được tạo dáng kiểu búp đồng và kê trên những chân tảng đá vuông, mặt tảng chạm nổi hình gương tròn.
Hệ thống xà lòng, xà nách và câu đầu được soi chỉ, chỉ nổi tinh tế; riêng gian chính giữa còn được chạm khắc công phu các đề tài rồng bay, phượng múa, tứ linh và hoa văn lá lật, tạo nên vẻ sinh động và trang nghiêm cho không gian thờ tự. Các con rường trên bốn bộ vì được xếp chồng nhiều lớp theo lối kiến trúc cổ.
Hệ thống kẻ, bẩy và kẻ truyền được tạo dáng uốn cong, bốn bộ vì được làm theo kiểu chồng, bên ngoài soi chỉ, nhấn khung viền kiểu vành mai, bên trong chạm bong kênh các đề tài long hóa, mây tản, vừa khỏe khoắn vừa uyển chuyển. Các bức mê cốn được chạm khắc sinh động với hình ảnh long, ly, quy, phượng chầu và vờn nhau, cảnh rồng lấy nước với rùa và cá đang bơi. Đây là những tác phẩm tiêu biểu, thể hiện trình độ cao và bàn tay tài hoa của các nghệ nhân thời xưa.
Phần mái được xử lý công phu với đại bờ chạy dọc nóc, các bờ dải, kìm nóc và đầu đao đều đắp nổi đề tài rồng chầu, phượng mớm, ly vờn, kết hợp hoa văn lá lật cách điệu. Bên dưới là hệ thống tàu đỡ mái bằng gỗ lim dày dặn, được làm nhỏ dần ở giữa và lớn dần về hai đầu, phù hợp với dáng mái cong mềm mại. Các đầu dư, bộ phận đỡ câu đầu và xà lòng cũng được chạm khắc tinh xảo với hình ảnh rồng vuốt râu, kết hợp họa tiết mây, lá hỏa bằng kỹ thuật chạm bong đặc sắc. Ở gian đầu hồi, hệ vì kèo được thay bằng hệ kẻ góc, xà đùi, trụ non và con rường. Hai cặp kẻ góc từ câu đầu vươn xuống tạo điểm tựa chắc chắn cho các đầu đao, đồng thời được tạo dáng ghép nối thành hình rồng uốn lượn mềm mại.
Trên các cấu kiện như xà đùi, trụ non, con rường và ván bưng, nghệ nhân đã chạm khắc nhiều đề tài phong phú như “mẫu long giáo tử” (rồng mẹ dạy rồng con), ly con nép dưới ly mẹ, rồng chầu, rồng vuốt râu, rồng ngậm đuôi ly…, tất cả ẩn hiện trong lớp lớp mây tản, đao mác và lá hỏa.
Nối liền với tòa Tiền Đường chạy dài về phía sau là gian Hậu Cung (Cung cấm), là nơi thờ ba vị Đại Vương. Gian nay có lối kỹ thuật giao mái, bắt vấn độc, gian gồm 3 gian, dài 6,80m, rộng 9m, các bộ phận kiến trúc ở đây có kiểu dáng, kích thước và độ cao tương đồng với tòa Tiền Đường. Những chi tiết chạm khắc, trang trí chủ yếu tập trung ở vì kèo cửa cung chính tẩm với nhiều đề tài quen thuộc như: long, ly, quy, phượng chầu hoa cúc, voi ngậm đuôi rồng, rồng cuốn ly… Các hoa văn được chạm khắc tinh xảo, kết hợp với lớp sơn son thếp vàng rực rỡ. Điểm nhấn của công trình là cửa cấm, được điêu khắc các đề tài tứ linh công phu và sơn son thếp vàng rất lộng lẫy.
Đặc biệt, trong Hậu Cung còn có bức đại tự được tạo hình từ ba trái đào liền nhau, trên đó chạm nổi ba chữ Hán “Đức trường lưu” (công đức còn mãi). Hình ảnh này thể hiện mong ước của người dân địa phương rằng công lao và đức hạnh của các vị thành hoàng được thờ ở đình sẽ trường tồn cùng thời gian.
Tả/Hữu Mạc
Phía trước Đại đình là hai dãy Tả Mạc và Hữu Mạc, được sử dụng làm không gian chuẩn bị nghi lễ và sắp đặt đồ tế tự, đặc biệt phục vụ cho những ngày lễ hội của đình. Mỗi dãy gồm năm gian, kiến trúc giản dị, các gian được để thoáng, không xây tường ngăn và không lắp cửa, tạo sự thuận tiện cho việc tổ chức các hoạt động nghi lễ.
Di vật
Bên cạnh vẻ đẹp và quy mô kiến trúc, đình Sùng Văn còn lưu giữ nhiều hiện vật thờ có giá trị, gồm nhang án, bát cống, kiệu long đình, ngai thờ, đại tự và câu đối. Một số những di vật được chế tác từ thời Hậu Lê, sơn son thếp vàng rực rỡ, góp phần tăng thêm vẻ uy nghi và trang trọng cho không gian thờ tự của đình.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội đình Sùng Văn được tổ chức hằng năm từ ngày mùng 9 đến ngày 12 tháng Hai (Âm lịch), nhằm tưởng nhớ các vị tướng thời Hùng Vương. Trong khuôn khổ lễ hội diễn ra nhiều nghi thức và hoạt động dân gian đặc sắc như rước kiệu thăm dấu tích đồn binh xưa, múa lân, leo cầu phao cùng nghi lễ trình lão, góp phần tái hiện sinh động đời sống văn hóa, tín ngưỡng truyền thống của cộng đồng địa phương.
Xếp hạng
Đình Sùng Văn đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vào năm 1997.
Tài liệu tham khảo
- Ban quản lý di tích và Danh thắng tỉnh Nam Định, Di tích lịch sử – Văn hóa tỉnh Nam Định, Nxb Văn hóa dân tộc (2008)
- Di tích đình Sùng Văn, Báo điện tử Nam Định.
- Ðình cổ Sùng Văn, Báo điện tử Nhân Dân.
- Thế Tâm – Đồng Ngọc Hoa (2012), Lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định, Nxb Tôn Giáo.
- Nguyễn Ôn Ngọc (1997), Nam Định Tỉnh dư địa chí mục lục, Phòng địa chí thư viện tỉnh dịch.
- Hồ Đức Thọ (2003), Lễ hội cổ truyền ở Nam Định, Nxb Xây Dựng.

