Tiểu sử
Ngài thế danh là Nguyễn Văn Vấn, sinh ngày 08. 4 năm Giáp thìn (1664) vào niên hiệu Cảnh Trị (1663 – 1671) đời vua Lê Huyền Tông. Đến niên hiệu Chánh Hòa (1680 – 1704) đời vua Lê Hy Tông, ứng thí nhưng không đậu, có con trai đầu tên Nguyễn Văn Huệ, đến niên hiệu Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705) đời Lê Dụ Tông, sang Trung Quốc cưới vợ khác người Thanh, lại gặp khoa thi cải tên là Dương Năng Vấn đi thi, nhưng lại không đậu, sau đó xuất gia ở chùa Vạn Thọ, đầu sư với Đại sư Hưng Triệt, đệ tử của Thiền sư Thạch Liêm, được bổn sư cho Pháp tự Giác Thù húy Pháp Vấn. Đến năm Lê Bảo Thái thứ tư (1723) trở về nước, cho đến năm Bảo Thái thứ 6 (1725) gặp thời Hiếu Ninh Hoàng đế Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738) thì được sắc nhập vào Viện Thị Triều Hậu và được phong tặng Quốc Sư. Một tờ tấu sự của các sử thần trong Quốc Sử Quán, thuộc Bộ Lễ tâu lên vua Tự Đức vào ngày 25 tháng chạp năm Tự Đức thứ 24, đã cho ta biết là vào năm Vĩnh Khánh thứ tư, niên hiệu của Lê Duy Phường mà chữ Hán trong nguyên bản gọi là “Lê Hôn Đức Công niên hiệu”; Đại sư Giác Thù đã mua “đoạn mãi” bà Phạm Thị Lược hai mẫu đất vườn, tọa lạc tại địa phận hai xã ấp An Vân Lựu Bảo, để lập Khánh Vân Am ở đó, sau tạo thêm ba tượng Phật và các thứ Pháp khí để làm chùa, và Ngài trú trì tại chùa Khánh Vân này (1). Đến năm Cảnh Hưng 12 (1751) thọ gần 90 xin được hồi hưu trở về bổn tự an dưỡng, sang năm Cảnh Hưng 14 (1753) lại đi Thanh quốc và đến năm Càn Long 19 (1754) ngày 15 tháng 10 thì viên tịch, tháp táng tại phía trái chùa Vạn Thọ, có đủ bia chí.
Chú thích:
- Lý Kim Hoa, Châu bản triều Nguyễn, tư liệu Phật giáo, từ trang 407 đến trang 419. Nxb. Văn Hóa Thông Tin, Hà nội, 2003.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 1, xuất bản 2011.