Đình Xuân Canh   (Đình Thượng Lão – Đông Anh, Hà Nội)

Đình Xuân Canh   (Đình Thượng Lão – Đông Anh, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Xuân Canh, còn được gọi là đình Thượng Lão, tọa lạc tại thôn Xuân Canh, xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, Hà Nội. Khu vực Xuân Canh vốn là một vùng đất cổ, xưa kia được bao phủ bởi rừng rậm, trải qua nhiều thế hệ khai phá và xây dựng, nơi đây dần trở thành một xóm làng trù phú ven đô. Cùng với sự hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân, các thiết chế tín ngưỡng dân gian như đình làng cũng xuất hiện, đóng vai trò trung tâm trong đời sống tinh thần của người dân địa phương.

Lịch sử và nhân vật

Từ trung tâm Thủ đô Hà Nội, theo hướng Bắc qua cầu Chương Dương, cầu Đuống đến dốc Vân, tiếp tục đi khoảng 5km trên đê sông Hồng sẽ đến vùng quê Xuân Canh, thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Xã Xuân Canh hiện gồm các thôn: Lực Canh (còn gọi là làng Dâu), Vạn Lộc, Xuân Canh, cùng các thôn Văn Tĩnh, Văn Thượng và Xuân Trạch.

Về tín ngưỡng, các thôn trong xã thờ các vị thần khác nhau:

Thôn Lực Canh và Vạn Lộc thờ vua An Dương Vương.

Thôn Văn Tĩnh và Xuân Canh thờ thần núi Cao Sơn, theo truyền thuyết là một vị quan có nguồn gốc từ Quảng Tây, Trung Quốc.

Theo truyền tích dân gian, Cao Sơn vốn là người Quảng Tây, khi 20 tuổi đã làm quan dưới triều đại nhà Tống. Trong một lần được cử đi sứ sang nước Nam, khi dạo chơi bên dòng Nguyệt Giang trong đêm trăng mát, ông tình cờ nghe các bách quan An Nam đang bình bài thơ “Nam quốc sơn hà” của tướng quân Lý Thường Kiệt. Cảm phục tinh thần yêu nước của người Nam, ông mang bài thơ đi giảng giải cho nho sĩ ở vùng đất Từ Sơn, sau đó về làng Thượng Lão làm thầy đồ, dạy chữ cho dân làng.

Đến thời vua Lý Nhân Tông, khi quân Chiêm Thành đem quân xâm lược Đại Việt, ông được triều đình cử làm tướng đi đánh giặc. Trên đường tiến quân, ông dừng chân ở đất Xuân Canh, chiêu mộ dân binh và xây dựng đồn trại phòng ngự. Nhiều trai tráng trong làng đã theo ông lên đường cứu nước. Sau khi đánh thắng quân Chiêm, ông cùng binh sĩ được nhà vua mời về kinh đô để ban thưởng và khao quân. Vua phong cho ông làm quan tại vùng Tiên Sơn, cho lập huyện đường. Vào một ngày xuân, ông hóa về trời trong một đám mây vàng. Ghi nhận công lao, vua Lý Nhân Tông đã phong ông mỹ tự:
“Cao Sơn tê thệ hộ quốc dực thánh, bảo cảnh hiển ứng, văn trường kinh quang đại vương, thượng đẳng thần”
(tạm dịch: Thánh Cao Sơn là người phò vua giúp nước, hiển thánh về trời, được sắc phong là thượng đẳng thần).

Trước năm 1945, làng có chưa đến 1.000 người, chia thành bốn thôn, mỗi thôn có một đình riêng:

Thôn Văn Bình thờ Triệu Đà.

Thôn Thượng Lão thờ thần núi Cao Sơn.

Thôn Xuân Đình thờ ngài Cửa Ngọ (không rõ lai lịch).

Thôn Vân Hoạch thờ ngài Hoàng Lãng Khanh, hiệu Văn Lương, người Đường Lâm, từng làm Chỉ huy sứ, Tả tướng quân dưới thời vua Hùng Tuấn Vương.

Về khoa bảng, Xuân Canh từng có nhiều người đỗ đạt:

Năm 1481, ông Nguyễn Minh Thông đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu đời vua Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Thừa chính sứ.

Năm 1733, ông Trương Nguyễn Điều (1685–?) đỗ khoa Sĩ vọng, sau đó đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Sửu, đời vua Lê Thuần Tông, làm đến chức Đề hình Giám sát Ngự sử. Về sau, gia đình ông chuyển cư đến thôn Hàn Lạc (nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm).

Thời Nguyễn, làng có ba người đỗ Cử nhân: Vũ Huy Lân (1864), Nguyễn Huy Điền (1870) và Nguyễn Chính (1886).

Đình Thượng Lão là nơi thờ chính của Cao Sơn Đại vương, hiệu Văn Trường, người có công đánh giặc giúp dân và mở lớp dạy chữ cho con em địa phương. Cao Sơn cùng với Quý Minh Đại vương và người anh họ là thần núi Tản Viên hợp thành Tản Viên Tam Thánh – ba vị thần có vị trí đặc biệt trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Ngoài ra, đình còn phối thờ Linh Lang Đại vương.

Di tích đình Thượng Lão được xây dựng từ lâu đời, tuy hiện nay không có tư liệu xác định rõ năm khởi dựng. Trong các đạo sắc phong còn lưu giữ được, có một bản mang niên đại sớm là năm Cảnh Hưng thứ 4 (Quý Hợi, 1743). Các hiện vật trong đình cũng mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII. Do đó, có thể xác định rằng đình đã được xây dựng trước năm 1743.

Trong thời kỳ cận – hiện đại, đình Thượng Lão từng giữ vai trò chiến lược trong lịch sử dân tộc. Dưới thời Pháp thuộc và Nhật chiếm đóng, nơi đây được sử dụng làm pháo đài, cùng với pháo đài Láng, có nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp quản pháo đài này. Vào đêm 19 tháng 12 năm 1946, từ đây và từ pháo đài Láng, quân ta đã bắn những quả đạn đầu tiên vào quân Pháp, chính thức mở màn cuộc kháng chiến toàn quốc.

Kiến trúc cảnh quan

Các hạng mục cấu thành nên đình Xuân Canh gồm có: tam quan, sân đình, hai dãy tả, hữu mạc và đại đình. Tam quan xây theo kiểu nghi môn với 4 trụ biểu trang trí hoa văn, thân ghi câu đối, hai bên cửa chính có mảng tường đắp tượng hộ pháp cầm binh khí. Đình nhìn về phía nam qua sân và tam quan. Hai dãy nhà tả, hữu mạc có kiến trúc đơn giản kiểu tường hồi bít đốc gồm 3 gian 2 dĩ, kết cấu theo lối chồng rường, bào trơn, kẻ soi.

Toà đại đình được khởi công tôn tạo vào ngày 15-12-2017, với diện tích 270m2, gồm 3 gian, 2 chái và 2 dĩ, 4 góc uốn đao tạo mái trước hình lòng thuyền. Bộ khung kết cấu gồm 6 bộ vì gỗ lim, mỗi bộ vì gồm 6 hàng chân. 

Trong đại đình, gian giữa là nơi tế lễ, các gian bên được tôn nền cao làm nơi hội họp việc làng. Bộ vì làm theo kiểu “thượng giá chiêng, hạ kẻ chuyền”. Mỗi bộ vì kèo có kết cấu mặt bằng theo lối 6 hàng chân. Cấu trúc của các vì kèo là những bộ phận trụ chống chủ yếu, nối bằng những xà dọc phía dưới và những đường hoành phía trên, để tạo thành một khung cột vững chắc đỡ toàn bộ lực đè của mái nhà..

Trang trí kiến trúc và điêu khắc tại đình cho thấy nghệ thuật được thể hiện phong phú về đề tài, đa dạng về nội dung và hầu hết đều mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII – XIX.

Hiện vật

Số lượng hiện vật tại đình Xuân Canh khá phong phú, đa dạng về chủng loại và chất liệu. Đáng chú ý là các sắc phong được ban qua nhiều triều đại như: sắc Cảnh Hưng 4 (1743), sắc Tự Đức 10 (1857), sắc Tự Đức 33 (1880)sắc Khải Định 2 (1917). Đây là những văn bản hành chính có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu lịch sử và tín ngưỡng làng xã.

Ngoài ra, đình còn lưu giữ hai pho tượng phỗng đá mang đậm phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII, một khám thờ có niên đại thế kỷ XIX, cùng nhiều đồ thờ tự truyền thống như lọ hoa, đèn cầy, bát hương… Các hiện vật này không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn góp phần khẳng định tính chất thiêng liêng, sự bền vững trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng dân cư địa phương.

Sự kiện và lễ hội

Câu ca truyền miệng:

“Chết thì bỏ con bỏ cháu

Không bỏ mồng sáu tháng Giêng”

là một minh chứng sinh động cho tính cố kết cộng đồng sâu sắc của cư dân vùng Kẻ Chủ xưa – khu vực quanh Cổ Loa, kinh đô huyền thoại của nước Âu Lạc. Câu ca khẳng định vai trò thiêng liêng và không thể thiếu của lễ hội mồng Sáu tháng Giêng, được xem như một phần không thể tách rời trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân nơi đây.

Hội làng khuyến khích tám xã (gọi là “Bát xã hộ nhi”) cùng tham gia tế lễ tại đền Cổ Loa, bao gồm các làng: Cổ Loa, Mạch Tràng, Cầu Cả, Săn Giã, Thư Cưu, Đài Bi, Văn Thượng, Ngoại Sát. Lễ hội tổ chức rước kiệu trang trọng với đầy đủ nghi thức: long đình, hương án, kiệu thần được rước xuống đình Ngự Triều, nơi đặt trung tâm tế lễ. Các quan viên tham gia mặc áo thụng xanh, đội mũ tế, mang theo cung nỏ, kiếm, tên – tái hiện truyền thống quân đội thời An Dương Vương. Đoàn rước đi qua các địa danh linh thiêng như giếng Ngọc, am Mỵ Châu, kéo dài quanh vòng tường thành cổ Cổ Loa – biểu tượng cho tính liên tục lịch sử và tín ngưỡng của cộng đồng.

Lễ hội diễn ra trang trọng, nghiêm cẩn, đặc biệt là vào ngày 7 tháng Giêng – được coi là ngày chính hội. Trong ngày này, mỗi làng thuộc Bát xã tổ chức các trò vui dân gian tại đình làng mình, như: đấu vật, kéo co, múa võ, chơi cờ người, thả diều,… góp phần làm phong phú đời sống sinh hoạt văn hóa dân gian và khơi dậy tinh thần thượng võ của vùng đất từng là nơi đóng đô, luyện quân.

Đêm hội, không thể thiếu những tốp ca trù từ Lỗ Khê đến biểu diễn. Ca trù, hay còn gọi là hát ả đào, là hình thức nghệ thuật thanh nhã, trong đó người ca là những thiếu nữ trẻ trung, duyên dáng, chưa lập gia đình. Thường biểu diễn theo hình thức “anh đàn em ca”, “cha đàn con hát”. Ca sĩ vừa hát vừa gõ phách, nhịp nhàng với tiếng đàn để giữ đúng nhịp hát. Các cụ cao niên ở Xuân Canh thường đảm nhận vai trò người trông chầu – người “gật đầu hay lắc đầu” thưởng thức và đánh giá phần trình diễn. Vai trò người trông chầu đòi hỏi phải sành lời thơ, hiểu nhạc điệu, thể hiện sự tinh tế trong cảm thụ văn chương.

Người dân Xuân Canh không chỉ yêu mến âm thanh của ca trù mà còn rung động trước những lời thơ của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,… Thậm chí, có khi còn xao xuyến bâng khuâng bởi những lời thơ cổ thi Trung Hoa, như bài thơ của Bạch Cư Dị, thi nhân nổi tiếng đời Đường:

Tiếng chi đó nghe liền sớm tối

Cuốc kêu sầu, vượn hót véo von

Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn

Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng.

Hội làng mồng Sáu tháng Giêng của vùng Cổ Loa không chỉ là sự kiện tín ngưỡng, mà còn là một tổng hòa sinh động của nghệ thuật trình diễn, phong tục làng xã, và ý thức cộng đồng, phản ánh chiều sâu văn hóa ngàn đời của cư dân vùng đất linh thiêng, gắn với huyền thoại quốc gia đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

Xếp hạng

Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc, tín ngưỡng và hiện vật, Đình Xuân Canh đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2000.

Tham khảo

  1. Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
  2. Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.

__________________________

Các ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

 

Tiếng Trung (Chinese)

 

Tiếng Pháp (French)

 

5/5 (4 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)