Tiểu sử
Ngài còn được gọi là Sơn nhân, sinh năm 1784 (1), ngài nguyên quán tỉnh Gia Định. Sơn nhân trước kia là một người ưa làm việc một mình. Vào một ngày kia, khi đang đục viên đá lớn, phá ra được một tương Phật, ông đem đến trình các quan xin nghỉ việc, vì cho đó là mình đã có duyên với Phật pháp, nên xin về nơi thôn dã trồng cây. Quan trên chấp thuận, ngài bèn từ giả thân quyến mang tượng Phật vào núi xa lánh thế tục, người ta không biết ngài sống nơi nào.
Trải qua nhiều năm, người dân Phú Yên bỗng thấy Sơn nhân ở chùa vắng trên núi. Nguyên tại một thôn vắng trên núi có rất nhiều cọp, người dân có lập một ngôi chùa nhưng không ai dám ở, cứ mỗi lần đến kỳ lễ tiết dân trong làng phải sắm gậy gộc, khua thanh la, đánh trống mới có thể vào chùa để làm lễ; khi vào đến chùa, dân làng thấy Sơn nhân nên rất kinh ngạc, hỏi ngài, ngài liền trả lời:
“Hổ tự sống theo hổ, ta ở theo ta, ta sao lại sợ hổ ” và ngài cứ sống như bình thường lâu nay. Ngài thường mặc y phục bằng lá cây, ăn hoa quả rau rừng như một lão tiên ông.
Dân làng có hỏi ngài nhờ có kinh chú gì mà hàng phục được hổ; Ngài trả lời rằng: Ta chỉ có 6 chữ chơn ngôn là Nam Mô A-Di Đà Phật “. Thời gian lâu xa, dân làng nhờ có ngài mật chú nên gặp nạn dịch bệnh cũng qua khỏi, trong khi các nơi khác bị chết rất nhiều, dân làng báo sự việc lên quan, quan tỉnh có người con bị bệnh về tim, thầy thuốc không chữa khỏi, tỉnh quan nhờ 2 người lính đến thỉnh sư, ngài nói: “các ngươi cứ đi trước ta sẽ theo sau“. Khi về đến nơi thì Sư đã đến trước, ngài đã dùng mật chú điều trị lành bệnh cho con gái của quan tỉnh. Tỉnh quan báo sự việc lên vua. Vua Minh Mạng có sắc mời ngài vào cung và hỏi rõ nguyên do. Tại kinh ngài có trình bày mọi việc và có nói thêm: “Người xưa nói ngàn dặm xa mà từ hội về thì gọi là Hoà, cha mẹ còn trở lại bái lễ thì gọi là Thượng. Thuần nhất không pha tạp gọi là Hoà, vạn loài đều suy tôn gọi là Thượng người đời là như vậy “. Vua bèn sắc phong ngài là Hoà thượng, để phân biệt với Tăng Cang, nhưng Hoà thượng hơn Tăng Cang một bậc.
Hoà thượng Sơn nhân phục sức bằng vỏ cây và mang dép gỗ, thức ăn bằng hoa quả rừng, có nhiều người bái phục và cho đó là hy hữu. Vua Minh Mạng ban sắc mời ngài ở chùa Giác Hoàng, nhưng chỉ được hơn một tháng thì ngài khẩn khoảng xin trở về núi. Vua đã ban vàng bạc và cho về chùa cũ. (theo Hàm Long Sơn Chí).
Ngày 18 tháng 10 năm Minh mạng 21 (1840) thần Phan Huy Thực, thần Phan Bá Đạt phụng thượng dụ: lần này về kinh có Nguyễn Ciác Ngộ trụ trì chùa Long Sơn Bát Nhã, là người tịnh tâm tu luyện, tịch cốc đã hơn 40 năm, khổ hạnh cao phong như thế thật rất quý hoá. Truyền cấp cho một văn bằng Tăng Cang, và gia ân thưởng cho 20 lạng bạc, Tăng phục, áo quần vải màu mỗi thứ 5 hộ cho trạm dịch đưa về chùa cũ trụ trì. trên lộ trình đi qua các hạt phái người hộ tống để đường đi được an toàn tốt đẹp. Lại truyền cho viên tỉnh Phú Yên xuất tiền công mua sắm vật liệu, thuê dân phu sửa sang chùa chiền nơi Nguyễn Giác Ngộ hiện đang trú trì cho được quan chiêm. Số dân phu thuê bao nhiêu người truyền cấp khá khá cho mỗi người mỗi tháng 4 quan tiền và một vuông gạo để chúng vui vẻ làm, sớm hoàn thành công việc. Sau khi xong việc cứ thật khai tiêu. Khâm thử. (trích Châu Bản Triều Nguyễn- Lý Kim Hoa sưu khảo và biên dịch tr. 82)
Như vậy Sơn Nhơn Hoà thượng là một vị cao Tăng vào thời Minh Mạng, tu ở vùng núi Phú Yên, ngài là người thuộc dòng họ Nguyễn, tự là Giác Ngộ hiệu Tánh Thông, là vị khai sơn chùa Long Sơn Bát Nhã thuộc thôn Mỹ Phú An Hiệp huyện Tuy An – Phú Yên, ngài là bậc tu hành ở chốn thanh vắng và do đạo lực mà ngài đã được người dân và vua Minh Mạng rất kính phục uy danh nên đã từng mời về Kinh đô ở chùa Giác Hoàng trong Kinh thành nhưng vì ngài đã quen với nếp sống thanh đạm nên ngài đã trở về chốn cũ để tiếp tục tu hành. Ngài viên tịch ngày 02 tháng 11 năm Nhâm Dần (1842). Những vị đệ tử của Ngài có sư Bảo Thanh, Bảo Tạng, Bảo Chơn, Bảo Kế và Mật Niệm…
Chú thích:
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 1, xuất bản 2011.