Đền Gin (Nam Phong Tổ tử – Nam Trực, Nam Định)

Đền Gin (Nam Phong Tổ tử – Nam Trực, Nam Định)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đền Gin, trước đây còn gọi là Nam Phong Tổ từ, tọa lạc tại xóm Chiền, thôn Hiệp Luật, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Nam Minh, tỉnh Ninh Bình). Đây là một di tích có kiến trúc gỗ tương đối hoàn chỉnh, tiêu biểu cho phong cách kiến trúc truyền thống của vùng Sơn Nam Hạ.

Theo sử liệu, đền Gin xưa có tên là Nam Phong Tổ Từ, do những cư dân quê gốc Phong Châu dựng lập vào năm 672 nhằm thờ các vị tiền nhân có công khai khẩn, lập làng. Đền là nơi thờ phụng và tri ân công đức Tướng công Kiều Công Hãn, người đã có công giúp Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, mở đầu thời kỳ tự chủ của dân tộc.

Lịch sử và nhân vật

Đền là nơi thờ phụng và tri ân công đức Tướng công Kiều Công Hãn, người đã có công giúp Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, mở đầu thời kỳ tự chủ của dân tộc. Ngoài ra, ở hai dãy Giải Vũ còn phối thờ 12 dòng họ, gồm 6 họ lập ấp và 6 họ kế thành, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn và sự gắn kết cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Tướng công Kiều Công Hãn là con cả của ông Kiều Công Chuẩn, hai em ông là Kiều Công Định và Kiều Công Thuận đều làm quan dưới triều Ngô Quyền. Khi vua Ngô chết, em vợ là Dương Tam Kha lên cướp ngôi buộc con cả của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập phải trốn sang Nam Sách (Hải Dương). 

Năm 950, Ngô Xương Văn lập mưu lật đổ Dương Tam Kha, giành lại ngôi vua cho nhà Ngô. Năm 965, Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn bị bắn chết trong một trận giao chiến với giặc Chu Thái ở hương Thái Bình (Đường Lâm, Sơn Tây). con Thiên Sách Vương là Ngô Xương Xí nổi nghiệp vua nhưng thế lực ngày một yếu, không quy tụ được quần thần, mỗi thủ lĩnh cát cứ một vùng nên đã gây ra cảnh chia cắt đất nước. Đó là loạn thập nhị sứ quân, chia đất nước thành 12 vùng, do 12 thủ lĩnh cát cứ. Trong đó Kiều Công Hãn là một trong 12 sứ quân, trấn giữ vùng Phong Châu (Bạch Hạc – Phú Thọ). 

Khi Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư được Trần Lãm giúp đỡ tiến hành chinh phạt 11 sứ quân khác. Năm 967, Kiều Công Hãn bị thất trận phải chạy qua vùng An Lá (Nghĩa An -Nam Trực) thì bị thổ hào Nguyễn Tấn đem dân binh đến tập kích chém trúng cổ. Ông xé lụa quấn lấy cổ, chạy về đến vùng đất Hiệp Luật thì dừng lại ở quán bà hàng nước. Bà hàng nước dâng gỏi cá trắm cho ông ăn, ăn xong ông hỏi: “Bị thương thế này có sống được không?” Bà hàng nước chỉ vào đống đất cao gần đến nói: “Đây là nơi nghỉ tốt lành cho tướng công đó”. Kiều Công Hãn bước ra, cởi áo nằm xuống đống đất rồi hoá. Dân làng Hiệp Luật trông thấy sợ hãi bỏ đi. Dân làng Bái Dương lấy chiếu ra đắp. Sáng hôm sau mối đùn thành mộ che kín khắp người. Nhân dân gọi là mộ thiên táng. Người dân ở đây nghĩ rằng Kiều Công Hãn là người cùng quê nên rút chân nhang ở mộ vào đền thờ. Sau này dù cả 4 làng Bái Dương, Tang Trử, Cổ Lũng, Hiệp Luật cùng thờ nhưng phải tôn làng Bái Dương là cả, Tang Trử là thứ nhì, Cổ Lũng thứ ba và em út là Hiệp Luật.

Lại có thuyết khác cho rằng: Năm Đinh Mão (967), Đinh Bộ Lĩnh được Trần Lãm trao binh quyền ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình ngày nay), với tiềm lực quân sự ngày một lớn mạnh Đinh Bộ Lĩnh liên tục đánh bại Lã Đường ở Tế Giang, Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt, Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động Giang… Khi đó thành Phong Châu (Phú Thọ), nơi Sứ quân Kiều Công Hãn đóng giữ bị lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh vây hãm. Trong tình thế nguy cấp, Kiều Công Hãn đã đem vài trăm thân binh mở đường máu, thoát vòng vây chạy về phía Nam. Sáng ngày 10 tháng Chạp năm Đinh Mão (967), Kiều Công Hãn chạy đến vùng đất Thượng Hiền. Tại đây Lê Khai và Nguyễn Tấn đã bố trí sẵn lực lượng đón đánh, ông bị thương vừa phải chống trả, vừa tháo chạy. Đến Vũng Lẫm (xã Đồng Sơn ngày nay) thì sức đã kiệt, ông quay ngựa trở lại tới thôn An Lũng (xã Nam Dương ngày nay). Ông được bà hàng nước tên là Phạm Thị Già cứu giúp, dâng rượu và gỏi cá trắm. Ăn xong ông chạy đến Lũng Kiều, xã Hiệp Luật (nay thuộc thôn Chiền, xã Nam Dương) thì kiệt sức và mất tại đây. Sáng hôm sau mối đùn thành mộ che kín khắp người. Nhân dân gọi là mộ thiên táng. Tương truyền sau khi ông mất, nhân dân bốn xã: Bái Dương, Tang Trữ, Cổ Lũng, Hiệp Luật lập đền thờ ngay trên phần mộ cũ (nay thuộc thôn Chiền, xã Nam Dương). Nhân dân còn lập một miếu nhỏ phía ngoài cổng đền để thờ bà Phạm Thị Già, người có công dâng rượu và gỏi cá trắm cho ngài ăn trước khi hóa.

Thời kỳ chống quân giặc Tống xâm lược, vua Lê Đại Hành dẫn quân đi qua đây. Nghỉ đêm, nhà vua mơ thấy Kiều Công Hãn báo mộng phò giá giúp vua đánh giặc Tống. Sau khi đánh thắng giặc Tống xâm lược, nhà vua Lê Đại Hành đã trở lại cho cấp ruộng, sắc phong làm Thành Hoàng. Đến các triều đại phong kiến về sau đều cấp tế điền và tu sửa đền cho khắc bia đá ghi việc, cũng như ban hành Sắc phong “Long Kiều linh thánh”.

Cuốn Đại Nam nhất thống chí lại chép:

Thần họ kiều, tên Công Hãn, tên là Công Hãn, người Phong Châu, cuối đời Ngô chiếm cứ Hào Châu, Tần Châu và Phong Châu, xưng là đam chế, tức là một trong hàng Thập nhị sứ quân. Sau khi Đinh Tiên Hoàng thống nhất, Kiều Công Hãn lánh về Trường Châu, đến An Lũng (địa phận Bái Dương và Hợp Luật bây giờ) thế bức phải tự tử. Sau đó thường hiền linh, nên người địa phương lập đền thờ. Khi Lê Khi Lê Đại Hành chống cự quân Tống, quân qua dưới đền, đêm mộng thấy thần xin giúp sức, sau đánh tan được quân Tống, hạ lệnh sửa sang đền miếu và ghi vào điền thờ. Đời Thái Ninh nhà Lý và đời Vĩnh Tộ nhà Lê đều có phong, bản triều cũng ban sắc1.

Tưởng nhớ công lao của tướng công, nhân dân nhiều địa phương đã xây dựng đền thờ khắp cả nước, hiện nay có 72 ngôi đền thờ tướng công, kéo dài từ Phong Châu, Bạch Hạc, tỉnh Phú Thọ về tới tỉnh Nam Định. Trong đó trên địa bàn huyện Nam Trực có 2 nơi là Đền Gin, thôn Chiền, xã Nam Dương và Đền Tây Lạc, xã Đồng Sơn. 

Trải qua thời gian dài lịch sử, Đền Gin đã bị xuống cấp, ngôi đền được nhiều lần trùng tu, sửa chữa qua các thời kỳ.

Vào ngày 1/10/2013, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã phê duyệt Dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử – văn hóa Đền Gin. Dự án được triển khai trong giai đoạn 2013-2016, với tổng kinh phí 28 tỷ 187 triệu đồng. Các hạng mục trùng tu bao gồm: Nghi Môn Ngoại, Tiền Đường đền chính, Giải vũ Nội và Giải Vũ Ngoại, bên cạnh đó, nhiều hạng mục tôn tạo cũng được thực hiện như: Bình phong, hệ thống cửa, giếng, ao, vườn cảnh,.. nhằm khôi phục không gian kiến trúc và cảnh quan tổng thể của di tích.

Ngày 20/1/2014, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định phối hợp với huyện Nam Trực long trọng tổ chức lễ khởi công Dự án tu bổ, tôn tạo Đền Gin tại xã Nam Dương, đánh dấu bước quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của di tích.

Kiến trúc cảnh quan

Đền Gin là một công trình kiến trúc có quy mô lớn, tọa lạc trong khuôn viên rộng khoảng 3.290 m². Tổng thể di tích bao gồm nhiều hạng mục kiến trúc như: Nghi Môn, Cổng, Miếu, Giải Vũ Ngoại, Giải Vũ Nội, Đại Bái. Các công trình được bố trí liền mạch, bao quanh đền chính, tạo thành một kiến trúc khép kín. 

Không gian di tích được bao bọc bởi hệ thống cây xanh, góp phần tạo nên cảnh quan tôn nghiêm, cổ kính và thanh tịnh cho ngôi đền.

Nghi Môn

Trước Nghi Môn là một cây cổ thụ lâu năm, bên cạnh cây là bức bình phong lớn, giữa bình phong được chạm khắc hình cuồng lửa, kế bên bình phong là giếng cổ, một nét đặc trưng trong khuôn viên đền, góp phần tạo nên không gian linh thiêng và cổ kính. Tiến vào bên trong một đoạn ngắn là đến Nghi môn, được tạo bởi hai trụ biểu chính tạo thành lối đi rộng hơn 2 mét. Hai bên là hai trụ phụ thấp hơn, liên kết với hệ thống tường bao khép kín toàn bộ khu di tích. Trên phần tường nối với trụ chính, có đắp nổi hình hai vị thần trấn môn đứng chầu hai bên. 

Qua Nghi Môn là khoảng sân rộng, được lát gạch đỏ, mở ra không gian thoáng đãng trước khi bước vào các hạng mục kiến trúc phía trong.

Giải Vũ Ngoại

Qua Nghi Môn là khoảng sân rộng, hai bên sân bố trí hai dãy Giải vũ đối xứng nhau. Mỗi dãy gồm 5 gian hai chái, mang kiểu thức nhà ngói truyền thống, không trang trí hoa văn. 

Năm gian chính ở giữa được để thông thoáng làm lối đi lại, còn hai chái được xây kín và trổ cửa sổ. Đây là không gian phục vụ các hoạt động sinh hoạt của di tích, đồng thời là nơi đặt và bảo quản đồ lễ, cũng như chuẩn bị cho các nghi thức trong những ngày lễ hội.

Miếu

Qua khoảng sân rộng là đến Cổng đền, ở vị trí giữa hai cổng là một  ngôi miếu nhỏ, có kiến trúc hình chữ Nhất (一), gồm ba gian, kiểu mái chồng diêm, tám mái. Các đầu đao được tạo hình rồng uốn cong mềm mại, giữa đỉnh nóc mái gắn hình cuồng lửa, hai đầu guột gắn con kìm. Lối cửa ra vào là hệ thống cửa gỗ thượng song hạ bản, tòa có 4 cột cái, 10 cột quân, làm thành hai bộ vì kiểu chồng rường giá chiêng. Mặt trước lắp đặt hệ thống cửa ô, trên là song vuông, dưới đóng đố, bên trong đặt ban thờ và các đồ thờ cúng trang nghiêm.

Hai bên là hai cổng dẫn vào khu thờ tự, mỗi cổng được xây dựng theo kiểu hai tầng uốn vòm, kiến trúc theo lối truyền thống, tầng dưới làm lối đi, tầng trên là mảng tường kín, bên trong khắc chữ Hán.  

Giải Vũ Nội

Qua Cổng là đến khoảng sân trước đền, ở hai bên dãy nhà Giải vũ, có kiến trúc giống với Giải Vũ Ngoại. Đều có năm gian hai chái, lối kiến trúc truyền thống. 

Đền chính

Đền Gin là di tích còn bảo lưu gần như nguyên vẹn phong cách kiến trúc  nghệ thuật thời Hậu Lê, tiêu biểu cho giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII, mang đậm dấu ấn kiến trúc truyền thống Việt Nam.

Ngôi đền được xây dựng theo mặt bằng chữ Đinh, gồm Đại Bái và Hậu Cung. Đại Bái gồm 5 gian, 4 mái, kết cấu hoàn toàn bằng gỗ, phía trước hiên có dựng các vách gỗ để che nắng, bên trong bố trí hệ thống cửa gỗ truyền thống. Hệ thống cột dựng bằng 12 cột cái, 24 cột quân, phía trên là 6 bộ vì kiểu chồng rường giá chiêng. Đây là không gian hành lễ chính, nơi đặt bàn thờ, trang trí hoành phi, câu đối phục vụ các nghi thức thờ tự.

Hậu Cung là không gian linh thiêng nhất của di tích, nơi thờ tướng công Kiều Công Hãn, cùng ngai thờ, bài vị và các hiện vật thờ cúng. Cung trong gồm 2 gian, bộ vì làm bằng gỗ lim chắc khỏe, gian chính giữa đặt pho tượng đồng Kiều Công Hãn trong khám long đình. Nội thất đền được bài trí trang trọng với hệ thống cửa võng sơn son thếp vàng, tạo nên không khí tôn nghiêm và cổ kính.

Nghệ thuật trang trí tại Đền Gin đặc biệt phong phú và tinh xảo, thể hiện qua các đường đục chạm sắc nét với nhiều kỹ thuật như chạm thông phong, chạm bong kênh. Các đề tài truyền thống như Long – Ly – Quy – Phượng, lưỡng long chầu nguyệt, long cuốn thủy, phượng chầu, cùng các hoa văn lá lật, lá lật hóa, triện tàu, mai hóa long được thể hiện sinh động trên các cấu kiện kiến trúc. Tất cả đều được các nghệ nhân xưa chế tác với bố cục chặt chẽ, đề tài đa dạng, góp phần tôn vinh và khẳng định giá trị kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của di tích.

Sự kiện và lễ hội

Lễ hội Đền Gin là một trong những lễ hội có quy mô lớn trên địa bàn huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, được tổ chức hằng năm từ ngày 8 đến ngày 10 tháng Chạp nhằm tưởng niệm ngày mất của Sứ quân Kiều Công Hãn – vị tướng có nhiều công lao phò tá Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán và từng được phong chức Giám quốc.

Lễ hội gồm hai phần chính là phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức trang nghiêm với các nghi thức truyền thống như: rước nước, lễ xin nước nhà thánh, rước bát nhang nhà quan, rước lễ vật, lễ cáo và tế lễ. Đặc sắc và tiêu biểu nhất là nghi lễ rước và tế cá trắm đen – một tục lệ độc đáo chỉ có tại lễ hội Đền Gin. Theo lệ, cá trắm đen dùng làm lễ vật phải có kích thước lớn, thường từ 4 vổ trở lên, có con nặng tới 15 kg, trong ngày lễ cá trắm đen hàng Tổng rước trước gồm ba con, cá của các làng được đặt vào bể kính rước sau. Phần rước lễ trong ngày chính kỵ tại đền Gin (ngày 10/12 Âm lịch) là nghi lễ quan trọng nhất, có số kiệu nhiều nhất, khoảng 30 kiệu, số người tham gia đông nhất với đầy đủ các sản phẩm, lễ vật

Tục tế cá trắm đen bắt nguồn từ truyền thuyết kể rằng, khi Kiều Công Hãn bị thương, ông được một người dân địa phương dâng rượu và gỏi cá trắm để cứu giúp trước khi kiệt sức và hóa thần tại thôn Chiền. Vì vậy, trong ngày giỗ của ngài, lễ vật cá trắm đen trở thành phần không thể thiếu, được nhân dân gìn giữ và thực hành cho đến ngày nay, bên cạnh các lễ vật truyền thống khác như: bánh chưng, bánh dày, xôi, giò, hoa quả…

Bên cạnh phần lễ, phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc như: xới vật, diễn tích chèo cổ, cờ người, và đặc biệt là đánh tổ tôm điếm, thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham dự, góp phần tạo nên không khí lễ hội vừa trang nghiêm, vừa rộn ràng, đậm đà bản sắc văn hóa truyền thống.

Di vật

Hệ thống hiện vật được lưu giữ tại di tích vô cùng phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều cổ vật có giá trị thuộc các triều đại Hậu Lê và Nguyễn, như: thần tích, sắc phong, nhang án, ngai thờ và bài vị, tượng thờ, nghê đá. Những hiện vật này không chỉ phản ánh giá trị lịch sử – nghệ thuật của di tích mà còn góp phần làm rõ chiều sâu văn hóa và tín ngưỡng của cộng đồng địa phương.

Xếp hạng

Đền Gin là di tích có giá trị tiêu biểu về lịch sử và kiến trúc nghệ thuật, đã được Bộ Văn hoá xếp hạng cấp Quốc gia từ năm 1962.

Chú thích 

  1. Quốc sứ quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập III, Nxb Thuận Hóa,1992

Tài liệu tham khảo 

  1. Bồi Hồi Lễ Hội Truyền Thống Đền Gin, Huyện Nam Trực, Nam Định, Truyền hình Nam Định. 
  2. Dâng cá trắm khổng lồ tưởng nhớ Tướng công Kiều Công Hãn, Báo Tiền Phong, 04/01/2020. 
  3. Đặc sắc tế cá trắm và thi cỗ ở di tích Đền Gin, Báo điện tử Nam Định. 
  4. Lễ hội đền Gin ở Nam Định, người dân dâng cúng đức thánh cá trắm đen to, có con nặng tới 15kg, Báo điện tử Dân Việt, ngày 21/01/2024. 
  5. Lễ hội đền Gin ở Nam Định, Thông tấn xã Việt Nam, ngày 09/01/2025.
  6. Hồ Đức Thọ (2003), Lễ hội cổ truyền ở Nam Định, Nxb Khoa học xã Hội.
  7. Đặng Ngọc Văn, Đền Gin, Di tích lịch sử- văn hóa tỉnh Nam Định, nxb Văn hóa dân tộc (2008). 
  8. Quốc sứ quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập III, Nxb Thuận Hóa (1992).
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin
Đen Gin Nam Truc Nam Đinh (nguon gg) (19)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)