Tên gọi và vị trí địa lý
Đền Giáp Ba, còn gọi là đền Cẩm Nang, nằm trên khu đất rộng, bằng phẳng và cao ráo ở thôn Giáp Ba, thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, cách thành phố Nam Định khoảng 9 km (nay thuộc xã Nam Trực, tỉnh Ninh Bình). Công trình gồm đền chính thờ Triệu Việt Vương và hai ngôi đền nhỏ thờ hai vị tướng họ Đoàn.
Theo sử liệu, từ thời Lê, khu vực này thuộc thôn Cẩm Nang, xã Châu Nguyên. Sau Cách mạng Tháng Tám, địa danh được đổi tên thành thôn Ba, xã Nam Giang, nhưng trong dân gian vẫn quen gọi là Giáp Ba. Tên gọi đền Cẩm Nang trước đây và đền Giáp Ba ngày nay cũng bắt nguồn từ sự thay đổi tên gọi hành chính đó.
Lịch sử hình thành và nhân vật
Đền Giáp Ba gồm đền chính thờ Triệu Việt Vương và hai ngôi đền nhỏ thờ hai vị tướng họ Đoàn, những nhân vật có nhiều đóng góp cho đất nước và quê hương vào thế kỷ thứ VI (572).
Triệu Việt Vương, tên thật là Triệu Quang Phục, là vị anh hùng có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Lương xâm lược. Người có công lãnh đạo nhân dân Bắc đánh giặc Lương, Nam dẹp quân Lâm Ấp, mở mang bờ cõi, thống nhất sơn hà, dựng lên nước Vạn Xuân, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, giữ ngôi Hoàng đế được 24 năm, từ năm 548 đến 572.
Ông sinh vào mùa xuân năm Mậu Thìn trong một gia đình khá giả, nhân đức. Cha là Triệu Túc, mẹ là Hán Thị Siêu, quê ở xã Phật Nội, huyện Chu Diên, phủ Tam Đới (nay thuộc Sơn Tây). Từ nhỏ, Triệu Quang Phục nổi tiếng thông minh, chăm học, tinh thông cả văn lẫn võ.
Năm 17 tuổi, sau khi cha mẹ qua đời, ông theo danh tướng Lý Bôn tham gia đánh đuổi quân Lương, giành lại độc lập cho dân tộc. Năm 544, Lý Bôn lên ngôi, xưng là Lý Nam Đế, đóng đô ở Long Biên. Khi quân Lương tiếp tục xâm lược, Lý Nam Đế thất bại, phải rút lui về động Khuất Liêu và trao binh quyền cho Triệu Quang Phục.
Năm 547, Triệu Quang Phục rút quân về đầm Dạ Trạch (nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên), lợi dụng địa hình đầm lầy, lau sậy rậm rạp để tổ chức kháng chiến, ông cho lập doanh trại trên một gò đất nổi giữa đầm lầy, hàng ngày dùng thuyền mộc đi đánh tỉa. Nhờ chiến thuật linh hoạt và tinh thần quả cảm, quân ta dần giành thắng lợi, quét sạch quân Lương ra khỏi bờ cõi. Theo truyền thuyết, ông được Chử Đồng Tử trao cho móng rồng gắn vào mũi mâu, giúp đánh giặc trăm trận trăm thắng.
Năm 548, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương, tiếp tục đóng đô ở Long Biên. Đến năm 570, ông bị Lý Phật Tử đem quân đánh úp, phải rút chạy và trầm mình xuống cửa biển Đại Nha vào ngày 14 tháng 8 Âm lịch.
Tương truyền, trong quá trình rút lui, Triệu Việt Vương từng dừng chân tại thôn Cẩm Nang để lập hành doanh. Nhưng vẫn bị truy kích nên đã chạy đến cửa biển Đại Nha (nay thuộc thôn Độc Bộ, xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, Nam Định).
Ngày nay, tại thôn Ba vẫn còn lưu giữ nhiều địa danh gắn với dấu tích ấy như An Mã Chiến (nơi cho ngựa ăn uống), Mã Khởi, đường Mã Chạy, khu Cồn Cửa… Để tưởng nhớ công lao to lớn của ông, nhân dân địa phương đã lập đền thờ ngay trên mảnh đất vua từng dừng chân.
Bên cạnh đền thờ Triệu Việt Vương là hai ngôi đền thờ Đoàn Tướng Công và Đoàn Công Thưởng, hai quan Đại thần thời hậu Lê năm 1711, thuộc dòng họ Đoàn ở Cẩm Nang. Cả hai từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Lê. Trong đó, Đoàn Công Thưởng (còn gọi là Đoàn Quận Công) được phong tới chức Tổng Thái giám dưới triều vua Lê Dụ Tông; Đoàn Tướng Công làm quan dưới thời vua Lê Hiển Tông (1740 – 1786).
Hai vị đều là bậc trung quân, ái quốc, nổi tiếng thanh liêm, được quân thần và nhân dân kính trọng. Đối với quê hương, hai ông đã có nhiều công lao đóng góp, ban cấp ruộng đất, lương thực, dạy kế sinh nhai cho dân làng Cẩm Nang, giúp cuộc sống của họ dần trở nên ổn định, ấm no. Cảm kích trước công lao to lớn ấy, nhân dân thôn Cẩm Nang đã lập đền thờ, hương khói phụng thờ nhằm tưởng nhớ ân đức và lưu truyền công lao của hai vị mãi về sau.
Kiến trúc cảnh quan
Ngôi đền thờ vua Triệu làm quay hướng Nam, gồm 4 tòa chính và 2 giải vũ theo kiểu nội chữ đinh ngoại chữ quốc. Đền được làm trên một đất cao ráo, rộng rãi, với hệ thống tiền đình, hồ nước vuông vắn phía trước tạo nên một khung cảnh hài hoà, cân đối. Gồm Cổng, Đền thờ chính, đền thờ Hai Quận Công.
Cổng
Cổng chính của đền nằm ngay trên trục đường lớn của khu dân cư, cổng được xây dựng theo kiểu hai tầng tám mái, các đầu đao uốn cong mềm mại, mái lợp ngói đỏ tạo dáng vẻ cổ kính, trang nghiêm, trên thân các trụ có khắc câu đối bằng chữ Hán. Bao quanh khu di tích là hệ thống tường xây kiên cố, tạo không gian khép kín và tôn nghiêm cho đền.
Ngoài cổng chính, ở phía giáp mặt đường khác của đền còn có một cổng phụ, cũng được tạo bởi hai trụ biểu theo kiểu lồng đèn, rộng khoảng 2 mét. Thân cột được chạm khắc câu đối. Cổng để thoáng không có mái và cánh cửa.
Bên cạnh đó, đền còn có nhiều lối ra vào khác ở các phía, thuận tiện cho việc đi lại của nhân dân và du khách trong những dịp lễ hội.
Đền chính
Phía trước đền là khoảng sân rộng, ở cuối khoảng sân được xây dựng kiểu Nghi Môn, gồm 4 trụ biểu, hai trụ biểu ở giữa cao hơn, đỉnh trụ gắn lân chầu. Nối với hai trụ phụ hai bên là dãy tường lửng, bức tường chạm hoa chanh. Ở giữa hai trụ biểu là dãy bậc thang dẫn xuống một hồ nước rộng, hình vuông.
Đền được xây dựng theo kiểu kiến trúc chữ Công (工) truyền thống, gồm ba phần chính: Tiền Đường, Ống Muống và Hậu Cung, được bố trí liên hoàn, tạo nên không gian thờ tự trang nghiêm và bề thế.
Tiền Đường gồm 5 gian, từng được trùng tu vào năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), nhưng vẫn giữ được phong cách kiến trúc thời Hậu Lê với dáng mái cong và các chi tiết truyền thống đặc trưng. Đền có hệ thống cửa gỗ bức bàn, bốn mái, cong mềm mại, góc mái gắn con kìm.
Bên trong Tiền Đường dựng theo kiểu tứ trụ vững chắc, hệ thống cột, xà, kèo, bẩy được sắp xếp cân đối, hài hòa, ba gian giữa đặt ba bức cửa võng, cửa võng ở gian giữa được chạm khắc công phu với hình ảnh lưỡng long chầu nguyệt cùng nhiều họa tiết trang trí tinh xảo, sơn son thếp vàng. Hai bức cửa võng hai bên được chạm khắc hoa văn mai hóa, trúc hóa, mang vẻ đẹp thanh nhã, hài hòa. Ngoài ra còn trang trí hệ thống hoành phi, câu đối bằng chữ Hán. Ở mỗi gian đều đặt ban thờ, bên trên bày các đồ thờ cúng trang nghiêm như: Bộ bát bửu, chim hạc, lục bình.
Ống Muống là gian nhà chạy dọc, có chức năng nối liền Tiền Đường với Hậu Cung, tạo sự liên kết chặt chẽ trong tổng thể kiến trúc. Nằm cuối cùng là gian Hậu Cung được xây dựng theo trục ngang, có mái cong uốn lượn và hệ thống cột, kèo, bẩy chắc chắn. Các chi tiết chạm khắc tập trung chủ yếu trên xà và bẩy, với nhiều hình ảnh sinh động như rồng chầu, rồng bay trong mây, cá hóa rồng và họa tiết mây nước.
Ban thờ đặt pho tượng đồng Triệu Việt Vương được đúc năm Giáp Tuất dưới triều vua Tự Đức (1874). Tượng đúc liền với bệ hình chữ nhật, đặt trên bệ đá cao. Đây là pho tượng lớn cao 1m30 (chưa kể bệ); nẹp, gấu áo nổi lên sóng gợn, sơn son thếp vàng lộng lẫy.
Đền thờ Hai Quận Công
Đền thờ Đoàn Quận Công và Đoàn Tướng Công được xây dựng theo kiểu kiến trúc chữ Đinh (丁) truyền thống, nằm liền kề đền thờ Triệu Việt Vương, cùng hợp thành một quần thể kiến trúc.
Không gian đền được thiết kế thoáng đãng, không chia gian và không làm cửa. Bên trong đền còn bảo tồn nhiều mảng chạm khắc hoa lá, lân, ly với đường nét mềm mại, sinh động, mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (thế kỷ XIX). Bên trong được bài trí trang nghiêm với hương án, đồ thờ và bài vị của hai ngài, thể hiện lòng tôn kính và tri ân của nhân dân đối với những bậc tiền nhân có công với quê hương, đất nước.
Giải Vũ
Hai bên Tả/Hữu đền là hai dãy Giải Vũ nằm kế bên đền chính, ở phía đầu hồi bên trái của đền được thiết kế dạng cổng hai tầng, là lối dẫn vào khu đền thờ hai quan ở phía sau. Trên bức tường phía trên cổng có gắn dòng chữ “Lăng thờ hai Quan”. Đối diện bên tay phải là cổng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Mỗi bên gồm ba gian, được xây dựng theo lối kiến trúc đơn giản, mái cong truyền thống, hệ thống cột, xà, bẩy, kẻ được bố trí đồng bộ, chắc chắn, với kích thước tương đối lớn. Trên các cấu kiện gỗ còn chạm khắc nhiều họa tiết hoa lá cách điệu và hình rồng với đường nét sắc sảo, mềm mại.
Sự kiện và lễ hội
Hằng năm, vào dịp kỵ thánh Triệu Việt Vương (ngày 14/8 Âm lịch), nhân dân thôn Giáp Ba long trọng tổ chức lễ hội truyền thống tại đền. Đây là dịp để cán bộ và nhân dân địa phương tưởng nhớ, tri ân công lao to lớn của Đức Thánh Triệu Việt Vương, đồng thời phát huy truyền thống văn hóa và tinh thần cách mạng của quê hương.
Lễ hội truyền thống Đền Giáp Ba năm nay được tổ chức trong 3 ngày, từ ngày 13 đến 15/8 âm lịch), trong đó ngày 14/8 là ngày chính hội. Cũng như nhiều lễ hội truyền thống của người Việt, lễ hội Đền Giáp Ba gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức trang nghiêm với các nghi thức tế nam quan, nữ quan và nghi lễ rước kiệu cỗ của các giáp. Thôn có 18 giáp thì cả 18 giáp đều tham gia rước kiệu cỗ của giáp mình lên đền vào sáng ngày chính hội. Ngày 14-8 là chính kỵ, 18 giáp rước kiệu cỗ lên đền, kiệu cỗ gồm cỗ ngọc (cỗ mặn) đặt phía trên và cỗ xén gồm hoa quả, bánh trái xếp phía dưới.
Phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều trò chơi dân gian như đấu vật, cờ người, kéo chữ, thi làm bánh chưng. Trong hội có mở thi làm bánh dày cúng thánh, giáp nào làm bánh trắng, mịn, dẻo, ngon nhất thì đoạt giải.
Bên cạnh đó, Ban Tổ chức còn tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao như biểu diễn văn nghệ, thi đấu bóng chuyền, bóng đá, bóng bàn…, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương tham gia.
Xếp hạng
Với những giá trị đặc sắc về lịch sử và văn hóa, Đền Giáp Ba đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 1994.
Tài liệu tham khảo
-
- Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Nam Định, Nxb Văn hóa tỉnh Nam Định (2008).
- “Đặc sắc giá trị lịch sử và kiến trúc của những ngôi đền cổ ở Nam Trực”, Tạp chí điện tử Báo Ninh Bình, 30/10/2015.
- “Nam Định tôi yêu | Đền Giáp Ba, Nam Giang, Nam Trực”, Kênh youtube Nam Định đất và người.
- “Khai mạc Lễ hội Truyền thống Đền Giáp Ba, xã Nam Trực năm 2025”, Trang thông tin điện tử xã Nam Trực, tỉnh Ninh Bình, 06/10/2025.
- Dương Thị The (2018), Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, Nxb Hồng Đức.
- Hồ Đức Thọ (2003), Lễ hội cổ truyền ở Nam Định, Nxb Khoa học xã hội.
- “Vẻ đẹp thanh tịnh tại ngôi đền di tích quốc gia ở Nam Định”, Tạp chí Lao Động, ngày 09/12/2024.
- Lý Tế Xuyên (1960), Việt Điện U Linh Tập, Nxb Khai Trí.
