Thân thế
Về thân thế của Triệu Quang Phục, cả Toàn thư và Cương mục đều ghi nhận ông là con của Triệu Túc là một tù trưởng ở vùng Chu Diên. Riêng Cương mục chép tương đối chi tiết: “Quang Phục là con Triệu Túc, người huyện Chu Diên, là người có oai và hùng dũng, theo Nam Việt đế Lý Bôn đi đánh dẹp, có công, được phong làm tả tướng quân. Khi Lý Bôn mất, Quang Phục tự xưng làm vua. Lúc bấy giờ Quang Phục đóng quân ở Dạ Trạch, thấy quân Lương không rút lui, bèn đốt hương khấn trời thì có điềm tốt là được móng rồng để đính lên mũ đâu mâu, dùng để uy hiếp quân giặc. Từ đó thanh thế quân đội lừng lẫy, đánh đâu được đấy”.
Làm tướng của Lý Nam Đế
Triệu Quang Phục là một trong những nhân vật có đóng góp quan trọng trong công cuộc lãnh đạo nhân dân chống lại ách xâm lược của nhà Lương (542–543), góp phần bảo vệ nền độc lập của quốc gia Vạn Xuân.
Năm 544, sau khi đánh tan quân xâm lược, Lý Bí tuyên bố thành lập nhà nước Vạn Xuân, tự xưng là Nam Việt Đế, sử gọi là Lý Nam Đế, đặt niên hiệu Thiên Đức và thiết lập triều đình với đầy đủ quan chức văn võ. Trong bộ máy ấy, Triệu Quang Phục được phong làm Đại tướng, giữ vai trò trọng yếu trong việc bảo vệ đất nước.
Tuy nhiên, đến năm 545, nhà Lương lại tổ chức một cuộc xâm lược quy mô lớn. Tướng Trần Bá Tiên chỉ huy thủy quân xuất phát từ Phiên Ngung tiến nhanh vào Giao Châu, trong khi Dương Phiêu dẫn lục quân qua Hợp Phố, rồi tiến thẳng vào Giao Chỉ (tức miền Bắc Việt Nam ngày nay). Trước thế mạnh của quân địch, Lý Nam Đế dù dốc sức chống trả nhưng không thể giữ được, buộc phải rút về cố thủ tại thành Gia Ninh (thuộc vùng Bạch Hạc – Việt Trì).
Lãnh đạo chống quân Lương
Năm 546, quân giặc kéo đến bao vây thành Gia Ninh. Trước tình thế nguy cấp, Lý Nam Đế cùng các tướng lĩnh rút quân về vùng Động Lão (nay thuộc Vĩnh Phúc). Đến tháng 8 năm ấy, ông huy động khoảng hai vạn binh sĩ từ Động Lão tiến ra hồ Điển Triệt (Lập Thạch, Vĩnh Phúc) và chuẩn bị thuyền chiến nhằm mở một trận quyết đấu lớn. Tuy nhiên, một đêm mưa lũ dâng cao, nước sông đổ vào hồ như thác. Tướng giặc Trần Bá Tiên lập tức lợi dụng thời cơ, dốc quân tấn công. Quân của Lý Nam Đế không kịp ứng phó, buộc phải rút lui về Động Khuất Lão (Tam Thanh, Vĩnh Phúc). Tại đây, Lý Nam Đế cùng triều đình tạm trú, đồng thời trao quyền chỉ huy quân đội cho Triệu Quang Phục tiếp tục kháng chiến.
Tháng Giêng năm 547, Triệu Quang Phục rút quân về giữ đầm Dạ Trạch (nay thuộc bãi Màn Trò, xã Châu Ninh, tỉnh Hưng Yên). Khu vực này có địa thế hiểm trở: đầm rộng, cây cối rậm rạp, bốn phía đều là bùn lầy khiến người ngựa khó di chuyển. Giữa đầm có một gò đất cao có thể trú đóng, chỉ những người thông thạo địa hình mới có thể ra vào bằng thuyền độc mộc nhỏ. Ai không quen đường rất dễ lạc lối, thậm chí có thể bị rắn độc tấn công khi sa xuống nước.
Nắm rõ địa thế, Triệu Quang Phục cùng hơn hai vạn quân lập căn cứ trong đầm, áp dụng chiến thuật du kích. Ban ngày ông tuyệt đối giữ bí mật, không để lộ dấu vết sinh hoạt; ban đêm lại dùng thuyền độc mộc bất ngờ tập kích doanh trại quân Trần Bá Tiên, cướp lương thảo, vũ khí và tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Nhờ đó, quân của ông có đủ lương thực để cầm cự lâu dài, còn Trần Bá Tiên nhiều lần tấn công mà không thể thắng. Dân chúng vì thế tôn ông là Dạ Trạch Vương.
Sau khi hay tin Lý Nam Đế qua đời ở động Khuất Lão, Triệu Quang Phục xưng là Triệu Việt Vương để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến.
Đến năm 550, Trần Bá Tiên định kéo dài chiến cuộc nhằm khiến quân của Triệu Việt Vương kiệt sức vì thiếu lương. Tuy nhiên, đúng lúc ấy, triều Lương xảy ra loạn Hầu Cảnh, buộc Trần Bá Tiên phải rút quân về nước, giao quyền chỉ huy cho tướng Dương Sàn. Nắm thời cơ, Triệu Việt Vương phản công mạnh mẽ, đánh tan quân Lương, giết chết nhiều địch và buộc tàn quân phải tháo chạy về phương Bắc.
Quan hệ với nhà Hậu Lý Nam Đế
Sau khi đánh bại quân Lương, Triệu Việt Vương lên ngôi, lập ra triều đại mới. Trong khi đó, Lý Thiên Bảo anh của Lý Nam Đế sau khi thất bại trước Trần Bá Tiên, chạy về vùng đất của người Di Lạo, tự xưng là Đào Lang Vương và lập nước Dã Năng. Năm 555, Lý Thiên Bảo qua đời, không có con nối dõi, nên người dân tôn một người cùng họ của ông là Lý Phật Tử lên kế vị.
Đến năm 557, Lý Phật Tử mang quân tiến xuống vùng Đông, giao chiến với Triệu Việt Vương tại huyện Thái Bình (nay thuộc Hoài Đức, Hà Nội). Hai bên giao tranh nhiều lần nhưng không phân thắng bại. Thế yếu, Lý Phật Tử xin giảng hòa. Triệu Việt Vương, vì nể tình cùng họ với Lý Nam Đế, chấp thuận và chia đất ở bãi Quân Thần, cho Lý Phật Tử cai quản phần phía Tây, dời đô về thành Ô Diên.
Sau đó, Lý Phật Tử cho con trai là Nhã Lang cầu hôn con gái của Triệu Việt Vương là Cảo Nương. Triệu Việt Vương thuận ý, gả con gái và để Nhã Lang ở rể. Sử gia nhận định rằng, dù Triệu Việt Vương từng giành thắng lợi trước quân Lương, nhưng ông vẫn chưa đủ quyền lực để thống nhất toàn bộ lãnh thổ Vạn Xuân, dẫn đến thế lực họ Lý vẫn tồn tại và cạnh tranh.
Năm 571, Lý Phật Tử bất ngờ phát động tấn công Triệu Việt Vương. Trước thế công mạnh mẽ, Triệu Việt Vương thất thế, phải mang con gái chạy về phương Nam tìm nơi ẩn náu. Khi đến cửa biển Đại Nha, bị quân địch truy sát và không còn đường thoát, ông gieo mình xuống biển tự vẫn. Từ đó, nhà Triệu mất nước, quyền lực rơi hoàn toàn vào tay họ Lý.
Lời bàn của sử thần
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: “Đàn bà gọi việc lấy chồng là “quy” thì nhà chồng tức là nhà mình. Con gái vua đã gả cho Nhã Lang thì sao không cho về nhà chồng mà lại theo tục ở gửi rể của nhà Doanh Tần để đến nỗi bại vong?”
Khâm định Việt sử thông giám cương mục bình: “Sử cũ chép việc Triệu Việt vương được cái móng rồng của Chử Đồng Tử cho; việc Nhã Lang sang gửi rể rồi lấy trộm móng rồng; việc Triệu Việt vương vì mất cái móng rồng mà bị thua. Đem những việc ấy kháp với chuyện Thục An Dương vương và Triệu Trọng Thủy trước kia giống nhau như hệt, kỳ quái trái thường không cần phải biện bạch cho lắm. Nhưng Sử cũ chép phần nhiều trùng điệp nhau, sai hẳn sự thực, đại loại như thế đấy. Nay muốn tìm ở Sử cũ lấy chuyện có thể tin ở đời này và truyền lại đời sau, thật cũng khó lắm”
Đền thờ
Người dân nhiều nơi lập đền thờ Triệu Việt Vương, tập trung nhất ở vùng ven biển Ninh Bình – khu vực cửa Đại Nha (nay là cửa Liêu, sông Đáy). Tiêu biểu có các đền, đình, chùa ở Yên Cường, Nam Minh, Xuân Trường, Hải Hưng, Chất Bình, Phát Diệm, Quang Thiện, Yên Mạc, Yên Từ, Ninh Khang, Gia Trấn, Gia Vân, Khánh Hồng, Yên Khánh và Khánh Thiện.
Tại Hưng Yên, đền Hóa Dạ Trạch (xã Triệu Việt Vương) thờ cả Chử Đồng Tử và Triệu Việt Vương. Năm 2012, địa phương xây thêm đền Vua Rừng ở An Vỹ – nơi ông từng luyện quân, tổ chức lễ hội hằng năm vào ngày 12 tháng 8 âm lịch. Hiện tỉnh còn dựng thêm một ngôi đền mới thờ riêng ông.
Tên Triệu Việt Vương được đặt cho nhiều đường phố, trường học và công trình trên cả nước, thể hiện lòng tri ân với vị vua anh hùng này.
Tài liệu tham khảo
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Ngô gia văn phái (2006), Hoàng Lê nhất thống chí, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Đức Vân dịch, Nxb Văn học.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Nguyễn Khắc Thuần (1995), Thế thứ các triều vua Việt Nam, Nxb Giáo dục.


