Thân thế
Mạc Kính Điển là người quê ở hương Cao Đôi, huyện Bình Hà, phủ Dương Kinh. Địa danh này nay thuộc thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ông xuất thân trong hoàng tộc nhà Mạc, là con trai thứ ba của Mạc Đăng Doanh, tức vua Mạc Thái Tông.
Thuở nhỏ, Mạc Kính Điển có thể trạng yếu ớt, thường xuyên đau ốm. Dù vua Mạc Thái Tông đã cho thay đổi nhiều nhũ mẫu nhằm cải thiện sức khỏe cho con, nhưng tình hình vẫn không mấy chuyển biến. Về sau, đúng vào thời điểm vợ của đại thần Phạm Quỳnh vừa sinh con, nhà vua cho gọi bà vào cung để làm nhũ mẫu cho Kính Điển. Từ khi được bà chăm sóc, sức khỏe của Kính Điển dần hồi phục, trở nên cường tráng, khác hẳn trước kia.
Chính vì sự thay đổi rõ rệt ấy, Mạc Kính Điển luôn ghi nhớ công lao của nhũ mẫu. Khi trưởng thành và nắm giữ quyền lực, ông đặc biệt ưu ái và trọng dụng cha con Phạm Quỳnh và Phạm Dao, xem đó như một mối ân tình sâu nặng từ thuở thiếu thời.
Tham gia chính sự
Năm 1546, vua Mạc Hiến Tông qua đời. Con là Mạc Phúc Nguyên còn nhỏ lên ngôi, tức Mạc Tuyên Tông. Khiêm vương Mạc Kính Điển được giao làm phụ chính.
Trong triều xảy ra biến loạn. Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi muốn lập Hoằng vương Mạc Chính Trung – em của Mạc Thái Tông, đã trưởng thành – lên ngôi. Mạc Kính Điển không đồng ý, kiên quyết phò Phúc Nguyên là dòng đích. Vì thế, Phạm Tử Nghi liên kết với Chính Trung khởi binh làm loạn.
Thời gian đầu, Phạm Tử Nghi chiếm ưu thế. Mạc Kính Điển cùng Tây quận công Nguyễn Kính đem quân đánh nhưng bị thua. Tuy nhiên, khi Tử Nghi nhiều lần tiến công Đông Kinh đều bị chống trả quyết liệt, không chiếm được thành, quân sĩ hao tổn nặng. Tử Nghi phải đưa Chính Trung chạy ra Yên Quảng (Quảng Ninh), thường xuyên quay về cướp phá Hải Dương.
Sau đó, Tử Nghi còn đem quân quấy nhiễu sang Quảng Đông, Quảng Tây, khiến nhà Minh không kiểm soát nổi và phải trách cứ nhà Mạc. Không lâu sau, Tử Nghi lại đưa Chính Trung về Yên Quảng, chuẩn bị đánh Đông Kinh.
Năm 1551, Mạc Kính Điển mang quân dẹp loạn, dùng kế dụ bắt được Phạm Tử Nghi rồi đem chém. Mạc Chính Trung chạy sang Trung Quốc và bị giết. Có thuyết cho rằng Tử Nghi chết dưới tay người Minh.
Năm 1550, khi loạn Phạm Tử Nghi chưa dứt, triều Mạc lại xảy ra biến cố khác. Thái tể Lê Bá Ly nắm quyền lớn, có thái độ hống hách. Phạm Quỳnh và Phạm Dao xin vua Mạc Tuyên Tông cho bắt Bá Ly, và nhà vua chấp thuận.
Lê Bá Ly cùng thông gia là Nguyễn Thiến, đem gia quyến và các tướng Nguyễn Quyện, Nguyễn Khải Khang, Lê Khắc Thận chạy vào Thanh Hóa, quy phục nhà Lê. Nhà Mạc vì thế tổn thất nặng nề, nhân tâm dao động.
Thái sư Trịnh Kiểm – lãnh đạo phe Lê – nhân cơ hội liên kết với tướng Vũ Văn Mật ở Tuyên Quang, tiến quân đánh nhà Mạc. Theo Đại Việt thông sử, lúc ấy chỉ có Mạc Kính Điển một lòng phò tá vua, hộ tống xa giá rời kinh thành sang Kim Thành (Hải Dương), còn bản thân ở lại chỉ huy quân chống cự.
Thấy thực lực nhà Mạc vẫn mạnh, lòng người chưa hoàn toàn ngả về phe Lê, Trịnh Kiểm buộc phải rút quân.
Tình thế dần ổn định, Mạc Kính Điển chủ động phản công. Suốt nhiều năm liền, ông đem quân tiến vào Thanh Hóa, tuy không giành thắng lợi quyết định nhưng khiến quân Lê luôn bị động. Có lần bị tướng Lê là Phạm Đức Kỳ đánh bại nặng, Kính Điển phải nhảy xuống sông trốn thoát, ẩn trong hang núi ba ngày, ôm thân chuối theo dòng nước trở về.
Sau khi Nguyễn Quyện – con Nguyễn Thiến – quay lại theo nhà Mạc, tinh thần quân Mạc được củng cố. Nhờ đó, họ dần đánh lui được các đợt tiến công của quân Lê.
Năm 1561, Mạc Tuyên Tông con là Mạc Mậu Hợp mới 2 tuổi lên nối ngôi. Mạc Kính Điển cử người em út là Mạc Đôn Nhượng làm nội phụ chính để lo đỡ việc bên trong để ông tập trung lo việc quân cơ bên ngoài. Quyền quyết định chính sự thực chất đều do Khiêm vương Kính Điển điều hành.
Năm 1570, Thượng tướng Thái quốc công Trịnh Kiểm chết, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh ngôi. Mạc Kính Điển thừa cơ mang đại quân vào đánh Thanh Hoá. Trịnh Cối bị kẹp giữa hai bên địch quân phải hàng Mạc. Kính Điển thúc quân đánh nhiều tháng nhưng cuối cùng không thắng được quân Trịnh Tùng. Nhờ Trịnh Tùng là người thay thế xứng đáng của Trịnh Kiểm nên nhà Lê vẫn duy trì được thế cân bằng với nhà Mạc.
Nhà Lê tuy đứng vững nhưng chỉ chủ yếu trên địa bàn Thanh Hóa. Mạc Kính Điển nhiều lần đánh Thanh Hóa không thắng nhưng khi đốc suất thủy quân vào đánh Nghệ An, nhờ sức tướng Nguyễn Quyện và Hoàng Quận công Mạc Đăng Lượng, lần nào cũng thắng. Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận: “Dân Nghệ An sợ thế giặc (Mạc) đã lâu, quan quân (nhà Lê) xa cách không thể cứu ứng được, phần nhiều hàng họ Mạc”. Từ sông Lam vào Nam lại theo nhà Mạc. Sau đó phía nam nhà Mạc bị mất nốt Thuận Hoá, Quảng Nam vì xa cách nên không thể cứu ứng, tướng Mạc Lập Bạo gặp phải địch thủ lớn là Nguyễn Hoàng bị thua trận chết. Mặc dù Nguyễn Quyện và Hoàng quận công Mạc Đăng Lượng đánh thắng quân Lê nhiều lần ở Nghệ An nhưng vì địa thế cách trở, xa Đông Kinh ở Bắc Bộ không tiếp ứng được nên cuối cùng quân chủ lực của Mạc lại phải rút đi, quân Mạc lại yếu thế trước quân Trịnh. Lê Trịnh được yên phía nam nhờ sức của Nguyễn Hoàng. Nhà Mạc mất hẳn phía nam và chỉ còn kiểm soát Bắc Hà.
Những năm sau đó Mạc Kính Điển tiếp tục vào đánh Thanh Hóa vài lần nhưng vẫn không đánh bại được quân Lê-Trịnh.
Tháng 10 năm 1580, Mạc Kính Điển mất, Mạc Đôn Nhượng lên thay làm phụ chính. Nhà Mạc không có ai thay thế xứng đáng vai trò của ông nên chỉ hơn 10 năm sau thì bị Lê-Trịnh đánh bại
Hậu duệ
Ông có 9 người con trai và 5 người con gái:
Mạc Kính Chỉ hiệu là Mạc Mẫn Tông.
Mạc Kính Trực được phong Trung Cẩn Công, Cẩm y vệ chưởng vệ sự.
Mạc Kính Phu được phong Đoan Lượng Công, Hưng quốc vệ chưởng vệ sự.
Mạc Kính Giản được phong Huệ Thành Công, Chương Vũ vệ chưởng vệ sự.
Mạc Kính Tuân được phong Đạt Lễ Công.
Mạc Kính Cung được phong Mạc Đại Tông.
Mạc Kính Lễ được phong Khuông Phụ Công.
Mạc Kính Bang.
Mạc Ngọc Bích được phong Lương quận thượng chủ.
Mạc Ngọc Quản được phong Nghi quận thượng chủ.
Mạc Ngọc Tỉ được phong An quận thượng chủ.
Mạc Ngọc Diễm được phong Dương quận thượng chủ.
Mạc Ngọc Uyển được phong Tiên quận thượng chủ.
Nhận định của sử quan
Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư nhận đinh: “Kính Điển là người nhân hậu, dũng lược, thông minh, tài trí, nhạy bén, hiểu đời, từng trải nhiều gian nan nguy hiểm, cần lao, trung thành”
Sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn cũng ghi nhận: “Ông tiếp đãi quan liêu có lễ độ, đối với quân sĩ có ân nghĩa, từng trải qua biết bao sự gian hiểm, mà vẫn cần lao trung thành, thời bấy giờ tựa vào ông làm trọng. khi ông chết, lòng người trong nước đều dao động!” và “Kính Điển là người nhân hậu, linh mẫn, dũng cảm có thừa”.
Tài liệu tham khảo
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học xã hội.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Khiem Vuong Mac Kinh Dien (1525?–1580)
Background
Mac Kinh Dien was a native of Cao Doi hamlet, Binh Ha district, Duong Kinh prefecture—an area that today corresponds to Long Dong hamlet, Nam Tan commune, Nam Sach district, Hai Duong province. He was a member of the Mac imperial clan and the third son of Mac Dang Doanh, Emperor Mac Thai Tong.
As a child, Mac Kinh Dien was physically weak and frequently ill. Although Emperor Mac Thai Tong replaced several wet nurses in hopes of improving his son’s health, there was little effect. Later, when the wife of the senior official Pham Quynh had just given birth, the emperor summoned her into the palace to serve as Kinh Dien’s wet nurse. From the time she cared for him, his health gradually recovered and he grew strong, in stark contrast to his earlier frailty.
Because of this remarkable change, Mac Kinh Dien always remembered the wet nurse’s kindness. When he reached adulthood and came to hold power, he showed particular favor and trust toward Pham Quynh and his son Pham Dao, regarding them as beneficiaries of a deep personal debt from his youth.
Participation in State Affairs
In 1546, Emperor Mac Hien Tong died. His son Mac Phuc Nguyen, still a minor, ascended the throne as Emperor Mac Tuyen Tong, and Khiem Vuong Mac Kinh Dien was appointed regent.
Turmoil soon erupted at court. Tu Duong hau Pham Tu Nghi sought to enthrone Hoang vuong Mac Chinh Trung—brother of Mac Thai Tong and already an adult. Mac Kinh Dien opposed this plan and resolutely supported Phuc Nguyen as the legitimate heir. As a result, Pham Tu Nghi allied with Mac Chinh Trung and rose in rebellion.
In the early stage, Pham Tu Nghi held the advantage. Mac Kinh Dien and Tay quan cong Nguyen Kinh led troops against him but suffered defeat. However, when Tu Nghi repeatedly attacked Dong Kinh and was fiercely repelled each time, failing to capture the capital and sustaining heavy losses, he was forced to take Mac Chinh Trung and flee to Yen Quang (Quang Ninh), from where they frequently returned to plunder Hai Duong.
Pham Tu Nghi even led forces to harass Guangdong and Guangxi, causing such disorder that the Ming authorities could not control the situation and reproached the Mac court. Shortly afterward, Tu Nghi brought Mac Chinh Trung back to Yen Quang, preparing to attack Dong Kinh again.
In 1551, Mac Kinh Dien led a campaign to suppress the rebellion. Using a ruse, he captured Pham Tu Nghi and had him executed. Mac Chinh Trung fled to China and was killed. Some accounts claim that Tu Nghi himself died at the hands of the Ming.
In 1550, while the Pham Tu Nghi rebellion was still unresolved, another crisis arose within the Mac court. The Thai te Le Ba Ly wielded great power and behaved arrogantly. Pham Quynh and Pham Dao petitioned Emperor Mac Tuyen Tong to arrest Le Ba Ly, and the emperor consented.
Le Ba Ly, together with his in-law Nguyen Thien and generals Nguyen Quyen, Nguyen Khai Khang, and Le Khac Than, fled with their families to Thanh Hoa and defected to the Le court. This caused heavy losses for the Mac dynasty and shook public confidence.
Thai su Trinh Kiem, leader of the Le faction, seized the opportunity to ally with the general Vu Van Mat in Tuyen Quang and march against the Mac. According to Dai Viet thong su, at that moment only Mac Kinh Dien remained steadfastly loyal to the emperor. He escorted the imperial entourage from the capital to Kim Thanh (Hai Duong), while he himself stayed behind to command the defense.
Seeing that Mac forces were still strong and that popular sentiment had not fully shifted to the Le side, Trinh Kiem was compelled to withdraw.
As the situation stabilized, Mac Kinh Dien took the initiative to counterattack. For many consecutive years, he led campaigns into Thanh Hoa. Although he failed to achieve decisive victory, he kept Le forces constantly on the defensive. On one occasion, he was heavily defeated by the Le general Pham Duc Ky and had to jump into a river to escape, hiding in a mountain cave for three days and floating downstream clinging to a banana trunk to return.
After Nguyen Quyen—the son of Nguyen Thien—returned to serve the Mac, morale among Mac troops was restored, enabling them gradually to repel renewed Le offensives.
In 1561, Emperor Mac Tuyen Tong died, and his son Mac Mau Hop, only two years old, succeeded to the throne. Mac Kinh Dien appointed his youngest brother, Mac Don Nhuong, as internal regent to manage court affairs, allowing him to concentrate on military matters. In practice, all major political decisions were controlled by Khiem Vuong Mac Kinh Dien.
In 1570, the supreme general Thai quoc cong Trinh Kiem died, and his sons Trinh Coi and Trinh Tung struggled for succession. Seizing this opportunity, Mac Kinh Dien led a large army into Thanh Hoa. Trinh Coi, caught between two enemy forces, surrendered to the Mac. Kinh Dien pressed the attack for many months but ultimately failed to defeat Trinh Tung. Because Trinh Tung proved to be a worthy successor to Trinh Kiem, the Le court managed to maintain a balance with the Mac.
Although the Le court held firm, its control was largely limited to Thanh Hoa. Mac Kinh Dien repeatedly attacked Thanh Hoa without success, but when he personally commanded naval forces to attack Nghe An, relying on the strength of the generals Nguyen Quyen and Hoang quan cong Mac Dang Luong, he was victorious every time. Dai Viet su ky toan thu records: “The people of Nghe An had long feared the Mac forces; the Le troops were distant and unable to provide relief, so many surrendered to the Mac.” From the Lam River southward, territories again submitted to the Mac.
Later, the Mac lost Thuan Hoa and Quang Nam due to distance and lack of reinforcement. The Mac general Mac Lap Bao encountered a formidable opponent in Nguyen Hoang, was defeated, and killed. Although Nguyen Quyen and Hoang quan cong Mac Dang Luong won many battles in Nghe An, the difficult terrain and distance from Dong Kinh in the north prevented effective support, and the Mac main forces eventually withdrew. Mac power weakened again in the face of Trinh forces. The Le–Trinh regime secured the south largely thanks to Nguyen Hoang, while the Mac lost all southern territories and retained control only of Bac Ha.
In subsequent years, Mac Kinh Dien continued to attack Thanh Hoa several times but never succeeded in defeating the Le–Trinh forces.
In October 1580, Mac Kinh Dien died. Mac Don Nhuong succeeded him as regent. The Mac dynasty lacked anyone capable of replacing his role, and just over ten years later it was defeated by the Le–Trinh.
Descendants
He had nine sons and five daughters:
- Mac Kinh Chi, titled Mac Man Tong.
- Mac Kinh Truc, titled Trung Can Cong, Commander of the Cam y ve.
- Mac Kinh Phu, titled Doan Luong Cong, Commander of the Hung quoc ve.
- Mac Kinh Gian, titled Hue Thanh Cong, Commander of the Chuong Vu ve.
- Mac Kinh Tuan, titled Dat Le Cong.
- Mac Kinh Cung, titled Mac Dai Tong.
- Mac Kinh Le, titled Khuong Phu Cong.
- Mac Kinh Bang.
- Mac Ngoc Bich, titled Luong quan thuong chu.
- Mac Ngoc Quan, titled Nghi quan thuong chu.
- Mac Ngoc Ti, titled An quan thuong chu.
- Mac Ngoc Diem, titled Duong quan thuong chu.
- Mac Ngoc Uyen, titled Tien quan thuong chu.
Assessments by Historians
Dai Viet su ky toan thu judges: “Kinh Dien was benevolent, brave, intelligent, talented, and perceptive; he understood the ways of the world, endured many dangers and hardships, was diligent and loyal.”
Le Quy Don’s Dai Viet thong su also records: “He treated officials with propriety and soldiers with benevolence; though he experienced countless perils, he remained diligent and loyal. In his time, the state relied heavily upon him. When he died, the hearts of the people throughout the country were shaken,” and further states that “Kinh Dien was benevolent, keen-minded, and possessed great courage.”
References
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học xã hội.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Pháp
Khiem Vuong Mac Kinh Dien (1525?–1580)
Origines
Mac Kinh Dien etait originaire du huong Cao Doi, district de Binh Ha, prefecture de Duong Kinh. Ce lieu correspond aujourd’hui au hameau de Long Dong, commune de Nam Tan, district de Nam Sach, province de Hai Duong. Issu de la famille imperiale des Mac, il etait le troisieme fils de Mac Dang Doanh, empereur connu sous le nom de Mac Thai Tong.
Dans son enfance, Mac Kinh Dien avait une constitution fragile et etait souvent malade. Bien que l’empereur Mac Thai Tong ait change a plusieurs reprises de nourrices pour ameliorer la sante de son fils, la situation ne s’ameliora guere. Plus tard, a l’occasion de la naissance de l’enfant de l’epouse du haut dignitaire Pham Quynh, le roi fit venir celle-ci au palais pour servir de nourrice a Kinh Dien. A partir du moment ou elle prit soin de lui, la sante de Kinh Dien s’ameliora progressivement ; il devint robuste et vigoureux, tres different de ce qu’il etait auparavant.
En raison de ce changement manifeste, Mac Kinh Dien garda toute sa vie une profonde reconnaissance envers cette nourrice. Lorsqu’il parvint a l’age adulte et detint le pouvoir, il accorda une faveur particuliere et une grande confiance au pere et au fils Pham Quynh et Pham Dao, considerant ce lien comme une dette morale issue de son enfance.
Participation aux affaires de l’Etat
En 1546, l’empereur Mac Hien Tong mourut. Son fils Mac Phuc Nguyen, encore enfant, monta sur le trone sous le nom de Mac Tuyen Tong. Khiem vuong Mac Kinh Dien fut alors charge de la regence.
Des troubles eclaterent a la cour. Tu Duong hau Pham Tu Nghi voulut placer sur le trone Hoang vuong Mac Chinh Trung, frere de Mac Thai Tong, deja adulte. Mac Kinh Dien s’y opposa fermement et soutint Phuc Nguyen, heritier legitime. En consequence, Pham Tu Nghi s’allia a Chinh Trung et leva des troupes pour se rebeller.
Dans un premier temps, Pham Tu Nghi prit l’avantage. Mac Kinh Dien, accompagne de Tay quan cong Nguyen Kinh, mena les troupes pour l’affronter mais subit une defaite. Toutefois, lorsque Tu Nghi attaqua a plusieurs reprises Dong Kinh, il se heurta a une resistance acharnee, ne put prendre la ville et subit de lourdes pertes. Il dut alors emmener Chinh Trung vers Yen Quang (Quang Ninh), tout en revenant regulierement piller Hai Duong.
Par la suite, Tu Nghi porta meme ses incursions jusqu’au Guangdong et au Guangxi, ce qui mit la dynastie Ming dans l’embarras et lui valut des reproches adresses a la maison Mac. Peu apres, Tu Nghi ramena Chinh Trung a Yen Quang afin de preparer une nouvelle attaque contre Dong Kinh.
En 1551, Mac Kinh Dien prit personnellement la tete des troupes pour reprimer la rebellion. Par une ruse, il parvint a capturer Pham Tu Nghi et le fit executer. Mac Chinh Trung s’enfuit en Chine, ou il fut tue. Selon une autre version, Pham Tu Nghi aurait ete execute par les autorites Ming.
En 1550, alors que la rebellion de Pham Tu Nghi n’etait pas encore completement etouffee, un nouvel incident eclata au sein de la cour Mac. Le grand dignitaire Le Ba Ly, detenteur d’un pouvoir considerable, se montrait arrogant. Pham Quynh et Pham Dao demanderent a l’empereur Mac Tuyen Tong l’autorisation de l’arreter, ce que celui-ci accepta.
Le Ba Ly, avec son allie par mariage Nguyen Thien, emmena sa famille ainsi que les generaux Nguyen Quyen, Nguyen Khai Khang et Le Khac Than et se refugia a Thanh Hoa, ou ils se rallierent a la maison Le. La dynastie Mac subit ainsi de lourdes pertes, et le moral de la population fut ebranle.
Le grand maitre Trinh Kiem, chef du camp Le, profita de la situation pour s’allier au general Vu Van Mat a Tuyen Quang et lancer une offensive contre les Mac. Selon le Dai Viet thong su, a ce moment-la, seul Mac Kinh Dien demeura fidele au souverain : il escorta la cour hors de la capitale vers Kim Thanh (Hai Duong), tandis qu’il resta lui-meme pour commander les troupes et organiser la resistance.
Constatant que la puissance militaire des Mac restait solide et que les esprits n’etaient pas encore totalement acquis au camp Le, Trinh Kiem dut finalement se retirer.
La situation se stabilisa progressivement, et Mac Kinh Dien passa a la contre-offensive. Pendant de nombreuses annees, il mena des campagnes militaires a Thanh Hoa. Bien qu’il ne remportat pas de victoire decisive, il parvint a maintenir l’armee Le dans une position constamment defensive. Une fois, apres avoir subi une lourde defaite face au general Le Pham Duc Ky, Kinh Dien dut se jeter dans une riviere pour s’echapper, se cacher dans une grotte de montagne pendant trois jours, puis se laisser porter par le courant en s’agrippant a un tronc de bananier pour rentrer.
Lorsque Nguyen Quyen, fils de Nguyen Thien, revint se rallier a la maison Mac, le moral des troupes Mac fut renforce. Elles parvinrent alors a repousser progressivement les offensives des forces Le.
En 1561, l’empereur Mac Tuyen Tong mourut. Son fils Mac Mau Hop, age de deux ans, monta sur le trone. Mac Kinh Dien confia a son plus jeune frere, Mac Don Nhuong, la fonction de regent interieur afin de gerer les affaires internes, tandis qu’il se concentrait sur les operations militaires exterieures. En realite, l’ensemble des decisions politiques restait entre les mains de Khiem vuong Mac Kinh Dien.
En 1570, le grand general Thai quoc cong Trinh Kiem mourut. Ses deux fils, Trinh Coi et Trinh Tung, se disputerent le pouvoir. Profitant de cette division, Mac Kinh Dien mena une grande armee pour attaquer Thanh Hoa. Coince entre deux forces ennemies, Trinh Coi se rendit aux Mac. Kinh Dien poursuivit l’offensive durant plusieurs mois, mais ne parvint finalement pas a vaincre les troupes de Trinh Tung. Grace aux qualites de ce dernier, digne successeur de Trinh Kiem, la maison Le conserva un equilibre de forces face aux Mac.
La maison Le se maintint, mais essentiellement dans la region de Thanh Hoa. Mac Kinh Dien attaqua a plusieurs reprises Thanh Hoa sans succes. En revanche, lorsqu’il dirigea la flotte pour attaquer Nghe An, avec l’appui du general Nguyen Quyen et de Hoang quan cong Mac Dang Luong, il remporta la victoire a chaque fois. Le Dai Viet su ky toan thu rapporte : « La population de Nghe An redoutait depuis longtemps la puissance de l’armee Mac ; les troupes et fonctionnaires de la maison Le, eloignes, ne pouvaient porter secours, et beaucoup se rendirent aux Mac. » Ainsi, du fleuve Lam vers le Sud, les territoires se rallierent a la maison Mac.
Cependant, plus au Sud, la dynastie Mac perdit ensuite Thuan Hoa et Quang Nam, trop eloignees pour etre secourues. Le general Mac Lap Bao, confronte a un adversaire redoutable en la personne de Nguyen Hoang, fut vaincu et tua. Bien que Nguyen Quyen et Hoang quan cong Mac Dang Luong remportassent plusieurs victoires a Nghe An, l’eloignement geographique et l’impossibilite de recevoir des renforts depuis Dong Kinh, dans le Nord, contraignirent finalement les forces principales des Mac a se retirer. Les Mac se retrouverent de nouveau en position de faiblesse face aux armees Trinh. Les Le-Trinh purent ainsi assurer la stabilite du Sud grace a l’action de Nguyen Hoang. La maison Mac perdit definitivement le Sud et ne conserva plus que le controle de Bac Ha.
Dans les annees suivantes, Mac Kinh Dien continua encore a mener plusieurs campagnes contre Thanh Hoa, sans jamais parvenir a vaincre completement les forces Le-Trinh.
En octobre 1580, Mac Kinh Dien mourut. Mac Don Nhuong lui succeda comme regent. La dynastie Mac ne disposa plus d’aucune personnalite capable de remplacer son role, et un peu plus de dix ans plus tard, elle fut finalement vaincue par les Le-Trinh.
Descendance
Il eut neuf fils et cinq filles :
- Mac Kinh Chi, titre posthume Mac Man Tong.
- Mac Kinh Truc, titre Trung Can Cong, commandant de la garde Cam y ve.
- Mac Kinh Phu, titre Doan Luong Cong, commandant de la garde Hung quoc ve.
- Mac Kinh Gian, titre Hue Thanh Cong, commandant de la garde Chuong Vu ve.
- Mac Kinh Tuan, titre Dat Le Cong.
- Mac Kinh Cung, titre Mac Dai Tong.
- Mac Kinh Le, titre Khuong Phu Cong.
- Mac Kinh Bang.
- Mac Ngoc Bich, titre Luong quan thuong chu.
- Mac Ngoc Quan, titre Nghi quan thuong chu.
- Mac Ngoc Ti, titre An quan thuong chu.
- Mac Ngoc Diem, titre Duong quan thuong chu.
- Mac Ngoc Uyen, titre Tien quan thuong chu.
Jugements des historiens
Le Dai Viet su ky toan thu le decrit ainsi : « Kinh Dien etait un homme bienveillant, courageux et stratege, intelligent, plein de talent, vif d’esprit, connaissant la vie, ayant traverse de nombreuses epreuves dangereuses ; il etait travailleur et loyal. »
Le Dai Viet thong su de Le Quy Don note egalement : « Il traitait les fonctionnaires avec courtoisie et les soldats avec bienveillance ; ayant traverse d’innombrables perils, il demeurait assidu et fidele. A son epoque, tous s’appuyaient sur lui comme sur un pilier. Lorsqu’il mourut, le coeur du pays tout entier en fut ebranle », et ajoute encore : « Kinh Dien etait un homme bienveillant, perspicace et d’un courage remarquable. »
References
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học xã hội.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Trung
谦王莫敬典(Mac Kinh Dien,1525?—1580)
身世
莫敬典,籍贯阳京府平河县高堆乡,今属海阳省南策县南新社龙洞村。其出身于莫朝皇族,为莫登瀛(Mac Dang Doanh),即莫太宗之第三子。
幼年时,莫敬典体质羸弱,常年多病。莫太宗多次更换乳母以期改善其体质,然收效甚微。其后,恰逢大臣范琼(Pham Quynh)之妻产子,太宗召其入宫充任乳母。自此由其抚育照料,莫敬典体魄日渐康复,终至强健,与往昔判若两人。
正因这一显著转变,莫敬典终身铭记乳母之恩。及其成年掌权之后,尤为优待并重用范琼父子及范瑶(Pham Dao),视之为幼时结下的深厚恩情。
参与政事
1546年,莫宪宗(Mac Hien Tong)去世,其子莫福源(Mac Phuc Nguyen)年幼即位,是为莫宣宗(Mac Tuyen Tong)。谦王莫敬典受命出任辅政。
朝廷旋即生乱。四阳侯范子仪(Pham Tu Nghi)欲拥立弘王莫正中(Mac Chinh Trung,莫太宗之弟,已成年)即位。莫敬典坚决反对,坚持拥立嫡系莫福源。于是,范子仪联合莫正中起兵叛乱。
初期,范子仪占据优势。莫敬典与西郡公阮敬(Nguyen Kinh)率军讨伐却告失利。然而,范子仪多次进攻东京(Dong Kinh)均遭顽强抵抗,久攻不下,军力消耗严重,遂携莫正中退走安广(Yen Quang,今广宁),并频繁回扰海阳。
其后,范子仪又率军侵扰广东、广西,致使明廷难以控制并责难莫朝。不久,范子仪再携莫正中回安广,准备再攻东京。
1551年,莫敬典亲率大军平乱,设谋诱擒范子仪并斩之;莫正中逃往中国,旋即被杀。亦有说法称范子仪死于明人之手。
1550年,范子仪之乱未平,莫朝又生内变。太宰黎伯离(Le Ba Ly)权势熏灼,态度跋扈。范琼、范瑶奏请莫宣宗逮捕黎伯离,获准。
黎伯离遂与姻亲阮善(Nguyen Thien)携家属及将领阮卷(Nguyen Quyen)、阮凯康(Nguyen Khai Khang)、黎克慎(Le Khac Than)奔入清化,归附黎朝。莫朝因此元气大伤,人心震荡。
黎—郑方面,太师郑检(Trinh Kiem)乘机联合宣光将领武文密(Vu Van Mat),举兵攻莫。据《大越通史》记载,当时唯有莫敬典一心护主,护送车驾离京至金城(海阳),而自身留守指挥抗敌。
见莫朝实力尚存,人心未尽归黎,郑检不得不撤军。
局势渐稳后,莫敬典主动反攻。多年间屡率军深入清化,虽未获决定性胜利,却令黎军长期处于被动。一次遭黎将范德奇(Pham Duc Ky)重创,莫敬典被迫跳河逃生,匿身山洞三日,抱香蕉树干顺流而返。
其后,阮卷之子阮卷(Nguyen Quyen)回归莫朝,莫军士气大振,遂逐步击退黎军多次进攻。
1561年,莫宣宗去世,其子莫茂合(Mac Mau Hop)仅二岁即位。莫敬典命其幼弟莫敦让(Mac Don Nhuong)任内辅政,处理内廷事务,自身专掌外部军机。朝政实权悉归谦王莫敬典。
1570年,上将太国公郑检去世,其子郑柂(Trinh Coi)与郑松(Trinh Tung)争权。莫敬典乘机率大军攻入清化。郑柂腹背受敌,被迫降莫。莫敬典持续进攻数月,终未能击败郑松。因郑松堪称郑检之合格继承者,黎朝仍得以维持与莫朝的均势。
黎朝虽能自立,但主要仅固守清化一带。莫敬典屡攻清化未果,然率水军进攻义安时,凭借阮卷与黄郡公莫登良(Mac Dang Luong)之力,屡战屡胜。《大越史记全书》记载:“义安之民久畏莫军之势,黎官军远隔不能救应,多降莫氏。”自蓝江(Lam)以南复归莫朝。
然因地势遥远,莫朝终失顺化、广南;将领莫立豹(Mac Lap Bao)遭遇劲敌阮黄(Nguyen Hoang),战败身亡。虽阮卷与莫登良在义安多次击败黎军,但因远离东京、难以接应,莫朝主力终须撤回,复处劣势。黎—郑得阮黄之力,南方得安;莫朝尽失南部,仅据北河。
其后数年,莫敬典仍数次进攻清化,然终未能击败黎—郑联军。
1580年十月,莫敬典去世,由莫敦让继任辅政。莫朝再无可替代其地位之人,十余年后终为黎—郑所灭。
后裔
莫敬典有九子五女:
- 莫敬只(Mac Kinh Chi),号莫敏宗(Mac Man Tong)。
- 莫敬直(Mac Kinh Truc),封中谨公,锦衣卫掌卫事。
- 莫敬夫(Mac Kinh Phu),封端量公,兴国卫掌卫事。
- 莫敬简(Mac Kinh Gian),封惠成公,章武卫掌卫事。
- 莫敬遵(Mac Kinh Tuan),封达礼公。
- 莫敬恭(Mac Kinh Cung),封莫大宗(Mac Dai Tong)。
- 莫敬礼(Mac Kinh Le),封匡辅公。
- 莫敬邦(Mac Kinh Bang)。
- 莫玉碧(Mac Ngoc Bich),封良郡上主。
- 莫玉管(Mac Ngoc Quan),封宜郡上主。
- 莫玉玺(Mac Ngoc Ty),封安郡上主。
- 莫玉艳(Mac Ngoc Diem),封阳郡上主。
- 莫玉苑(Mac Ngoc Uyen),封仙郡上主。
史官评述
《大越史记全书》评曰:“敬典为人仁厚而有勇略,聪慧多智,机敏达世,历尽艰险,勤劳忠诚。”
黎贵惇(Le Quy Don)在《大越通史》中亦记:“其待官僚以礼,待士卒以恩,历经诸般险阻而仍勤劳忠诚,一时国人倚之为重。其死也,举国人心震动。”并称其“仁厚灵敏,勇敢有余”。
参考文献
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Nxb Khoa học xã hội.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.