Thân thế
Trịnh Kiểm (sinh ngày 14 tháng 9 năm 1503 – mất ngày 24 tháng 3 năm 1570), thụy hiệu Thế Tổ Minh Khang Thái vương (世祖明康太王), là một nhà chính trị và quân sự kiệt xuất của Đại Việt thời Nam – Bắc triều. Ông tôn phò các vua Lê Trung hưng nhưng thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước trong gần 30 năm.
Trịnh Kiểm xuất thân trong một gia đình nghèo ở xứ Thanh Hoa, nay thuộc vùng Biện Thượng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Theo Lịch triều hiến chương loại chí, ông là người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, thời hàn vi từng phải ăn trộm nuôi mẹ, cuộc sống bần hàn nhưng khí phách phi thường. Trịnh gia chính phả còn ghi rõ gia tộc ông có gốc từ dòng họ Trịnh Xứng, cụ cao tổ là Trịnh Kỷ, tằng tổ là Trịnh Liễu.
Cha Trịnh Kiểm là Trịnh Lâu, mẹ là Hoàng Thị Ngọc Dốc, người thôn Hổ, xã Vệ Quốc, huyện Yên Định. Bà Ngọc Dốc nổi tiếng hiền đức, tảo tần, nuôi con trong cảnh cơ cực. Chính trong nghèo khó, Kiểm hình thành bản tính cứng cỏi, quả cảm và gan dạ, luôn mưu cầu chí lớn.
Trịnh Kiểm thuở nhỏ có tên là Trịnh Phiến, sử chép rằng khi ông ra đời, ánh sáng đỏ rực chiếu khắp gian nhà, dân làng đều xem là điềm lạ. Ông là con trai thứ ba, trong gia đình có bốn trai, hai gái. Anh cả là Trịnh Trang, sau được phong tước Hậu quận công. Khi Kiểm mới sáu tuổi, cha qua đời, mẹ con lâm vào cảnh nghèo túng, phải dời về quê ngoại ở Sóc Sơn sinh sống. Ông phải đi chăn trâu thuê trong núi Lệ Sơn, nhưng sớm bộc lộ khí phách khác thường. Ông thường tập hợp trẻ chăn trâu trong làng bày trận giả, lấy bông lau làm cờ, cành cây làm gươm giáo, rèn luyện thao lược như Đinh Bộ Lĩnh thuở nhỏ. Sử thần về sau nhận định, tinh thần võ lược của ông đã hình thành ngay từ thời niên thiếu.
Bối cảnh lịch sử
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, đất nước rơi vào cảnh phân liệt. Trịnh Kiểm lúc ấy phải kiếm sống bằng nghề chăn ngựa, rồi làm gia thần cho Ninh Bang hầu, tướng nhà Mạc đóng ở vùng Biện Thượng. Ninh Bang hầu sai ông trông coi trại ruộng và chuồng ngựa ở sách Thọ Liêu. Trong thời gian này, Trịnh Kiểm kết thân với một người bạn gốc Chăm là Vũ Thì An, người dạy ông thuật huấn luyện và xem tướng ngựa. Nhờ học hỏi nhanh nhẹn, Trịnh Kiểm nhận ra một con ngựa quý trong trại của Ninh Bang hầu, bèn ăn trộm ngựa, vượt biên sang Mường Sùng (Cổ Lũng) vùng thuộc Ai Lao, nơi Nguyễn Kim đang chiêu binh phục quốc.
Năm 1533, Nguyễn Kim tìm được con trai vua Lê Chiêu Tông là Lê Ninh, lập làm vua, tức Lê Trang Tông, mở đầu thời kỳ Lê Trung Hưng và hình thành thế đối lập Nam – Bắc triều. Khi Nguyễn Kim còn đóng quân ở Mường Sùng (Ai Lao), Trịnh Kiểm tìm đến xin theo phò. Năm 1539, Trịnh Kiểm được cử sang Ai Lao đón vua Lê Trang Tông về nước. Vua thấy ông tướng mạo khôi ngô, phong làm Đại tướng quân, Dực Quận công, năm ấy ông 37 tuổi. Ông bắt đầu được giao toàn quyền chỉ huy quân đội tại Thanh Hóa, nhiều lần giao chiến và thắng quân Mạc ở Lôi Dương, góp phần củng cố lực lượng Nam triều.
Sự nghiệp
Tiếp quản quyền binh sau khi Nguyễn Kim mất (1545)
Năm 1545, trong một vụ ám sát do hàng tướng Mạc là Dương Chấp Nhất thực hiện, Nguyễn Kim bị đầu độc chết. Hai con trai Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng còn trẻ, binh quyền toàn bộ được trao vào tay Trịnh Kiểm, người khi đó đã có uy tín lớn trong quân đội.
Từ đây, Trịnh Kiểm trở thành người nắm thực quyền cao nhất trong triều Lê trung hưng, giữ chức Đô tướng tiết chế các dinh thủy bộ chư xứ kiêm Tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, hàm Thái sư, tước Lượng quốc công. Ông điều hành toàn bộ công việc trong nước, từ quân sự đến bổ nhiệm quan lại, mọi việc đều do ông quyết rồi mới tâu vua sau.
Trịnh Kiểm chính là người đặt nền móng cho mô hình “vua Lê – chúa Trịnh”, khi quyền lực thực tế nằm trong tay họ Trịnh, còn nhà vua chỉ giữ vai trò tượng trưng.
Củng cố thế lực Nam triều – xây dựng căn cứ Thanh Hóa
Từ năm 1546, Trịnh Kiểm rút quân về Thanh Hóa, lập hành điện Vạn Lại cho vua Lê Trang Tông, chiêu mộ hào kiệt, huấn luyện quân sĩ, tích trữ lương thảo, sẵn sàng đối phó nhà Mạc. Từ đây, lãnh thổ Đại Việt chia làm hai:
- Từ Thanh Hóa trở vào Nam thuộc quyền kiểm soát của nhà Lê Trung Hưng do Trịnh Kiểm thống lĩnh.
- Từ Sơn Nam trở ra Bắc là vùng của Bắc triều do nhà Mạc chiếm giữ.
Các danh sĩ, hào kiệt các xứ Hoan, Diễn, Thuận, Quảng như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Đinh Bạt Tụy, Nguyễn Khải Khang, Nguyễn Thiến, Lê Khắc Thận… đều lần lượt theo về Nam triều, làm cho cơ đồ của Trịnh Kiểm ngày càng vững mạnh.
Chính trong giai đoạn này, ông xây dựng cơ cấu quân đội vững chắc, đặt các dinh, cơ, đội theo ngạch cũ của triều Lê, chỉ lấy quân chủ yếu ở hai xứ Thanh – Nghệ, tạo nền tảng cho các cuộc chiến về sau.
Các chiến dịch lớn chống nhà Mạc (1550 – 1558)
- Chiến dịch Bắc phạt lần thứ nhất (1550 – 1552)
Sau vài năm củng cố, năm 1550, danh tướng Bắc triều là Lê Bá Ly bất mãn với họ Mạc, đem quân hơn 1 vạn người đầu hàng Trịnh Kiểm, khiến thế lực Nam triều tăng mạnh. Trịnh Kiểm nhân cơ hội, cho Lê Bá Ly và Vũ Văn Mật chia đường tiến đánh Sơn Nam – Tuyên Quang. Quân Lê-Trịnh thắng lớn, tiến vào Đông Kinh, chiếm nhiều vùng rộng lớn.
Tuy nhiên, vì lo sợ nhân tâm chưa thuận và quân Mạc còn mạnh, Trịnh Kiểm không tán thành đưa vua về kinh đô, nên chủ động rút quân về Tây Đô, giữ vững căn cứ.
- Chiến thắng Kim Sơn (1555)
Năm 1555, tướng nhà Mạc là Khiêm Vương Mạc Kính Điển đem đại quân đánh Thanh Hóa, Trịnh Kiểm lập thế mai phục tại Bạch Thạch – Kim Sơn, chia quân bố trí phục kích ở nhiều hướng. Khi quân Mạc đến, ông hạ lệnh nổ pháo hiệu, bốn mặt quân Lê-Trịnh cùng đánh, bắt sống Thọ quận công của họ Mạc và hàng chục tướng tá khác.
Đây là trận thắng lớn nhất của Nam triều thời Trịnh Kiểm, làm chấn động Bắc Hà. Quân Mạc buộc phải rút về giữ Thăng Long.
- Các trận thủy chiến Nghệ An – Thần Phù (1557 – 1558)
Mạc Kính Điển tiếp tục đem quân thủy tiến đánh miền Nam, nhưng bị Trịnh Kiểm phản công tại Tống Sơn, Nga Sơn, rồi truy kích tới tận cửa biển Thần Phù. Trong một trận giao chiến, tướng tiên phong của Nam triều là Phạm Đức Kỳ đã đích thân nhảy sang thuyền địch chém cờ hiệu của Kính Điển, khiến quân Mạc rối loạn. Kính Điển phải trốn, đại quân Mạc tan rã.
Trịnh Kiểm thừa thắng, sai Phạm Đốc dẫn thủy binh giả cờ hiệu Mạc, đánh úp quân Phạm Dao, Phạm Quỳnh ở Nghi Xuân, phá tan toàn bộ cánh quân địch.
Đây là chuỗi chiến công củng cố quyền uy quân sự của Trịnh Kiểm, khẳng định ông là vị thống soái lỗi lạc, có tài thao lược, biết dùng mưu kế và giữ thế chủ động trong chiến tranh.
Bình định miền Thuận – Quảng và việc cử Nguyễn Hoàng trấn thủ (1558)
Sau khi củng cố miền Bắc Trung Bộ, Trịnh Kiểm hướng về phương Nam, nơi hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam còn nhiều biến động. Năm 1554, ông cử quân bình định Hóa Châu, giết tướng Mạc Hoàng Bôi, thu phục hai xứ này. Sau đó, ông thu dụng nhân tài bản xứ, đặt lại trấn quan, khiến xứ này được yên.
Tuy nhiên, để củng cố hậu phương và tránh việc bị tập trung nhiều thế lực trong vùng, năm 1558, Trịnh Kiểm tâu vua Lê Anh Tông rằng nên cử Nguyễn Hoàng con trai Nguyễn Kim, cũng là em vợ ông vào trấn thủ Thuận Hóa. Ông tâu rõ rằng đây là vùng đất hiểm yếu, cần người có tài trị an, có thể làm “bức bình phong phía Nam” bảo vệ căn bản Thanh Nghệ.
Nhà vua nghe theo, phong Nguyễn Hoàng làm Trấn thủ Thuận Hóa, mở đầu cho quá trình Nam tiến của họ Nguyễn, đồng thời giúp Trịnh Kiểm yên mặt Nam để dồn lực đánh Mạc. Quyết định này về lâu dài có ý nghĩa lịch sử sâu xa: nó tạo tiền đề cho sự chia cắt Đàng Ngoài – Đàng Trong sau này.
Chính trị triều Lê – Trịnh dưới thời Trịnh Kiểm
Dưới thời Trịnh Kiểm, nhà Lê trung hưng vẫn duy trì danh nghĩa quân chủ, song quyền lực thực tế tập trung hoàn toàn trong tay ông. Sau khi vua Lê Trung Tông mất (1556) không có con nối, Trịnh Kiểm chủ động tìm người nối dõi dòng họ Lê, đón Lê Duy Bang, cháu bốn đời của Lê Trừ (anh vua Lê Thái Tổ) về tôn làm Lê Anh Tông, duy trì danh nghĩa chính thống cho triều đại.
Ông cho mở lại khoa cử (năm 1554 và 1565), bổ sung quan lại có học thức, củng cố thể chế quân đội, giữ phép tắc triều cũ. Nhờ đó, tuy đất nước còn phân tranh, song Nam triều có tổ chức chặt chẽ, trật tự ổn định và trở thành lực lượng chính thống đối trọng với họ Mạc.
Gia quyến
Cha mẹ:
- Cha của Trịnh Kiểm là Hưng Tổ Dục Đức vương Trịnh Lâu, người gốc làng Sóc Sơn, Thanh Hóa. Ông là người nhân hậu, điềm đạm, có tiếng là người đoan chính, trọng nghĩa lý.
- Mẹ của ông là Từ Tâm Thục phi Hoàng Thị Ngọc Dốc, một phụ nhân đức hạnh, có công lớn trong việc nuôi dạy và hình thành nhân cách cho Trịnh Kiểm từ thuở nhỏ.
Vợ và các bà phi:
- Chính thất của Trịnh Kiểm là Từ Phúc Chính phi Lại Thị Ngọc Trân, người làng Long Phúc, huyện Thạch Hà. Bà là con gái của Thái bảo Nhân Quận công Lại Thế Tưởng, xuất thân từ dòng họ Lại danh giá, nổi tiếng về học vấn và phẩm hạnh. Đức bà Ngọc Trân còn là cô ruột của Chính phi Lại Thị Ngọc Nhu, vợ cả của Trịnh Tùng. Nhân dân sau này quen gọi bà là Đức bà Chợ Huyện. Bà sinh người con trai trưởng là Trịnh Cối, về sau được phong tước Đạt Nghĩa công.
- Nguyên phối của Trịnh Kiểm là Trần Thị Ngọc Lĩnh, người làng Bồ Xuyên, huyện Yên Mô. Bà là người đã cùng ông kết tóc thuở hàn vi, khi ông mới 24 tuổi (năm 1526), nhưng sau này không rõ sự tích.
- Á thất gồm có hai người:
- Từ Hạnh Hiền phi Trương Thị Ngọc Lãnh, người sách Thọ Liêu, huyện Thạch Thành, con gái của Tù trưởng Sùng Quận công. Bà mất năm 1586, không có con, sau được táng tại quê nhà.
- Từ Nghi Thái phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo, người làng Gia Miêu Ngoại trang, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa, con gái của Chiêu Huân Tĩnh công Nguyễn Kim, vị khai quốc công thần của nhà Lê Trung hưng. Bà Ngọc Bảo sinh ra người con trai thứ là Trịnh Tùng, người sau này kế tục sự nghiệp, trở thành người đặt nền móng cho phủ chúa Trịnh.
- Ngoài ra, Trịnh Kiểm còn có một người thị thiếp là Chiêu Dung Lê Thị Ngọc, cháu năm đời của Quan Nội hầu Lê Lai – vị anh hùng nghĩa khí dưới thời Lê Thái Tổ. Bà là thân mẫu của Cần Nghĩa công Trịnh Ninh, con trai út của Trịnh Kiểm.
Con trai: Trịnh Kiểm có năm người con trai.
- Người con cả là Trịnh Cối (1535 – 1584), con của chính phi Lại Thị Ngọc Trân, được phong tước Đạt Nghĩa công, từng giữ trọng chức trong triều Lê Trung hưng, nhưng sau vì thế yếu mà thất bại trong cuộc tranh ngôi chúa.
- Người con thứ là Trịnh Tùng (1550 – 1623), con của Thái phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo, về sau được phong Thành Tổ Triết Vương, là người thống nhất triều chính, nắm quyền lực tối cao ở Đàng Ngoài.
- Người con thứ ba là Trịnh Đỗ (1552 – 1633), được phong Dương Nghĩa công, từng giữ chức Phụng Quốc công, sau khi mất được truy phong Thái tể, thụy Ý Thuần, Dực vận tán trị công thần.
- Người con thứ tư là Trịnh Đồng (1555 – 1629), được phong Dịch Nghĩa công, trước mang tước Vĩnh Thọ hầu, khi mất được truy phong Dương Vũ Uy Dũng Tuyên Lực Kiệt Tiết Dực Vận Tán Trì công thần. Ông không có con trai, chỉ có một người con gái tên là Ánh, lấy Lai Vu bá Đinh Văn Lai, con của Cầu Quận công Đinh Văn Giai.
- Người con út là Trịnh Ninh (1556 – 1627), được phong Cần Nghĩa công, từng mang tước Quảng Đình hầu, về sau dòng dõi còn được phong làm Lê phò mã Tham đốc, tước Hán Trung hầu Trịnh Cát, phụng thờ tiên tổ.
Con gái: Trịnh Kiểm có hai người con gái.
- Người con gái lớn là Trịnh Thị Ngọc Xuân, được phong Tiên Ngọc quận chúa, thụy là Đức Phương.
- Người con gái thứ là Trịnh Thị Ngọc Tôn, được phong Hoa Dung quận chúa, thụy là Từ Duyên.
Cuối đời
Sau gần ba thập kỷ nắm giữ đại quyền, trải qua ba triều vua Lê (Lê Trang Tông, Lê Trung Tông và Lê Anh Tông), Trịnh Kiểm khi tuổi đã cao, bệnh tình ngày một trầm trọng. Cảm thấy sức mình không còn đủ gánh vác quốc sự, ông chủ động dâng biểu xin trả lại binh quyền, lời tâu khiêm cung và thống thiết, thể hiện nhân cách của một bậc trung thần biết tiến lui đúng thời. Vua Lê cảm động, chuẩn y lời thỉnh cầu và giao cho con trưởng là Trịnh Cối, khi ấy 35 tuổi, tạm quyền chỉ huy các doanh quân để tiếp nối cơ nghiệp của cha.
Ngày 18 tháng 2 năm Canh Ngọ (tức 24 tháng 3 năm 1570, niên hiệu Chính Trị thứ 13), Trịnh Kiểm qua đời, hưởng thọ 68 tuổi. Cuộc đời ông khởi đầu trong nghèo khó, trải muôn vàn hiểm nguy, nhưng kết thúc trong vinh hiển và trọng vọng. Từ một người chăn trâu nơi thôn dã, ông đã vươn lên trở thành Thái tể phụ quốc công thần, người gây dựng nền móng cho nhà Lê Trung Hưng, lập nên cơ nghiệp họ Trịnh.
Sau khi mất, ông được triều đình truy tôn miếu hiệu là Thế Tổ (世祖), thụy hiệu cực kỳ tôn quý, dài 232 chữ, hiếm có trong lịch sử Việt Nam. Toàn văn thụy hiệu tán tụng công lao, đức hạnh, trí dũng và tài mưu của ông, mở đầu bằng những mỹ tự: “Minh Khang Nhân Trí, Vũ chinh hùng lược, Hiển đức phong công, Khải nghiệp hoành mô…” Về sau, người đời thường gọi ngắn gọn là Minh Khang Thái Vương (明康太王), hiệu Trung Huân (忠勳). Việc an táng được cử hành trọng thể, theo nghi lễ bậc công thần khai quốc, mô phỏng theo Chu công Đán của Trung Hoa cổ đại – biểu tượng của trung hiếu và trí trị.
Sau ông, Trịnh Cối tuy được kế quyền nhưng do thiếu uy tín, sớm bị mất lòng tướng sĩ. Người em thứ là Trịnh Tùng nắm lấy thời cơ, tập hợp quân sĩ, thay anh gánh vác trọng trách, tiếp tục đại nghiệp phò Lê diệt Mạc. Chính Trịnh Tùng sau này hoàn thành sứ mệnh mà cha khởi dựng – tiêu diệt nhà Mạc, đưa vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long, đặt nền móng vững chắc cho thể chế vua Lê – chúa Trịnh.
Sau khi an táng, mộ phần của Trịnh Kiểm được đặt tại quê hương Sóc Sơn, Thanh Hóa, phía sau là phủ thờ Thái Vương, nơi hương khói quanh năm. Các đời chúa Trịnh về sau đều kính cẩn phụng thờ, định kỳ tổ chức tế lễ trọng thể, coi ông là Thái tổ khai quốc của phủ Chúa, người khởi dựng cơ đồ, mở vận hưng long cho dòng tộc.
Dân gian xứ Thanh truyền tụng rằng, mỗi khi đất nước gặp biến, đền thờ Trịnh Kiểm thường hiện điềm lành, khói hương tự nhiên tỏa sáng như để nhắc con cháu nhớ về công đức của vị anh hùng khai nghiệp, người đã từ gian khó mà dựng nên một triều đại hùng mạnh, làm rạng danh dòng họ và để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Đại Việt.
Nhận định – đánh giá
Trịnh Kiểm (1503 – 1570) là một trong những nhân vật chính trị – quân sự kiệt xuất của thế kỷ XVI, người mở đầu cơ nghiệp của dòng họ Trịnh, đồng thời là nhân vật giữ vai trò bản lề trong tiến trình trung hưng nhà Lê sau thời kỳ suy vi vì loạn Mạc. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là sự giao thoa giữa tài năng chính trị, bản lĩnh cứng cỏi và giới hạn của một con người nắm quyền trong thời loạn.
Ngay từ khi theo Nguyễn Kim phò vua Lê Trang Tông, Trịnh Kiểm đã thể hiện tầm nhìn và khả năng thao lược hiếm có. Ông nhanh chóng trở thành nhân vật then chốt trong bộ chỉ huy nghĩa quân Lê – Nguyễn, được Nguyễn Kim gả con gái và giao phó binh quyền, thể hiện sự tín nhiệm tuyệt đối. Sau khi Nguyễn Kim qua đời, Trịnh Kiểm khéo léo tiếp nhận toàn bộ quyền lực, trở thành người lãnh đạo thực tế của triều Lê trung hưng. Công lao của ông được chính triều Lê ghi nhận, năm 1594, vua Lê Thế Tông truy phong ông là Minh Khang Nhân Trí Vũ Trinh Hùng Lược Thái Vương, ví công đức của ông với các danh tướng nhà Đường như Lý Thạnh và Quách Tử Nghi.
Các học giả thời sau cũng dành cho Trịnh Kiểm sự kính phục, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí nhìn nhận rằng công cuộc trung hưng nhà Lê tuy lấy danh nghĩa vua Lê Trang Tông, song thực chất bắt đầu từ bàn tay và trí lược của Trịnh Kiểm. Chính nhờ ông mà thế lực nhà Lê được củng cố, mở rộng lãnh thổ về Ái Châu, Hoan Châu, dựng hành điện ở Vạn Lại, quy tụ nhân tài khắp nơi, đặt nền móng vững chắc cho thời kỳ trung hưng kéo dài hơn hai thế kỷ.
Phạm Đình Hải sau này cũng đánh giá rằng Trịnh Kiểm là “người một tay gây dựng nền móng cơ nghiệp chúa Trịnh”, song vẫn giữ được khuôn phép chính trị, không phế vua, không xưng đế. Điều đó cho thấy bản lĩnh chính trị và thái độ tiết chế quyền lực của ông, đây là điều hiếm thấy ở người nắm trọn binh quyền trong thời loạn. Chính sự cân bằng này giúp duy trì thể chế “vua Lê – chúa Trịnh” ổn định trong suốt hai trăm năm sau.
Từ góc độ lịch sử dân tộc, Trịnh Kiểm đã tạo thế ổn định ban đầu để đất nước không bị phân rã hoàn toàn trong thế kỷ XVI đầy biến động. Tuy nhiên, Trịnh Kiểm cũng là con người của vô số những mâu thuẫn. Ông xuất thân nghèo khó, từng trải qua tuổi thơ chăn trâu, thậm chí có thời gian phạm tội trộm cắp. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn nhận xét rằng hành động ấy không chỉ vì nghèo, mà vì “tính bất kham, táo bạo, không chịu khuất phục”. Cũng chính phẩm chất táo bạo đó, khi được đặt vào bối cảnh chiến tranh, lại trở thành yếu tố giúp ông vươn lên, trở thành người được Nguyễn Kim trọng dụng. Tuy nhiên, các sử quan triều Nguyễn trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục lại phê phán Trịnh Kiểm là người “có ý chuyên quyền lấn át vua”, mở đầu cho truyền thống chính trị mà con cháu ông sau này tiếp nối, khiến vua Lê dần chỉ còn là hư vị. Vua Tự Đức thậm chí làm thơ mỉa mai về thời niên thiếu của Trịnh Kiểm, coi hành vi trộm cắp là biểu hiện sớm của bản tính giành đoạt và chiếm đoạt quyền hành. Đáng chú ý hơn, Hoàng Xuân Hãn còn chỉ ra mặt trái của di sản mà Trịnh Kiểm để lại: “Cái nghị lực kiên cường ấy đã đánh bại quan điểm trung quân truyền thống, mở đầu cho thời kỳ bầy tôi nắm quyền, gây nên hai cuộc nội chiến Trịnh – Mạc và Trịnh – Nguyễn.” Theo ông, nghị lực và mưu lược của Trịnh Kiểm tuy góp phần duy trì cơ đồ nhà Lê, song cũng kéo dài cảnh phân tranh và nội chiến hàng trăm năm, khiến dân tình điêu tàn, đất nước bị chia cắt.
Nhìn tổng thể, Trịnh Kiểm là nhân vật mang hai mặt: vừa là công thần trung hưng, vừa là người mở đầu cho thể chế quyền thần thao túng triều chính. Ông có tài thao lược, dám hành động, kiên định, song cũng khôn ngoan và thực dụng. Trong hoàn cảnh lịch sử rối ren, ông chọn con đường phù hợp nhất để giữ được cơ nghiệp nhà Lê, song hành động ấy đồng thời đặt nền tảng cho mô hình “vua tượng trưng – chúa nắm quyền” đầy nghịch lý.
Tài liệu tham khảo
- Đào Duy Anh (2007), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nxb Văn hóa Thông tin
- Alexandre de Rhodes (1994), Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Ủy ban đoàn kết Công giáo TP.HCM
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Ngô Thì Sĩ (1991), Việt sử tiêu án, Nxb Văn Sử.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
- Viện sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, Quyển tập 4, Nxb Khoa học xã hội.
- Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội
- Nhiều tác giả (2021), Những vấn đề lịch sử thời Trịnh Nguyễn, Nxb Hồng Đức.
- Hoàng Xuân Hãn (1966), Gốc Tích Các Chúa Trịnh Và Bức Thư Nôm Của Trịnh Kiểm (trích Tập san sử địa số 3), Tập sách Khai Trí