Thân thế
Lê Trang Tông (chữ Hán: 黎莊宗, 1515 – 1548), húy là Lê Ninh (黎寧), là con trai duy nhất của vua Lê Chiêu Tông, vị hoàng đế thứ 10 của triều Hậu Lê và ngự nữ Phạm Thị Ngọc Quỳnh, người sách Cao Trĩ, huyện Thụy Nguyên, trấn Thanh Hóa. Ông là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Lê trung hưng, có vai trò khởi đầu công cuộc phục hưng vương triều Lê sau khi bị nhà Mạc cướp ngôi. Trong dân gian ông được biết đến với cái danh là “Chúa Chổm”. Cuối thời Lê sơ, vua Lê Chiêu Tông bị quyền thần Mạc Đăng Dung truy đuổi, buộc phải ẩn náu khắp nơi, có thời gian trú ngụ tại điện Thuần Mỹ, làng Mỹ Xá, nay thuộc thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Trong hoàn cảnh sống vô cùng khổ cực, quanh vua chỉ còn duy nhất một ngự nữ trung thành là Phạm Thị Ngọc Quỳnh ở bên chăm sóc. Lúc ấy, vua và ngự nữ từng khấn rằng:
“Nếu lòng trời còn trông về họ Lê, xin cho được giọt máu truyền đời, trước lo phụng thờ tông miếu, cùng trăm quan lo việc trung hưng.”
Lời khấn ấy được cho là cảm động đến Trời cao, và ngự nữ Ngọc Quỳnh đã mang thai, sinh ra hoàng tử Lê Ninh giữ mạch sống cho dòng dõi nhà Lê.
Sau khi Lê Cung Hoàng, em trai của Lê Chiêu Tông bị Mạc Đăng Dung phế truất và sát hại năm 1527, dòng chính nhà Lê tưởng chừng như bị tận diệt. Tuy nhiên, nhờ sự trung thành và mưu trí của quan đại thần Lê Quán, Lê Ninh được bí mật đưa sang Ai Lao (Lào) lánh nạn, tránh khỏi bàn tay truy sát của nhà Mạc.
Bối cảnh lịch sử
Cuối năm 1526, Mạc Đăng Dung bắt đầu nghi ngờ vua Lê Chiêu Tông, liền sai quân đến sát hại ông. Biết chuyện chẳng lành, Chiêu Tông gói ghém ít tư trang còn lại, rồi bảo ngự nữ Phạm Thị Ngọc Quỳnh nhân đêm tối dẫn con trai là Lê Ninh trốn đi. Quân Mạc đuổi theo ráo riết để truy bắt mẹ con bà. Trong lúc bị truy sát gắt gao, Ngọc Quỳnh phải ôm con nhảy vào bụi rậm. Quân lính nhà Mạc thấy cành lá gãy liền sinh nghi, dùng giáo đâm vào giữa bụi. Ngọc Quỳnh lấy thân mình che cho con. May thay, đúng lúc đó có một con cáo lớn nhảy ra, quân Mạc tưởng mình đâm nhầm tổ cáo nên bỏ đi. Ngọc Quỳnh sau đó dùng khăn băng bó vết thương, rồi cứ đêm chạy ngày trốn, lần về quê ngoại ở sách Cao Trĩ, châu Ngọc Lặc, trấn Thanh Hóa. Nhà Mạc không dừng lại, tiếp tục truy tìm đến tận quê ngoại, buộc Ngọc Quỳnh phải dắt con chạy ra phường Thọ Xuân để tránh sự lùng bắt của quân địch.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung chính thức soán ngôi nhà Lê, lập ra triều đại nhà Mạc. Lê Cung Hoàng và Hoàng thái hậu bị ép phải tự sát. Trước khi chết, Thái hậu khấn rằng: “Đăng Dung là kẻ bề tôi, manh tâm cướp ngôi, lại giết mẹ con ta, ngày sau con cháu nó cũng lại bị như thế.” Sau đó, bà cùng Lê Cung Hoàng treo cổ tự vẫn.
Thời điểm đó, rất nhiều đại thần trung thành với nhà Lê đã phản kháng quyết liệt, trong số đó có Lại bộ Thượng thư Vũ Duệ, Ngô Hoán; Đô ngự sử Nguyễn Văn Vận; Hàn lâm Hiệu lý Nguyễn Thái Bạt; Lễ bộ Thượng thư Lê Tuấn Mậu; Lại bộ Thượng thư Đàm Thận Huy; Tham chính sứ Nguyễn Duy Tường; Quan sát sứ Nguyễn Tự Cường; Bình Hồ bá Nghiêm Bá Ký; Đô ngự sử Lại Kim Bảng; Hộ bộ Thượng thư Nguyễn Thiệu Tri; Phó Đô ngự sử Nguyễn Hữu Nghiêm; Lễ bộ Tả Thị lang Lê Vô Cương… Nhiều người đã nhổ vào mặt, chửi mắng, ném nghiên mực vào Mạc Đăng Dung, hoặc tự sát, nhảy sông, hoặc vái lạy về Lam Sơn rồi quyên sinh. Tất cả đều là những trung thần bất khuất, quyết không khuất phục trước quyền thần tiếm ngôi.
Trong lúc đó, mẹ con Lê Ninh được đại thần Lê Quán cõng chạy trốn sang Ai Lao để giữ lấy dòng máu hoàng tộc nhà Lê, tránh bị nhà Mạc tận diệt hoàn toàn.
Năm 1533, một số cựu thần trung thành với nhà Hậu Lê như Nguyễn Kim, Lại Thế Vinh, Trịnh Kiểm, Trịnh Công Năng đã đứng lên phát động lực lượng, quyết tâm khôi phục nhà Lê. Họ tiến vào Thanh Hóa, lập căn cứ và cho người sang Ai Lao đón Lê Ninh về, tôn lập làm vua, tức Lê Trang Tông, mở đầu cho thời kỳ Lê Trung hưng. Từ đó, cuộc chiến chống nhà Mạc bước vào giai đoạn mới với thế chia đôi đất nước giữa Nam triều (nhà Lê) và Bắc triều (nhà Mạc).
Riêng về bà Phạm Thị Ngọc Quỳnh, thân mẫu của Trang Tông, sử sách không ghi rõ bà mất ở đâu, vào thời điểm nào. Chỉ biết rằng bà mất trước khi Trang Tông lên ngôi, và sau đó được truy tôn là Hoàng thái hậu.
Một số tư liệu lịch sử cũng đặt nghi vấn về thân thế thật sự của Lê Trang Tông. Theo ghi chép, ông là con của vua Lê Chiêu Tông, sinh năm 1515. Tuy nhiên, vì Chiêu Tông sinh năm 1506 nên khoảng cách tuổi giữa hai người chỉ có 9 năm, điều này gây tranh luận trong giới nghiên cứu. Mặt khác, trong văn thư gửi nhà Minh, triều Mạc từng biện hộ cho hành động tiếm ngôi bằng cách nói rằng Nguyễn Kim đã đưa con trai mình lên làm vua, rồi bịa ra chuyện đó là con ruột của Chiêu Tông. Tuy nhiên, những chi tiết từ dân gian và thần tích địa phương lại cho thấy bà Ngọc Quỳnh mang thai Lê Ninh trong lúc cùng vua Chiêu Tông lánh nạn tại làng Mỹ Xá, khiến nhiều người tin rằng Lê Ninh thực sự là hậu duệ nhà Lê.
Sự nghiệp trị quốc
Nối lại cơ nghiệp nhà Lê, dựa vào Nguyễn Kim và Ai Lao
Sau khi được các trung thần phò tá lập làm vua năm 1533 tại Ai Lao, Lê Trang Tông chính thức khôi phục triều Hậu Lê, mở đầu cho thời kỳ Lê trung hưng. Vừa lên ngôi, ông đã bàn luận công lao phò tá, lập Nguyễn Kim, người có vai trò trung tâm trong việc gây dựng lực lượng, làm Thượng phụ, Thái sư Hưng quốc công, nắm giữ toàn bộ binh quyền. Bên cạnh đó, các công thần khác như Đinh Công được phong Thiếu úy Hùng quốc công, cùng nhiều tướng tá khác được phong thưởng theo công trạng.
Trong giai đoạn đầu, Trang Tông dựa vào sự ủng hộ của vua Sạ Đẩu (Phothisarath) nước Ai Lao để chiêu mộ binh sĩ, trưng lương thực và tập hợp lực lượng kháng chiến chống lại triều Mạc đang cầm quyền tại Thăng Long. Chính nhờ sự hậu thuẫn mạnh mẽ cả trong và ngoài nước mà triều đình Lê Trung hưng dần có được thế lực đáng kể ở miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An.
Đại Việt Sử ký Toàn thư đã nhận xét:
“Vua gặp vận gian truân, nhờ được bề tôi cũ tôn lập, bên ngoài kết giao nước láng giềng, bên trong dùng được tướng giỏi, cho nên người người đều vui lòng làm việc, nền móng trung hưng bắt đầu từ đấy.”
Cầu viện nhà Minh
Để tranh thủ sự ủng hộ của nhà Minh và gây sức ép lên họ Mạc, năm 1533, Lê Trang Tông cử Trịnh Duy Liêu vượt biển từ Chiêm Thành sang Quảng Đông, tìm đường đến Yên Kinh để dâng biểu lên Gia Tĩnh Đế, tố cáo hành vi tiếm ngôi của Mạc Đăng Dung và xin phát binh. Trịnh Duy Liêu mãi đến năm 1537 mới đến nơi, viết thư trình bày dài dòng, tự ví mình như Thân Bao Tư và Trương Tử Phòng để thể hiện lòng trung thành và chí khí.
Trong thời gian chờ đợi Trịnh Duy Liêu, năm 1536, Trang Tông tiếp tục sai Trịnh Viên sang nhà Minh lần nữa để đẩy mạnh việc xin viện binh. Các đại thần nhà Minh sau khi xem xét tình hình đều chủ trương thảo phạt họ Mạc. Đến tháng 2 âm lịch năm 1537, Gia Tĩnh Đế ra lệnh cho Cừu Loan và Mao Bá Ôn đem quân tiến sát biên giới Đại Việt.
Trước áp lực quá lớn, tháng 10 năm 1540, Mạc Đăng Dung phải thân chinh đến ải Nam Quan, tự trói mình và hơn 40 quan lại, dâng biểu xin hàng, nộp sáu động thuộc châu Vĩnh An về Khâm Châu (Trung Quốc) để giữ lấy sự công nhận của nhà Minh.
Mở rộng lực lượng – đánh chiếm Thanh Nghệ
Sau khi nhà Minh công nhận nhà Mạc cai trị, triều đình Lê Trung hưng vẫn tiếp tục củng cố lực lượng. Mùa xuân năm 1542, Trang Tông đích thân xuất quân đánh chiếm Thanh Hoa. Quận Thụy Hà Thọ Tường được cử làm Ngự doanh đề thống. Nguyễn Kim dẫn đại quân tấn công vùng Thanh – Nghệ, được nhiều người hưởng ứng, khí thế rất lẫy lừng.
Năm 1543, quân Lê tiến từ thành Tây Đô, đánh bại lực lượng của Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất, buộc ông phải đầu hàng. Trang Tông sai Trịnh Công Năng mang chiếu thư mời Nguyễn Kim về nước. Nguyễn Kim được phong làm Thái tể, Đô tướng tiết chế các doanh binh, liên tục thắng lợi ở vùng phía tây nam. Trịnh Công Năng về sau làm phản, liền bị Trịnh Kiểm lúc này là Dực quốc công đem quân đánh và tiêu diệt.
Thế lực họ Trịnh hình thành
Năm 1539, Trang Tông chính thức dùng con rể của Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm làm Dực quốc công, cùng Trịnh Công Năng, Lại Thế Vinh liên tục tổ chức các đợt tiến công chống họ Mạc. Quân Lê giành thắng lợi lớn tại Lôi Dương.
Tháng 4 âm lịch năm 1545, trong lúc kéo quân đến Yên Mô, Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc giết chết. Trang Tông truy phong Nguyễn Kim là Chiêu Huân Tĩnh công, thụy Trung Hiến; đồng thời cất nhắc con ông là Nguyễn Uông làm Lãng quận công, Nguyễn Hoàng làm Hạ Khê hầu.
Đặc biệt, mùa thu năm 1545, vua trao toàn quyền quân sự cho Trịnh Kiểm: phong làm Đô tướng tiết chế quân thủy bộ, Tổng nội ngoại Bình chương quân quốc trọng sự, Thái sư, tước Lạng quốc công. Kể từ đây, mọi việc triều chính đều do Trịnh Kiểm quyết đoán trước rồi mới tâu vua sau, đặt nền móng cho quyền lực của họ Trịnh trong chính trường Lê – Trịnh về sau.
Theo đề nghị của Trịnh Kiểm, đầu năm 1546, vua Lê Trang Tông cho lập hành điện tại sách Vạn Lại hiểm trở, dễ thủ khó công làm căn cứ lâu dài.
Gia quyến
Thân phụ: Lê Chiêu Tông
Thân mẫu: Gia Khánh Thần Hoàng hậu Phạm Thị Ngọc Quỳnh
Phối ngẫu: Trinh Thục Dụ Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Cửu
Con cái: Lê Huyên (Trung Tông Vũ Hoàng đế)
Cuối đời – thờ phụng
Sau hơn 15 năm chèo chống phục quốc trong cảnh đất nước phân li, vua Lê Trang Tông qua đời vào ngày 9 tháng 3 năm 1548, khi mới 34 tuổi. Cái chết của ông diễn ra trong bối cảnh chiến sự giữa hai thế lực Lê – Mạc vẫn còn dang dở, thế nước chưa ổn định. Tuy nhiên, với công lao lớn trong việc tái lập triều Lê và đặt nền móng cho giai đoạn Lê trung hưng, cái chết của ông để lại niềm tiếc thương lớn trong hàng ngũ trung thần cũng như hậu thế.
Sau khi ông mất, quyền thần Trịnh Kiểm nắm thực quyền trong triều lập Thái tử Lê Huyên lên kế vị, tức vua Lê Trung Tông. Việc nối ngôi được tiến hành suôn sẻ, không có biến động lớn, cho thấy sự ổn định tương đối về chính trị trong nội bộ triều đình Lê Trung hưng thời kỳ đầu.
Thi hài vua Trang Tông được an táng tại Cảnh lăng (景陵), ở phía nam Lam Sơn, quê hương tổ tiên của dòng họ Lê. Đây là vùng đất thiêng, gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Lê Thái Tổ (Lê Lợi) vị vua khai sáng triều Hậu Lê. Việc chọn Lam Sơn làm nơi yên nghỉ cho Lê Trang Tông mang nhiều ý nghĩa biểu tượng: không chỉ thể hiện sự trở về với cội nguồn, mà còn là cách khẳng định chính thống và tiếp nối chí hướng của các bậc tiên đế.
Từ đó về sau, Cảnh lăng trở thành nơi thờ phụng vị vua trung hưng đầu tiên của nhà Hậu Lê, được các đời sau kính ngưỡng. Trong hệ thống miếu thờ hoàng tộc Lê Trung hưng, vua Trang Tông được truy tôn đầy đủ với miếu hiệu và lễ nghi, xếp vào hàng các vị hoàng đế có công với xã tắc. Tấm gương về lòng kiên định, nghị lực vững vàng trong hoàn cảnh đất nước loạn ly của ông được các sử thần nhắc đến với sự trân trọng, ghi nhận như một bước chuyển lớn của lịch sử Đại Việt thế kỷ XVI.
Nhận định – đánh giá
Vua Lê Trang Tông là vị hoàng đế đầu tiên của triều Lê Trung hưng, người có công lớn trong việc khôi phục lại triều Lê sau thời kỳ suy vong bởi biến loạn cuối thế kỷ XV và sự tiếm ngôi của nhà Mạc năm 1527. Trong bối cảnh đất nước rơi vào cảnh phân tranh, quyền lực nhà Lê gần như bị xóa sổ, thì sự xuất hiện và lên ngôi của Lê Trang Tông đã trở thành biểu tượng cho tinh thần phục quốc, là mốc mở đầu cho hơn 250 năm tồn tại tiếp theo của triều Hậu Lê dưới thời Lê Trung hưng.
Sử gia Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí đã đánh giá rất cao vai trò và công lao của ông:
“Vua lấy trại Sầm Hạ làm nơi hành tại, phong Chiêu Huân công (Nguyễn Kim) làm Thái sư Hưng quốc công, lưu lại Phụ chính; đi lại các động người Man, khoảng gần mười năm, dọn dẹp cỏ rậm lập nên triều đình, thế nước lại nổi lên… cơ nghiệp Trung hưng thực sự bắt đầu từ đây.”
Qua lời nhận xét này, có thể thấy rằng sử gia Phan Huy Chú không chỉ ghi nhận Lê Trang Tông như một ông vua trên danh nghĩa, mà còn xem ông là người khai mở thực sự cho thời kỳ phục hưng của triều Lê. Dù bản thân không trực tiếp cầm quân đánh dẹp nhiều như Nguyễn Kim hay Trịnh Kiểm, nhưng chính nhờ danh nghĩa của ông mà các trung thần nhà Lê quy tụ, tập hợp lực lượng kháng Mạc, tạo thành thế chân vạc Nam – Bắc triều suốt gần 60 năm sau đó.
Trong vai trò là ngọn cờ chính thống, Lê Trang Tông đã thể hiện bản lĩnh vững vàng giữa những biến động chính trị, khéo léo kết nối với ngoại bang như Ai Lao, liên kết với các danh tướng trung thần như Nguyễn Kim, Lại Thế Vinh, Trịnh Kiểm… tạo dựng triều đình mới tại Thanh – Nghệ. Trong hoàn cảnh loạn lạc, khi việc phục quốc đầy gian nan, bản thân ông vẫn giữ được địa vị quốc chủ và duy trì uy tín trong nội bộ, từ đó giúp nhà Lê từng bước khôi phục ảnh hưởng và danh nghĩa chính thống.
Dù qua đời khi sự nghiệp mới ở buổi đầu, chỉ hưởng dương 34 tuổi, nhưng Lê Trang Tông để lại một di sản to lớn: đó là sự tái lập của nhà Hậu Lê, là khuôn mẫu để các vị vua Lê sau tiếp tục duy trì nền chính thống, giữ lấy danh nghĩa quốc thống để bảo vệ đất nước trong các thế kỷ sau.
Vì thế, có thể nói: Lê Trang Tông là người đặt nền móng cho cơ nghiệp Trung hưng, không chỉ bằng ngôi vị mà còn bằng nghị lực, bản lĩnh, và tấm gương cho lòng trung quân, ái quốc được lịch sử và hậu thế tôn trọng, ghi công.
Tài liệu tham khảo
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
____________________
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Background
Le Trang Tong (Chinese: 黎莊宗; 1515–1548), personal name Le Ninh (黎寧), was the only son of Emperor Le Chieu Tong (the 10th ruler of the Later Le) and the imperial lady Pham Thi Ngoc Quynh from Cao Tri hamlet, Thuy Nguyen district, Thanh Hoa. He was the first emperor of the Restored Later Le (Le Trung Hung) and ignited the revival of the Le dynasty after the Mac usurpation. In folklore he is known as “Chua Chom” (often rendered “Lord Chom”).
At the end of the Early Le, Emperor Le Chieu Tong, hunted by the power-broker Mac Dang Dung, was forced to hide in many places, at one point staying at Thuan My Hall in My Xa village (today Hưng Nhân township, Hưng Hà district, Thai Binh). In extreme hardship, only one faithful imperial lady—Pham Thi Ngoc Quynh—remained to care for him. At that time, the king and the lady vowed:
“If Heaven still looks kindly on the House of Le, grant us a bloodline to be continued, that first the ancestral temples may be served, and with the hundred officials we may undertake the work of restoration.”
Moved by this prayer, it is said, Lady Ngoc Quynh conceived and bore Prince Le Ninh, preserving the bloodline of the Le.
After Le Cung Hoang—younger brother of Le Chieu Tong—was deposed and killed by Mac Dang Dung in 1527, the Le main line seemed extinguished. Thanks to the loyalty and resourcefulness of the grandee Le Quan, however, Le Ninh was secretly spirited away to Ai Lao (Laos), beyond the Mac’s reach.
Historical context
In late 1526, sensing danger, Mac Dang Dung sent troops to assassinate Le Chieu Tong. Realizing disaster was imminent, the emperor hastily packed what little remained and told Lady Pham Thi Ngoc Quynh to steal away by night with their son Le Ninh. Mac soldiers pursued relentlessly. While being hunted, Ngoc Quynh clutched the child and leapt into thick brush. Seeing broken branches, the soldiers jabbed their spears into the thicket. Ngoc Quynh shielded her son with her own body. At that moment a large fox sprang out; the soldiers thought they had only pierced a fox’s den and withdrew. Ngoc Quynh bandaged her wounds with a scarf and, traveling by night and hiding by day, made her way to her mother’s kin in Cao Tri, Ngoc Lac prefecture, Thanh Hoa. The Mac continued to search; she moved again to Tho Xuan ward to escape.
In 1527, Mac Dang Dung officially usurped the Le throne and founded the Mac dynasty. Le Cung Hoang and the Empress Dowager were forced to commit suicide. Before dying, the Empress Dowager prayed: “Dang Dung is but a minister who dared usurp the throne and now kills mother and child; in time, his descendants will meet the same fate.” She and Le Cung Hoang then hanged themselves.
Many loyal officials of the Le mounted fierce resistance—among them Vu Due (Minister of Personnel), Ngo Hoan; Nguyen Van Van (Chief Censor); Nguyen Thai Bat (Hanlin Editor); Le Tuan Mau (Minister of Rites); Dam Than Huy (Minister of Personnel); Nguyen Duy Tuong (Vice Governor); Nguyen Tu Cuong (Inspector); Marquis Binh Ho Nghiem Ba Ky; Chief Censor Lai Kim Bang; Nguyen Thieu Tri (Minister of Revenue); Nguyen Huu Nghiem (Deputy Chief Censor); Le Vo Cuong (Vice Minister of Rites). Some spat in Mac Dang Dung’s face, cursed him, or hurled inkstones; others leapt into rivers; some bowed toward Lam Son and then took their own lives—unyielding loyalists who would not submit to a usurper.
Amid this turmoil, Lady Ngoc Quynh and Le Ninh were carried on the back of Le Quan into Ai Lao, preserving the Le royal bloodline.
In 1533, former Le loyalists such as Nguyen Kim, Lai The Vinh, Trinh Kiem, and Trinh Cong Nang rallied forces to restore the Le. Establishing a base in Thanh Hoa, they sent envoys to Ai Lao to bring back Le Ninh, enthroning him as Le Trang Tong—the beginning of the Restored Later Le. From this point the anti-Mac war entered a new phase: the land split into Southern Court (Le) and Northern Court (Mac).
As for Lady Pham Thi Ngoc Quynh, the king’s mother, the chronicles do not record where or when she died—only that she passed away before Trang Tong’s accession and was posthumously honored as Empress Dowager.
Some sources question Le Trang Tong’s parentage. He is recorded as Le Chieu Tong’s son, born 1515; since Chieu Tong was born 1506, their mere 9-year age gap has prompted debate. In memorials to the Ming, the Mac justified their usurpation by alleging that Nguyen Kim enthroned his own son, falsely claiming him as Chieu Tong’s child. Yet local lore and temple records say Ngoc Quynh conceived Le Ninh while in hiding with Chieu Tong at My Xa, leading many to accept Le Ninh as a true Le heir.
Reign
Re-establishing the Le, relying on Nguyen Kim and Ai Lao
Enthroned in 1533 in Ai Lao with loyalist support, Le Trang Tong formally restored the Later Le, inaugurating the Trung Hung (Restoration). At once he rewarded merit: Nguyen Kim, the linchpin of the movement, was made Grand Preceptor, Duke of Hung State, holder of overall military command. Others—such as Dinh Cong, created Lesser Guardian, Duke of Hung State—received ranks according to service.
In the early phase, Trang Tong leaned on King Sa Dau (Photisarath) of Lan Xang (Ai Lao) for troops and supplies, building an anti-Mac force in western Thanh Hoa and Nghe An. With strong backing at home and abroad, the Restoration court gained real strength in these regions.
Dai Viet Su Ky Toan Thu observes:
“The king met adversity; raised up by old ministers, allied with neighbors abroad and employed able generals within. Thus men gladly labored, and the foundations of the Restoration began.”
Appealing to the Ming
To win Ming support and pressure the Mac, in 1533 Trang Tong sent Trinh Duy Lieu by sea from Champa to Guangdong, thence to Yanjing to petition the Jiajing Emperor, denouncing Mac Dang Dung’s usurpation and requesting intervention. Not until 1537 did Trinh Duy Lieu arrive, submitting a long memorial likening himself to Shen Baosi and Zhang Zifang to profess loyalty.
While awaiting him, in 1536 Trang Tong also dispatched Trinh Vien to the Ming. After deliberation, Ming officials favored a punitive expedition. In the 2nd lunar month, 1537, Jiajing ordered Qiu Ruan and Mao Bao to move troops to the Dai Viet frontier.
Under heavy pressure, in the 10th lunar month, 1540, Mac Dang Dung went in person to Nam Quan Pass, bound himself together with over forty officials, submitted, and ceded six sub-districts of Vinh An to Qinzhou (China) to secure Ming recognition.
Expanding the Restoration—retaking Thanh–Nghe
Even after Ming recognition of the Mac, the Restoration court kept consolidating. In spring 1542, Trang Tong personally campaigned to retake Thanh Hoa. Shuihe Marquis Tho Tuong served as Commander of the Royal Camp. Nguyen Kim drove deep into Thanh–Nghe, winning broad support and great momentum.
In 1543, Le forces advanced from Tay Do (Western Capital), defeated Trung Hau Marquis Duong Chap Nhat, and compelled his surrender. Trang Tong sent Trinh Cong Nang with an edict inviting Nguyen Kim home; Kim was made Grand Minister (Thai te) and Generalissimo, winning repeatedly in the southwest. Trinh Cong Nang later rebelled and was eliminated by Trinh Kiem, then Duke of Duc State.
The rise of the Trinh power
In 1539, Trang Tong formally employed Trinh Kiem—Nguyen Kim’s son-in-law—as Duke of Duc State, and, together with Trinh Cong Nang and Lai The Vinh, launched continuous offensives against the Mac, winning a major victory at Loi Duong.
In the 4th lunar month, 1545, while advancing toward Yen Mo, Nguyen Kim was poisoned by Duong Chap Nhat and died. Trang Tong posthumously titled him Duke Chieu Huan Tinh, with the style Trung Hien; he elevated Kim’s sons Nguyen Uong (Marquis of Lang) and Nguyen Hoang (Lord of Ha Khe).
Crucially, in autumn 1545, the king entrusted overall military command to Trinh Kiem: Generalissimo of land and naval forces, Chief Councillor for Military and State Affairs, Grand Preceptor, Duke of Lang State. Thereafter, all affairs were decided by Trinh Kiem first and only then reported to the king—laying the foundation for Trinh power in the later Le–Trinh polity.
At Trinh Kiem’s urging, early 1546 the king established a mobile court at Van Lai hamlet, a naturally defensible stronghold.
Family
Father: Emperor Le Chieu Tong
Mother: Gia Khanh Shen Empress Dowager Pham Thi Ngoc Quynh
Consort: Trinh Thuc Du Empress Trinh Thi Ngoc Cuu
Issue: Le Huyen (Emperor Trung Tong Vu Hoang De)
Later years and veneration
After more than 15 years steering a restoration amid civil division, Le Trang Tong died on 9 March 1548, aged 34. He passed away while the Le–Mac war still raged and the realm remained unsettled. Owing to his decisive role in re-establishing the Le and laying the Restoration’s foundations, his death was deeply mourned by loyal officials and later generations.
After his death, the powerful Trinh Kiem smoothly enthroned the Crown Prince Le Huyen as Le Trung Tong, with no major disturbances—evidence of early internal stability within the Restoration court.
Le Trang Tong was buried at Canh Tomb (Cảnh lăng), south of Lam Son, ancestral homeland of the Le. Choosing Lam Son—cradle of Le Thai To (Le Loi)—as his resting place was symbolic: a return to origins and an affirmation of orthodoxy and continuity with the founding emperors.
Thereafter, Canh Tomb became the site of his worship. Within the ancestral cult of the Restored Le, he is honored with full temple and posthumous titles, ranked among emperors of great merit. Chroniclers commend his steadfastness and resolve amid chaos as a pivotal turning point in 16th-century Dai Viet.
Assessment
Le Trang Tong was the first emperor of the Restored Later Le, crucial in reviving the dynasty after late-15th-century turmoil and the Mac usurpation in 1527. When the country was split and Le power nearly erased, his appearance and enthronement became a symbol of national restoration, opening more than two and a half centuries of continued Le legitimacy under the Trung Hung era.
Historian Phan Huy Chu in Lich trieu hien chuong loai chi praised him highly:
“The king made Sam Ha stockade his traveling court, appointed Duke Chieu Huan (Nguyen Kim) as Grand Preceptor and Duke of Hung State to remain as regent; he went among the mountain tribes, and for nearly ten years cleared the thickets and established a court—thus the state rose again… The Restoration truly began from this point.”
Thus, Phan Huy Chu saw Le Trang Tong not merely as a nominal sovereign but as the real initiator of the Restoration. Though he did not personally command as many campaigns as Nguyen Kim or Trinh Kiem, it was under his banner that Le loyalists rallied, forming the two-court (Nam–Bac) balance that lasted nearly 60 years.
As the flag of orthodoxy, he displayed steadiness amid political upheaval, skillfully connecting with Ai Lao and uniting loyal generals—Nguyen Kim, Lai The Vinh, Trinh Kiem—to build a new court in Thanh–Nghe. In a time when restoration was arduous, he retained royal authority and internal prestige, enabling the Le to regain influence and rightful legitimacy step by step.
Though he died when the work had only begun, at just 34, Le Trang Tong left a large legacy: the re-established Later Le, a model for later Le monarchs to maintain orthodoxy and defend the country in the centuries to come.
In short, Le Trang Tong laid the foundations of the Restoration—not only through his throne but through the resolve, leadership, and exemplar of loyal patriotism for which history and posterity have honored him.
References
- Quynh Cu & Do Duc Hung (2001), Cac trieu dai Viet Nam, Youth Publishing House.
- Phan Huy Chu (2007), Lich trieu hien chuong loai chi, Education Publishing House.
- Le Quy Don (1993), Dai Viet thong su, Dong Thap General Publishing.
- Le Van Huu, Phan Phu Tien, Ngo Si Lien,… (1993), Dai Viet su ky Toan thu, Social Sciences Publishing House.
- Le Tung, Dai Viet thong giam tong luan, Nom Heritage Preservation Society.
- Le trieu ngoc pha (Genealogies of the Le).
- Tran Trong Kim (1943), Viet Nam su luoc, Bac Thanh Press.
- Imperial Historiography Office of the Nguyen (1998), Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, Education Publishing House.
____________________
Tiếng Pháp (français’)
Origines
Lê Trang Tông (chinois : 黎莊宗, 1515 – 1548), nom personnel Lê Ninh (黎寧), est l’unique fils de l’empereur Lê Chiêu Tông, dixième souverain de la dynastie des Lê postérieurs, et de la dame de cour Phạm Thị Ngọc Quỳnh, originaire du sách Cao Trĩ, district de Thụy Nguyên, trấn Thanh Hóa. Il est le premier empereur de la Restauration des Lê (Lê trung hưng) et joue un rôle fondateur dans la renaissance de la dynastie après l’usurpation des Mạc. Dans la tradition populaire, il est connu sous le surnom de « Chúa Chổm ».
À la fin des Lê sơ, poursuivi par le puissant Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Tông dut se cacher en de nombreux lieux, notamment à l’électuaire Thuần Mỹ du village Mỹ Xá (actuelle Hưng Nhân, district de Hưng Hà, province de Thái Bình). Dans une extrême misère, il ne lui resta qu’une seule dame fidèle, Phạm Thị Ngọc Quỳnh, qui veilla sur lui. Le roi et la dame firent alors ce vœu :
« Si le Ciel regarde encore avec faveur la maison des Lê, qu’il nous accorde une goutte de sang pour la descendance, afin qu’en priorité nous puissions servir les temples ancestraux et, avec les cent fonctionnaires, œuvrer à la restauration. »
Selon la tradition, ce vœu toucha le Ciel : Ngọc Quỳnh conçut et mit au monde le prince Lê Ninh, préservant la lignée des Lê.
Après la déposition et la mise à mort de Lê Cung Hoàng (frère cadet de Chiêu Tông) par Mạc Đăng Dung en 1527, la lignée principale des Lê sembla vouée à l’extinction. Grâce à la fidélité et à l’ingéniosité du grand dignitaire Lê Quán, Lê Ninh fut pourtant discrètement conduit en Ai Lao (Laos) pour y trouver refuge, échappant ainsi aux poursuites des Mạc.
Contexte historique
Fin 1526, Mạc Đăng Dung, suspectant Lê Chiêu Tông, envoya des troupes pour le faire assassiner. Averti du danger, le roi rassembla ses derniers effets et chargea la dame Phạm Thị Ngọc Quỳnh de fuir de nuit avec leur fils Lê Ninh. Pourchassés sans relâche, mère et fils durent se cacher dans des fourrés ; les soldats Mạc, soupçonnant une présence à cause de branches brisées, lancèrent des lances dans le buisson. Ngọc Quỳnh se sacrifia pour couvrir son enfant. Par chance, un grand renard bondit alors hors du fourré ; croyant avoir transpercé un terrier, les soldats s’éloignèrent. La mère banda sa blessure, puis voyagea de nuit et se cacha le jour, regagnant sa famille maternelle au sách Cao Trĩ (châu Ngọc Lặc, trấn Thanh Hóa). Les Mạc poursuivant la traque jusqu’au village, elle dut emmener son fils vers le phường Thọ Xuân pour échapper aux recherches.
En 1527, Mạc Đăng Dung usurpa officiellement le trône des Lê et fonda la dynastie des Mạc. Lê Cung Hoàng et l’Impératrice douairière furent contraints au suicide. Avant de mourir, la douairière lança cette imprécation :
« Đăng Dung, vassal, a l’audace d’usurper le trône et de nous tuer, ma mère et moi ; ses descendants subiront un jour le même sort ! » Puis elle se pendit avec Lê Cung Hoàng.
De nombreux grands dignitaires restés fidèles aux Lê résistèrent héroïquement : Vũ Duệ, Ngô Hoán (ministres), Nguyễn Văn Vận (censeur en chef), Nguyễn Thái Bạt (docteur de l’Académie), Lê Tuấn Mậu (ministre des Rites), Đàm Thận Huy (ministre du Personnel), Nguyễn Duy Tường (vice-ministre), Nguyễn Tự Cường (commissaire), Nghiêm Bá Ký (Bình Hồ bá), Lại Kim Bảng (censeur en chef), Nguyễn Thiệu Tri (ministre des Finances), Nguyễn Hữu Nghiêm (vice-censeur), Lê Vô Cương (sous-ministre des Rites)… Certains injurièrent Mạc en face, lui crachèrent au visage, lancèrent leur écritoire, se jetèrent dans le fleuve ou se donnèrent la mort après s’être prosternés vers Lam Sơn.
Pendant ce temps, Lê Quán porta la mère et l’enfant jusque Ai Lao pour sauver le sang royal.
En 1533, d’anciens fidèles des Lê — Nguyễn Kim, Lại Thế Vinh, Trịnh Kiểm, Trịnh Công Năng — levèrent des forces pour restaurer la dynastie. Ils entrèrent à Thanh Hóa, y établirent une base et firent ramener Lê Ninh d’Ai Lao, le proclamant empereur Lê Trang Tông : le temps des Lê trung hưng commençait. Le conflit contre les Mạc entra alors dans une nouvelle phase, divisant le pays entre Nam triều (Lê) et Bắc triều (Mạc).
Quant à Phạm Thị Ngọc Quỳnh, mère de Trang Tông, les chroniques ne précisent ni le lieu ni la date de son décès ; on sait seulement qu’elle mourut avant l’avènement de son fils et qu’elle fut ensuite élevée au rang d’Impératrice douairière.
Des doutes ont été émis sur l’ascendance exacte de Lê Trang Tông : né en 1515, il serait fils de Lê Chiêu Tông, né en 1506 — soit 9 ans d’écart, point débattu. Les Mạc, dans leur correspondance avec les Ming, prétendirent que Nguyễn Kim avait placé son propre fils sur le trône en inventant qu’il était celui de Chiêu Tông. Mais traditions populaires et sources locales rapportent que Ngọc Quỳnh aurait conçu Lê Ninh alors qu’elle se cachait avec Chiêu Tông à Mỹ Xá, d’où la conviction largement répandue que Lê Ninh était bien un descendant des Lê.
Règne
Rétablir la maison des Lê : s’appuyer sur Nguyễn Kim et Ai Lao
Proclamé empereur en 1533 à Ai Lao, Lê Trang Tông restaure officiellement la dynastie des Lê postérieurs et inaugure la Restauration. Dès son avènement, il reconnaît les mérites de ses soutiens : Nguyễn Kim, pivot de la reconstruction des forces, est fait Thượng phụ, Grand Précepteur, Hưng quốc công, avec plein commandement des armées. Đinh Công reçoit le titre de Thiếu úy Hùng quốc công, et de nombreux officiers sont récompensés.
Dans cette première phase, Trang Tông s’appuie sur l’aide du roi Sạ Đẩu (Phothisarath) du Laos pour recruter, réquisitionner des vivres et rassembler les forces contre les Mạc à Thăng Long. Soutenu de l’intérieur comme de l’extérieur, le gouvernement restauré s’implante durablement dans l’ouest de Thanh Hóa et Nghệ An.
Le Đại Việt sử ký toàn thư note :
« Le roi, dans l’adversité, fut porté par les anciens serviteurs ; à l’extérieur, il lia des relations, à l’intérieur, il sut employer de bons généraux ; chacun se mit à l’ouvrage — les fondements de la Restauration furent posés. »
Solliciter les Ming
Pour obtenir l’appui des Ming et faire pression sur les Mạc, Trang Tông envoie en 1533 Trịnh Duy Liêu par mer depuis le Champa jusqu’au Guangdong, puis vers Yenjing (Pékin) afin de présenter une requête à l’empereur Jiajing, dénonçant l’usurpation de Mạc Đăng Dung et demandant une intervention. Trịnh Duy Liêu n’arrive qu’en 1537, y rédige une longue lettre, se comparant à Shen Baoxu et Zhang Zifang pour illustrer sa loyauté.
En 1536, dans l’attente, Trang Tông dépêche encore Trịnh Viên auprès des Ming pour accélérer la demande. Après examen, les grands du royaume préconisent une expédition contre les Mạc. En février 1537, Jiajing ordonne à Qiu Liang et Mao Bāwēn de marcher vers la frontière du Đại Việt.
Sous cette pression, en octobre 1540, Mạc Đăng Dung se rend en personne au col de Nam Quan, ligoté avec plus de quarante dignitaires, présente un acte de soumission et cède six cantons de la châu Vĩnh An au Khâm Châu (Chine) pour obtenir la reconnaissance des Ming.
Élargir la base — reprendre Thanh Nghệ
Bien que reconnus par les Ming, les Mạc doivent faire face au renforcement des Lê. Au printemps 1542, Trang Tông prend la tête des troupes pour reprendre Thanh Hoa ; Thụy Hà Thọ Tường est nommé commandant de l’Armée impériale. Nguyễn Kim mène la grande offensive sur Thanh – Nghệ, largement soutenue par la population.
En 1543, les Lê partent de la citadelle Tây Đô, battent Dương Chấp Nhất (Trung Hậu hầu) qui capitule. Le roi envoie Trịnh Công Năng porter un édit rappelant Nguyễn Kim au pays ; ce dernier est fait Thái tể, commandant en chef des armées, et enchaîne les victoires au sud-ouest. Trịnh Công Năng se révolte ensuite : Trịnh Kiểm (alors Dực quốc công) le réprime et l’élimine.
Montée en puissance de la maison Trịnh
Dès 1539, Trang Tông confie à Trịnh Kiểm (gendre de Nguyễn Kim) le titre de Dực quốc công ; avec Trịnh Công Năng et Lại Thế Vinh, il lance campagnes sur campagnes contre les Mạc. Grande victoire à Lôi Dương.
En avril 1545, lors d’une marche vers Yên Mô, Nguyễn Kim est empoisonné par Dương Chấp Nhất et meurt. Trang Tông le fait Chiêu Huân Tĩnh công, titre posthume Trung Hiến, et promeut ses fils : Nguyễn Uông (Lãng quận công) et Nguyễn Hoàng (Hạ Khê hầu).
À l’automne 1545, le roi confère à Trịnh Kiểm tous les pouvoirs militaires : commandant en chef des forces terrestres et navales, Bình chương des affaires du royaume, Grand Précepteur, titré Lạng quốc công. Désormais, toutes les affaires d’État sont tranchées par Trịnh Kiểm avant d’être soumises au roi : les fondations de la puissance Trịnh dans le futur régime Lê–Trịnh sont posées.
Sur proposition de Trịnh Kiểm, début 1546, Lê Trang Tông établit un palais itinérant à Vạn Lại, site fort et facile à défendre, comme base durable.
Famille
Père : Lê Chiêu Tông
Mère : Impératrice Thần Gia Khánh Phạm Thị Ngọc Quỳnh
Épouse : Impératrice Trinh Thục Dụ Trịnh Thị Ngọc Cửu
Fils : Lê Huyên (Empereur Trung Tông Vũ Hoàng đế)
Fin du règne — culte
Après plus de quinze ans à rallier le pays à la cause de la Restauration, Lê Trang Tông meurt le 9 mars 1548, à 34 ans, alors que la guerre Lê–Mạc se poursuit et que l’État demeure instable. Son rôle dans la reconstitution de la dynastie et la mise en place des bases de la Restauration suscite un profond regret chez les fidèles et la postérité.
À sa mort, le tout-puissant Trịnh Kiểm fait monter le prince héritier Lê Huyên sur le trône (Lê Trung Tông). La succession se déroule sans heurts, signe d’une stabilité relative au sein de la cour restaurée.
La dépouille de Trang Tông est enterrée au Cảnh lăng (景陵), au sud de Lam Sơn, terre ancestrale des Lê liée à l’œuvre de Lê Thái Tổ (Lê Lợi). Ce choix, hautement symbolique, affirme la légitimité et la continuité avec les fondateurs. Le Cảnh lăng devient dès lors un lieu de culte du premier empereur de la Restauration, honoré avec miếu-hieu et rites complets, comme l’un des souverains méritants. Sa détermination au milieu des troubles est saluée par les historiographes comme un tournant majeur du XVIᵉ siècle.
Appréciations
Lê Trang Tông, premier empereur de la Restauration des Lê, eut un rôle décisif dans la remise sur pied de la dynastie après le déclin de la fin du XVe siècle et l’usurpation de 1527. Dans un contexte de guerres civiles et de démembrement du pouvoir, son avènement devint le symbole de la reconquête, point de départ des 250 années suivantes de la dynastie sous les Lê trung hưng.
Phan Huy Chú, dans le Lịch triều hiến chương loại chí, écrit :
« Le roi fit du camp de Sầm Hạ sa résidence, conféra à Chiêu Huân công (Nguyễn Kim) le titre de Grand Précepteur Hưng quốc công, le laissant gouverner ; fréquentant les montagnes des Man, pendant près de dix ans il défricha les friches et établit la cour ; la puissance du royaume reprit… L’œuvre de la Restauration commence véritablement ici. »
Ainsi, Phan Huy Chú voit en Lê Trang Tông non un souverain de pure forme, mais le véritable initiateur de la Restauration. S’il ne mena pas autant d’armées que Nguyễn Kim ou Trịnh Kiểm, c’est sous son étendard légitime que les fidèles se rassemblèrent, dressant la dualité Nam–Bắc triều pour près de soixante ans.
Comme drapeau de la légitimité, Trang Tông fit preuve d’une tenue politique solide, sut s’allier à l’extérieur (Ai Lao) et agréger autour de lui Nguyễn Kim, Lại Thế Vinh, Trịnh Kiểm, bâtissant une cour à Thanh–Nghệ. Au cœur du chaos, il garda l’autorité royale et la confiance interne, permettant aux Lê de retrouver influence et orthodoxie dynastique.
Mort prématurément à 34 ans, il laisse un héritage majeur : la reconstitution de la dynastie, modèle pour ses successeurs afin de maintenir la légitimité et protéger le pays aux siècles suivants.
Références
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, éd. Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, éd. Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, éd. Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, … (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, éd. Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm.
- Lê triều ngọc phả.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nha In Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, éd. Giáo dục.
____________________
Tiếng Trung (中文)
身世
黎莊宗(1515-1548),名黎寧,為後黎王朝第十帝黎昭宗之獨子,生母為御女范氏玉瓊,籍清化鎮瑞源縣高豸社。黎莊宗為黎中興之首位皇帝,在黎室被莫氏奪位後,開啟復興王朝之業。民間常稱其為「主湫」(又作「主拱」「主冢」,俗稱“豬拱”之轉,專指其少時流離、屢欠債之傳說)。
黎初末年,黎昭宗為權臣莫登庸追逼,流離失所,曾一度寓居於純美殿(今太平省興河縣興仁鎮美舍村一帶)。環境凄苦,侍側僅忠婢范氏玉瓊一人。相傳二人曾祈曰:
「若天心猶眷黎氏,願賜一脈嫡嗣,以奉宗廟,與百官中興社稷。」
由是玉瓊懷孕,誕下皇子黎寧,延續黎室血脈。
1527年,黎昭宗之弟黎恭皇被莫登庸廢殺,黎室正統幾近絕滅。幸賴大臣黎瓘之忠智,密攜黎寧赴哀牢(老撾)避難,遂免於莫氏追絕。
歷史背景
1526年末,莫登庸生疑,遣兵弒殺黎昭宗。昭宗覺變,僅裹少物,囑御女范氏玉瓊乘夜挈子黎寧潛逃。莫兵窮追,玉瓊抱子匿草莽;追兵疑草折,以戈刺叢,玉瓊以身蔽子。適有巨狐躍出,兵以為誤刺狐穴,遂去。玉瓊以布自裹傷,晝伏夜行,轉赴外家清化鎮玉勒州高豸社;莫兵復索至外家,母子更走壽春坊以避。
同年,莫登庸正式篡位,立國為莫,黎恭皇與皇太后被迫自盡。太后臨終詛曰:「登庸以臣弒君,又殺吾母子,後其子孫亦當如此!」此語後為事驗:萬曆末至隆慶前後,莫氏終為黎中興所破(1592-1593)。
彼時諸忠臣奮起抗爭:如吏部尚書武兌、吳渙,都御史阮文運,翰林校理阮太拔,禮部尚書黎俊茂,吏部尚書譚慎徽,參政使阮維祥,觀察使阮自強,平胡伯嚴伯紀,都御史賴金榜,戶部尚書阮紹治,副都御史阮有嚴,禮部左侍郎黎無綱等,或唾罵、投硯擊莫,或赴水自盡,或北望藍山稽首而死,皆不屈之士。此時黎瓘負黎寧出境赴哀牢,俾黎室血脈得以承續。
1533年,舊臣阮淦、賴世榮、鄭檢、鄭公能等舉兵復黎,入據清化,遣使赴哀牢迎黎寧還,奉為帝,是為黎莊宗,開黎中興之局。自此,大越分為南朝(黎)與北朝(莫)對峙。
至於范氏玉瓊,史不詳其終所及時,唯知卒於莊宗即位前,後追尊為皇太后。
另有史料就莊宗身世存疑:按載其生於1515年,而昭宗生於1506年,父子僅差九歲,學界有議。莫廷亦曾上書明朝,指阮淦立其子冒稱昭宗之子。然地方神誌與民間傳承多記玉瓊與昭宗避難美舍時受孕,故多仍信黎寧實為黎裔。
治國事業
倚阮淦與哀牢以續黎祚
1533年即位於哀牢後,黎莊宗正式復興後黎。初即位即論定功賞,立阮淦為上輔、太師興國公,總攝軍政;又以丁公為少尉雄國公,餘將士各隨功受封。
前期仰賴哀牢王撒抖(Phothisarath)援助,招軍、籌糧,據清化、西乂安以抗莫,勢力漸振。
《大越史記全書》評曰:「帝遭艱運,得舊臣所尊立,外連鄰國,內用良將,人樂為用,中興基自茲始。」
乞援於明
為爭取明廷支持、逼迫莫氏,1533年遣鄭維僚自占城航海至廣東,轉赴燕京陳情;又於1536年復遣鄭員。至嘉靖十六年(1537),明廷議伐莫,命仇鸞、毛伯溫出師臨境。
嘉靖十九年(1540)十月,莫登庸至南關自縛請罪,並割永安州屬下六洞歸欽州,以求承認。
張大兵威,收復清乂
雖明廷暫許莫氏權柄,南朝仍積極用兵。1542年春,莊宗親征清化,命瑞河侯壽祥為御營提統;阮淦帥師入攻清-乂,眾多義士相應,聲勢大振。
1543年,自西都出師,擊破莫將楊執一,執一降。莊宗遣鄭公能奉詔迎阮淦還國,進封太宰、都統節制諸營,轉戰西南屢捷。鄭公能後背叛,為時任翼國公鄭檢所誅。
奠定鄭氏權力格局
自1539年起,莊宗用阮淦壻鄭檢為翼國公,與鄭公能、賴世榮連番進軍,於雷陽大捷。
1545年四月,阮淦行至寧平延模,被楊執一毒殺。莊宗追贈其為昭勛靖公,諡忠獻;擢其長子阮汪為瑯郡公、次子阮潢為夏溪侯。
是年秋,帝授鄭檢「都統節制水步諸軍、總內外平章軍國重事、太師、瑯國公」,自此軍國大政多由鄭檢決而後奏,奠定日後「黎王-鄭主」共治之勢。
依鄭檢議,1546年初於萬瀝社建行殿,據其地險可守,為長久根據。
家眷
父:黎昭宗
母:嘉慶神皇后范氏玉瓊
后:貞淑裕皇后鄭氏玉玖
子:黎諠(即中宗武皇帝)
晚年・祀奉
經十五餘年艱苦中興之業,黎莊宗於1548年三月初九崩,年三十四。時黎-莫之戰仍未定局,國勢未穩。然其再立黎祚、肇啟中興之功,為群臣與後世所悼。
其後權臣鄭檢秉政,立太子黎諠即位,是為黎中宗,承續順暢,顯示中興黎廷內部早期之相對穩定。
帝葬於景陵,在藍山南麓,為黎室祖地。所擇之地,不惟歸宗本,也寓意承繼太祖黎利之志,闡明正統。自是景陵為中興肇祖之祀所,莊宗列入宗廟,禮數備具。其於亂世堅定復國之志,為史臣所稱。
評價
黎莊宗為黎中興之首君,於末世分崩之際再立黎祚,對終結莫氏篡奪、重續正統有奠基之功。其登位象徵復國之旗,自此後黎中興綿延二百五十餘年。
潘輝注《歷朝憲章類誌》評曰:
「帝以三沉下為行在,封昭勛公(阮淦)為太師興國公,留為輔政;往來諸蠻洞,凡十年,掃除荊棘,立朝建制,國勢復振……中興之基實自此始。」
是以史家不但視之為名義之君,更認其為中興實際開創者。雖親臨行陣不若阮淦、鄭檢之多,但賴其正統名分,諸臣得以雲集,形成南北對峙近六十年之局。
其善用外援(哀牢)、內結名將(阮淦、賴世榮、鄭檢),於清-乂設廷,重建朝綱。雖英年早逝,然所遺之最大資產,即重建之黎室與中興格局,成後世延續正統、捍衛國本之基。
參考資料
- 瓊居、杜德雄(2001),《越南諸朝》,青年出版社。
- 潘輝注(2007),《歷朝憲章類誌》,教育出版社。
- 黎貴惇(1993),《大越通史》,同塔綜合出版社。
- 黎文休、潘夫僊、吳士連等(1993),《大越史記全書》,社會科學出版社。
- 黎嵩,《大越通鑑總論》,字喃遺產保護會。
- 《黎朝玉譜》。
- 陳仲金(1943),《越南史略》,北城印書館。
- 阮朝國史館(1998),《欽定越史通鑑綱目》,教育出版社。
