Hòa thượng Trí Giải (?–1942)

Hòa thượng Trí Giải (?–1942)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Quê quán ở vùng Long Thọ, người làng Nguyệt Biều, xã Thủy Biều, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, họ Trần, Hòa thượng xuất gia từ nhỏ, được Bổn sư cho Pháp danh là Tâm Thọ, Pháp tự là Đạo thể. Sau khi thọ Cụ túc và Bồ-tát giới, được Bổn sư đặt cho Pháp hiệu là Trí Giải, cốt cách thanh tao, bẩm chất thầm lặng, có tài viết chữ và điêu khắc.

Sư phụ rất thương mến, giao cho chức Tri sự, liệu lý công việc hằng ngày trong chùa. Sau khi Sư phụ tịch một thời gian, khoảng năm 1930, Trí Giải được mời về Trú trì chùa Diệu Hỷ do Hoằng Hố Quận vượng lập ra phía sau chùa Diệu Đế thuộc vùng Gia Hội. Đây là vị Hồng tử 66 của vua Minh Mạng kiến tạo năm Canh Thìn (1880). Điều không may là Hòa thượng Trí Giải bị lao phổi rất nặng, lúc kiệt sức, nhờ đưa lên Tra Am tĩnh dưỡng rồi mất ở đây.

Khi lâm chung 1942, Hòa thượng dặn chôn mình giữa rừng hoang và trồng cây phủ lên mộ, tuyệt đối không để lại dấu tích gì. Nhà chùa không nỡ lòng làm theo, bèn đem táng ở phía trước cầu Lược Ước, bên đường vào Tra Am, xây đá lên chung quanh làm giả sơn và trồng đầy thông. Hiện ngôi tháp tự nhiên này rất đẹp, được giữ gìn cẩn thận.

Hòa thượng Tâm Như Trí Thủ điếu Sư huynh Trí Giải bằng bài thơ lâm ly sau đây:

Tam sinh thạch thượng ức tiền duyên,
Nhân, ngã đồng tham Đại Phổ Hiền.
Quy khứ bất phường, vân tán tụ,
Cô tùng, bạc lãnh, nại hà thiên.

Nguyễn Văn Thoa dịch:

Ba sinh hòn đá nhớ tiền duyên,
Cùng học, cùng tu hạnh Phổ Hiền.
Đi, mất, ngại gì mây tán tụ,
Tùng côi, hạc lạnh nói sao nên!

Hòa thượng mắt năm 1942 tại chùa Tra Am.

Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 1, xuất bản 2011.

Chấm điểm
Chia sẻ
Hoa thuong tri giai

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)