Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Tốt Động tọa lạc tại xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Từ năm 2025, sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, đình thuộc địa phận xã Quảng Bị, Thành phố Hà Nội. Từ trung tâm thành phố, đi theo Quốc lộ 6 đến thị trấn Chúc Sơn rẽ trái qua chợ Chúc Sơn, men theo đường liên xã khoảng 7km là tới đình Tốt Động.
Lịch sử và nhân vật
Tương truyền, đình làng Tốt Động được khởi dựng từ thế kỷ XV, thờ hai vị danh tướng thời Hậu Lê là Đỗ Bí và Lê Ngân. Hai vị đã để lại dấu ấn lừng lẫy trong chiến thắng Chúc Động – Tốt Động năm 1426, với việc tiêu diệt và bắt sống 6 vạn quân xâm lược. Trận chiến có vai trò quyết định tới sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược.
Đại tư đồ Đỗ Bí (người thôn Hắc Lương1, nay là Cung Điền, huyện Nông Cống, Thanh Hoá). Theo Thần phả ở đình cho biết: “Trong những năm Lê Lợi dấy binh, Đỗ Bí vốn là một hào trưởng ở Nông Cống tìm về Lam Sơn tụ nghĩa. Ông tham gia các trận đánh ở cầu Nhân Mục, Cổ Lãm. Nơi đây còn ghi dấu tích của ông.”2 Ông giữ vai trò quan trọng trong chiến thắng Chúc Động – Tốt Động.
Khoảng cuối năm 1426, sau những chiến thắng lẫy lừng khắp mọi miền từ Thanh Hóa trở vào miền Thuận Hóa (nay là Thừa Thiên Huế), nghĩa quân Lam Sơn đã đẩy giặc Minh vào thế co cụm phòng thủ ở thành Đông Quan, với hy vọng bám trụ tại kinh đô của nước Việt. Trước sự chênh lệch về sức mạnh và trí lực cầm quân, vua Minh phải cắt cử Vương Thông dẫn thêm 5 vạn quân sang tiếp viện cho quân Minh ở Đông Quan. Tập hợp thêm khoảng 5 vạn quân nữa, Vương Thông kéo 10 vạn quân, chia làm 3 cánh tiến đánh nghĩa quân Nam Sơn ở phía Nam và Tây Nam thành Đông Quan, chính là ở địa danh Tốt Động, Chúc Động, nhằm giành lại phòng tuyến quan trọng được ví là yết hầu của Đông Quan.
Một cánh quân Minh do Mã Kỳ, Sơn Thọ thống lĩnh tiến theo đường Ba La đi Vân Đình, nhưng đến cánh đồng Cổ Lãm (nay là Phú Lãm, Hà Đông) thì rơi vào ổ mai phục của quân Lam Sơn do Lý Triện và Đỗ Bí chỉ huy. Kết quả, quân Minh thua, vội thu tàn quân về chạy theo Vương Thông – vốn là cánh quân chủ lực, mũi giữa của 3 mũi giáp công, đang tiến theo hướng bến đò Cổ Sở (nay là Yên Sở, Hà Đông) để đóng quân tại đó.
Một cánh quân Minh do Phương Chính và Lý An cầm đầu tiến quân theo hướng Cống Mọc (nay thuộc Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội), đóng quân tại cầu Thanh Oai cũng bị quân Lam Sơn mai phục mà đánh tan tác.
Cánh quân do Vương Thông trực tiếp chỉ huy cùng tàn quân của hai cánh quân trên rút về Tốt Động, tưởng đã an toàn lại tiếp tục bị quân Lam Sơn ồ ạt tấn công, rút về Chúc Động cũng bị vây hãm, quân số thương vong vô số. Vương Thông vội vã rút quân chạy về Đông Quan, nhưng cầu Ninh Kiều đã bị quân Lam Sơn phá hủy nên cùng đường. Quân Minh liều mình nhảy xuống sông, hòng bơi qua sông thoát thân. Nhưng trong lúc hoảng hốt, quân Minh tự quẫy đạp vào nhau, ôm nhau cùng chìm. Xác chết quân Minh làm tắc nghẽn cả khúc sông Ninh Giang (nay là sông Đáy). Với hai trận thắng oanh liệt ở bến Ninh Kiều và Tốt Động – Chúc Động, nghĩa quân Lam Sơn đã nắm hoàn toàn thế chủ động, vây ráp Đông Quan tứ phía.
“Lê Ngân người xã Đàm Di thuộc Lam Sơn, theo Cao Tổ khởi binh. Lúc tướng Minh là Mã Kỳ vây khốn vua ở Lạc Thuỷ, ông cùng bọn ông Lê Thạch lên trước đánh phá được địch. Trong trận ở cửa ải Khả Lưu, ông cùng bọn ông Lê Sát đều làm tiền phong phá tan quân giặc. Ông lập chiến công rất nhiều.”3
Kiến trúc cảnh quan
Từ khi khởi dựng đến nay, đình Tốt Động đã được tôn tạo, tu sửa nhiều lần. Năm 1830, nhà Nguyễn cho làm lại Thượng Cung và vào năm 1929 tu sửa lại Bái Đường. Đầu năm 2013, Thành phố Hà Nội đầu tư hơn 20 tỷ đồng để tu bổ lại. Dù vậy, kết cấu kiến trúc của đình vẫn mang đậm phong cách thời Nguyễn.
Đình được xây dựng trên một thế đất đẹp, cao ráo và thoáng đãng ở đầu làng – nơi xảy ra trận quyết chiến chiến lược năm 1426, bẻ gãy cuộc tiến công của Tổng binh Vương Thông với hơn 6 vạn quân địch.
Đình Tốt Động kết cấu theo kiểu chữ “Nhị”, bao gồm Đại Bái và Hậu Cung. Các bộ vì Đại Bái theo kiểu chồng rường trên bốn hàng chân cột gỗ. Hệ thống cột, vì kèo… được cổ nhân làm bằng gỗ tứ thiết. Các bức cốn trong đình còn nguyên vẹn, đề tài chủ yếu là “Ngư long hý thuỷ”, nhưng bố cục của mỗi bức cốn đều có vẻ đẹp riêng và mang tính đăng đối, cân xứng. Hình tượng rồng được thể hiện khá nhiều ở đầu dư, cốn, cửa võng. Ngoài ra, một số hoạ tiết “tứ quý” (thông, mai, cúc, trúc) cũng được nghệ nhân thể hiện ở những vị trí khác một cách tài tình.
Nhìn tổng thể, đình Tốt Động khá bề thế, khang trang. Đình còn đủ cột trụ, tường bao, các mái đao cong vút. Các hạng mục khác như sân gạch, dãy Tả hữu mạc. Đây chính là không gian thiêng vào các dịp lễ hội của làng, thường diễn ra các trò chơi dân gian mang tinh thần thượng võ như múa gậy, đấu vật vui nhộn cả một vùng.
Từ cửa đình Tốt Động theo hướng Đông Bắc đi ra chừng 700m là dinh nhà mồ (mồ chôn quân Minh) nằm giữa cánh đồng. Ngày 7/11/1426, quân Minh bị phục kích ở cánh đồng Trê, trũng Hẻn này và đã có khoảng 5 vạn quân bị tiêu diệt. Để làm “việc nghĩa chủng”, nhà vua ra chiếu phải gom nhặt hài cốt rồi theo đó cúng tế đàng hoàng. Năm Bính Dần, niên hiệu Tự Đức 19 (năm 1866), viên cử nhân ở Bộ Lại là Đặng Tĩnh Trai đã thừa soạn tấm bia “di ngôn” đặt giữa đồng Mồ ngay cạnh cánh đồng Trê và đã lập văn bia tại đây.
Lễ hội
Lễ hội đình làng Tốt Động diễn ra trong ba ngày từ mùng 6 đến mùng 8 tháng Giêng. Lễ hội được tổ chức nhằm tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc (Đỗ Bí và Lê Ngân) và giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn” cho các thế hệ người dân.
Phần lễ được cử hành theo nghi thức truyền thống với các hoạt động như dâng hương, rước kiệu, tế thần, cầu phúc, cầu lộc, cầu cho quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt, đời sống nhân dân ấm no. Ngoài đình Tốt Động, tướng Đỗ Bí còn được thờ ở quán Bến, tướng Lê Ngân còn được thờ ở quán Đừn của làng Tốt Động. Đến dịp lễ hội, dân làng lại rước hai ngài về đình tế lễ.
Phần hội diễn ra sôi nổi với các hoạt động văn hóa, thể thao, trò chơi dân gian, múa rồng và giao lưu văn nghệ, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong những ngày đầu xuân.
Xếp hạng
Đình đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1985.
Chú thích
1. Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục, Tân Việt, 1956, tr. 24.
2. Lưu Minh Trị (Chủ biên), Hà Nội Danh thắng và di tích, Nxb Hà Nội, 2011, tr. 102.
3. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Nxb Văn hóa thông tin, 2007, tr. 246.
Tài liệu tham khảo
- Lê Quý Đôn (2007), Đại Việt thông sử, Nxb Văn hóa thông tin.
- Nguyễn Trãi (1956), Lam Sơn thực lục, Tân Việt.
- Lưu Minh Trị (Chủ biên), 2011, Hà Nội Danh thắng và di tích, tập 2, Nxb Hà Nội.