Hòa thượng Trí Hữu (1913–1975)

Hòa thượng Trí Hữu (1913–1975)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Hòa thượng thế danh Lê Thùy, pháp húy Thị Năng, tự Trí Hữu, hiệu Hương Sơn, nối pháp đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh.

Hòa thượng sinh năm Quý Sửu (1913) tại làng Quá Giáng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân sinh là cụ ông Lê Tất Các, pháp danh Hồng Diễn, thân mẫu là cụ bà Kiều Thị Đỉnh. Về sau, cụ ông xuất gia với Hòa thượng Thích Tôn Bảo, thọ Sa di Bồ tát giới với pháp tự Giải Khánh, hiệu là Giác Tánh.

Vốn có túc duyên nhiều đời với Phật pháp nên vào năm Giáp Tuất (1934), Ngài xin phép cha mẹ đi xuất gia khi vừa tròn 11 tuổi, Ngài đến chùa Linh Ứng, núi Ngũ Hành bái Hòa thượng Như Thông – Tôn Nguyên làm thầy, được Hòa thượng thu nhận làm đệ tử và cho ban Pháp danh là Thị Năng. Đến năm Mậu Dần (1938), khi vừa tròn 25 tuổi thì Ngài thọ Cụ túc giới.

Sau một thời gian theo hầu Hòa thượng Bổn sư, thấy Ngài có căn tánh lanh lẹ nên vào năm Ất Hợi (1935), Ngài được Bổn sư cho theo học tại Đà Thành Phật học viện tại chùa Phổ Thiên – Đà Nẵng.

Năm Đinh Sửu (1937), sau khi tốt nghiệp tại Phật học viện Phổ Thiên, Ngài tiếp tục cầu học tại Phật học đường Báo Quốc – Huế.

Năm Ất Dậu (1945), Ngài tốt nghiệp chương trình Đại học Phật giáo tại Báo Quốc và bắt đầu cuộc hành trình vân du hóa đạo tại các tỉnh miền Nam.

Ban đầu, Ngài vào ngụ tại chùa Hưng Longchùa Hưng Đạo do Hòa thượng Huệ Chấn làm Trụ trì. Sau mùa hạ năm Kỷ Sửu (1949), Ngài đến khu vực Vườn Lài lập thảo am lấy tên là Trí Tuệ Am. Sau khi xây Chánh điện và Tăng xá xong, Ngài đổi tên chùa là Ứng Quang. Trong thời gian này, Ngài cộng tác với tạp chí Từ Quang nhằm phổ biến giáo lý đến khắp các giới Phật tử, đồng thời là Giáo thọ sư của Phật học đường Nam Việt.

Đến năm Canh Dần (1950), Ngài cùng với các Hòa thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa v.v… hợp nhất các Phật học đường Liên Hải, Sùng Đức thành Phật học đường Nam Việt, đồng thời Ngài nhượng lại ngôi chùa Ứng Quang cho Hòa thượng Thiện Hòa để làm trụ sở Giáo hội Tăng già Nam Việt cũng như Phật học đường Nam Việt. Sau đó, Hòa thượng Thiện Hòa trùng tu và đổi tên là Ấn Quang cho đến ngày hôm nay.

Năm Đinh Dậu (1957), Ngài về lại Ngũ Hành Sơn và nhận chức vụ Trụ trì Tổ đình Linh Ứng.

Năm Canh Tý (1960), Phật học viện Phổ Đà được thành lập tại chùa Phổ Thiên – Đà Nẵng, Hòa thượng được mời làm Giám viện cho đến năm 1975.

Năm Tân Sửu (1961), Ngài được sung cử vào chức vụ Trưởng Giáo hội Tăng già Quảng Nam Đà Nẵng.

Năm Nhâm Dần (1962), Ngài được cử nhận chức vụ Trụ trì chùa Tỉnh hội Đà Nẵng.

Năm Giáp Thìn (1964), sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập, Ngài được Trung ương Giáo hội cử làm Chánh Đại diện miền Liễu Quán.

Năm Ất Tỵ (1965), Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê tại giới đàn Sa di mở tại chùa Long Tuyền – Hội An.

Năm Mậu Thân (1968), Hòa thượng được cung thỉnh làm Đệ thất Tôn chứng cho giới đàn tại Phật học viện Hải Đức – Nha Trang để truyền trao giới pháp cho Tăng Ni sinh tu học.

Năm Canh Tuất (1970), Ngài được cung thỉnh làm Đệ ngũ Tôn chứng tại Đại giới đàn Vĩnh Gia tổ chức tại Phật học viện Phổ Đà – Đà Nẵng.

Năm Tân Hợi (1971), Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê tại giới đàn Tu viện Quảng Đức, quận Thủ Đức – Sài Gòn.

Năm Nhâm Tý (1972), Ngài vận động đại trùng tu Tổ đình Linh Ứng.

Năm Quý Sửu (1973), Ngài được đức Tăng thống tấn phong lên hàng Giáo phẩm Hòa thượng và thỉnh vào Hội đồng Giáo phẩm Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Những sách Ngài phiên dịch và trước tác gồm: Kinh Viên Giác, Lời Phật Dạy (Phỏng dịch), Duy Thức Dị Giản, Kinh Phật Địa (ấn hành năm 1959), Phật Học Danh Số (đăng nhiều kỳ trên tạp chí Từ Quang), Lịch Sử Ngũ Hành Sơn (sáng tác).

Ngoài việc kế thế trùng tu Tổ đình Linh Ứng, Ngài đã khai sơn các chùa Ứng Quang (1949) (tức chùa Ấn Quang bây giờ) – Sài Gòn, các chùa Hòa Phước (năm 1950), chùa Bảo Minh (1965) huyện Hòa Vang, chùa Từ Quang – Điện Bàn, Bích Trân, La Thọ tại Quảng Nam Đà Nẵng.

Năm Ất Mảo (1975),  vào lúc 12 giờ ngày 28 tháng 11 âl (30.12.1975), Ngài đã thị tịch tại chùa Ấn Quang – Sài Gòn, nơi mà 37 năm về trước Ngài đã đặt những viên đá đầu tiên kiến tạo. Sau khi trà tỳ, hài cốt của Ngài được làm hai phần: một phần thờ tại chùa Ấn Quang và một phần đem về nhập bảo tháp tại chùa Linh Ứng – Ngũ Hành Sơn. Ngài thọ 63 tuổi và 37 hạ lạp.

Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 1, xuất bản 2011.

Chấm điểm
Chia sẻ
Hoa thuong tri huu 1913

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)