Thân thế
Hành trạng
Trong hành trình cầu đạo không ngừng nghỉ, năm 574, Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Trung Quốc và tại đây có cơ duyên yết kiến Tam tổ Tăng Xán trên núi Tư Không. Trước phong thái tĩnh tại và uy nghiêm của bậc đại sư, Ngài khởi tâm kính ngưỡng sâu sắc, đứng chắp tay cung kính hồi lâu. Khi ấy, Tăng Xán vẫn ngồi yên, nhắm mắt, không nói một lời. Chính trong khoảnh khắc tĩnh lặng tuyệt đối ấy, Tỳ Ni Đa Lưu Chi bỗng nhiên tự khế ngộ yếu chỉ của Thiền tông, liền quỳ xuống đảnh lễ ba lạy. Tăng Xán chỉ khẽ gật đầu ba lần để ấn chứng, chính thức truyền tâm pháp cho Ngài.
Thiền uyển tập anh chép:
“Thiền sư Tỳ Ni Ða Lưu Chi là dòng dõi Bà La Môn, gốc ở Nam Thiên Trúc, vân du qua Trung Hoa; vào năm Nhâm Ngọ (562) niên hiệu Ðại Kiến thứ sáu nhà Trần thì đến Trường An. Vào năm 574 khi Phật giáo bị Võ Ðế đàn áp, ông đi về đất Nghiệp (Hồ Nam). Hồi đó, tổ thứ ba của Thiền tông Trung Hoa là Tăng Xán đang tị nạn ở đây, ẩn tại núi Tư Không. Khi Tỳ Ni Ða Lưu Chi gặp tổ Tăng Xán, thấy phong độ phi phàm, liền chắp tay ba lần, tổ vẫn ngồi yên không nói năng gì. Trong lúc đứng chờ suy tư, tâm bỗng mở ra như có chỗ sở đắc, ông liền lạy xuống ba lạy. Tổ cũng chỉ gật đầu ba cái mà thôi.“1
Sau khi đắc pháp, Tỳ Ni Đa Lưu Chi có ý định theo hầu thầy, tiếp tục tu học; tuy nhiên, Tăng Xán không giữ lại mà khuyên ông nên đi về phương Nam để hoằng hóa, truyền bá thiền pháp. Thiền uyển tập anh chép:
“Ông lùi ba bước, thưa rằng: Đệ tử từ trước tới nay chưa có cơ hội, xin hòa thượng từ bi cho đệ tử được theo hầu bên tả hữu. Tổ nói: Ông mau mau đi về phương Nam mà tiếp xúc với thiên hạ, không nên ở lâu tại đây. Ông liền từ biệt tổ đi về phương Nam, ở lại chùa Chế Chỉ ở Quảng Châu.”2
Chính lời chỉ dạy này đã mở ra bước ngoặt lớn trong cuộc đời ông, đưa ông xuống khu vực Giao Châu (Việt Nam ngày nay), cũng chính ở đây ông trở thành vị Tổ khai sáng thiền phái mang tên mình – Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một trong những dòng Thiền sớm nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Thiền sư sang Việt Nam khoảng cuối thế kỉ thứ 6 (năm 580), cư trú tại chùa Pháp Vân (tức chùa Dâu, Bắc Ninh ngày nay). Ở đây Thiền sư đã dịch bộ kinh Đại thừa phương quảng tổng trì sau khi đã dịch xong bộ kinh Tượng đầu tinh xá tại Trung Quốc. Thiền uyển tập anh chép:
“Ðây là vào khoảng niên hiệu Ðại Ðế thứ sáu. Ông dịch được một số kinh như Tượng Ðầu và Báo Nghiệp Sai Biệt. Ðến tháng Ba năm Canh Tý niên hiệu Ðại Tường thứ hai (580), vào đến nước ta, ở tại chùa này (Pháp Vân Tự), lại dịch thêm kinh Tổng Trì.”3
Trong thời gian hoằng hóa tại chùa Pháp Vân, Thiền sư đã thu nhận Pháp Hiền làm đệ tử. Từ đây, nền móng của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi chính thức được xác lập trên đất Việt, mở đầu cho một dòng chảy Thiền học mang đậm dấu ấn giao thoa giữa tư tưởng Ấn Độ và thực tiễn văn hóa Giao Châu.
Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi
Việc đặt nền móng và hình thành thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi tại Việt Nam không chỉ là hành trình truyền bá tôn giáo đơn thuần mà từ đây đã kiến lập một hệ tư tưởng Phật giáo độc lập. Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi khởi nguyên từ nền tảng tư tưởng Đại thừa Ấn Độ, đặc biệt chịu ảnh hưởng của các hệ thống triết học như Bát Nhã, Tam Luận và Hoa Nghiêm.
Trên cơ sở đó, thiền phái mang xu hướng tư duy siêu nghiệm, hướng đến nhận thức về bản thể tuyệt đối của thực tại. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là dòng thiền này không phát triển theo khuynh hướng thuần lý luận hay khép kín trong kinh viện, mà có sự giao thoa nhất định với yếu tố Mật giáo, qua đó mở rộng phương thức hành đạo và tiếp cận quần chúng.
Dù đề cao tinh thần “bất lập văn tự”, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi không phủ nhận vai trò của kinh điển. Trái lại, việc nghiên cứu Kinh – Luận vẫn được coi trọng như một nền tảng để khai mở trí tuệ, kết hợp với thực hành thiền quán nhằm đạt đến sự chứng ngộ. Đây là đặc điểm cho thấy tính linh hoạt trong phương pháp tu tập, không tuyệt đối hóa một con đường duy nhất, mà dung hòa giữa lý thuyết và thực hành.
Một phương diện quan trọng khác của thiền phái này là khuynh hướng nhập thế, không tách rời đời sống xã hội, các thiền sư thuộc dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã vận dụng nhiều yếu tố văn hóa bản địa như thuật phong thủy, sấm vĩ, cùng các tín ngưỡng dân gian như những “phương tiện thiện xảo” để dẫn dắt con người tiếp cận với Phật pháp. Chính sự thích ứng này đã giúp thiền phái nhanh chóng bén rễ trong môi trường Giao Châu, tạo nên một hình thái Phật giáo gần gũi với đời sống cộng đồng.
Thiền phái chủ trương vượt lên trên các phạm trù nhị nguyên như “không” và “có”, từ đó tiến tới nhận thức cao hơn, nơi mọi đối đãi đều được dung giải. Trên bình diện nhân sinh, tinh thần này được triển khai thành quan điểm vượt thoát cả “sinh” và “tử”, hướng đến một trạng thái tự tại tuyệt đối của tâm thức.
Như vậy, việc đặt nền móng của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi tại Việt Nam không chỉ đánh dấu sự xuất hiện của một dòng Thiền sớm, mà còn mở ra một hướng phát triển mang đậm bản sắc dân tộc, dung hợp giữa tư tưởng siêu hình sâu sắc với đời sống thực tiễn, giữa tinh thần giải thoát và nhu cầu xã hội, qua đó tạo nên một diện mạo riêng cho Phật giáo Việt Nam trong những buổi đầu.
Truyền thừa
Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi truyền thừa được 19 đời, với 49 người.
Thế hệ thứ nhất: Tỳ Ni Ða Lưu Chi (mất năm 594).
Thế hệ thứ hai: Pháp Hiền (mất năm 626).
Thế hệ thứ ba: Huệ Nghiêm, người truyền pháp cho Thanh Biện của thế hệ thứ tư. Huệ Nghiêm là một trong 300 học trò của Pháp Hiền, sống đồng thời với Pháp Ðăng, trước vốn đã là thầy của Thanh Biện. Huệ Nghiêm ở chùa Sùng Nghiệp, còn Pháp Ðăng ở chùa Phổ Quang. Có thể Pháp Ðăng cũng là học trò của Pháp Hiền.
Thế hệ thứ tư: Thanh Biện (mất năm 686).
Thế hệ thứ năm: Một người, khuyết lục.
Thế hệ thứ sáu: Một người, khuyết lục.
Thế hệ thứ bảy: Long Tuyền, chùa Nam Dương.
Thế hệ thứ tám: Ðịnh Không (mất năm 808) và hai người khuyết lục.
Thế hệ thứ chín: Thông Thiện và hai người khuyết lục, trong số này có thể có Phù Trì chùa Long Thọ, thầy của Pháp Thuận.
Thế hệ thứ mười: La Quý An (mất năm 936), Pháp Thuận (mất năm 991), Mahamaya (mất năm 1029) và một người khuyết lục (có thể là Vô Ngại, thầy của Sùng Phạm).
Thế hệ thứ mười một: Thiền Ông (mất năm 979), Sùng Phạm (mất năm 1087) và hai người khuyết lục (có thể là Trí Hiền, giáo sư của Ðạo Hạnh và Pháp Bảo, thầy của Thuần Chân).
Thế hệ thứ mười hai: Vạn Hạnh (mất năm 1018), Ðịnh Tuệ (mất năm?), Ðạo Hạnh (mất năm 1112), Trì Bát (mất năm 1117), Thuần Chân (mất năm 1101) và hai vị khuyết lục.
Thế hệ thứ mười ba: Huệ Sinh (mất năm 1063), Thiền Nham (mất năm 1163), Minh Không (mất năm 1141), Bản Tịch (mất năm 1140) và hai người khuyết lục (có thể là Pháp Thông bạn đồng môn của Huệ Sinh và Biện Tài, giáo sư của Khánh Hỷ).
Thế hệ thứ mười bốn: Khánh Hỷ (mất năm 1142) và bốn vị khuyết lục trong đó có thể là Tính Nhãn và Tính Như, hai người bạn đồng môn, và Quảng Phúc, thầy của Giới Không.
Thế hệ thứ mười lăm: Giới Không (mất năm?), Pháp Dung (mất năm 1174) và một người khuyết lục, có lẽ là Thảo Nhất chùa Tĩnh Lự, thầy của Chân Không.
Thế hệ thứ mười sáu: Trí (mất năm?), Chân Không (mất năm 1100), Ðạo Lâm (mất năm 1203).
Thế hệ thứ mười bảy: Diệu Nhân (mất năm 1113), Viên Học (mất năm 1136), Tĩnh Thiền (mất năm 1193) và một người khuyết danh, có lẽ là Viên Học, người đã chỉ dạy Viên Thông.
Thế hệ thứ mười tám: Viên Thông (mất năm 1151) và một người khuyết lục, có lẽ là Ðịnh Hương, thầy của Y Sơn.
Thế hệ thứ mười chín: Y Sơn (mất năm 1213) và một người khuyết lục.
Viên tịch
Năm 594, Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi viên tịch tại chùa Chùa Pháp Vân, khép lại hành trình hoằng hóa kéo dài 14 năm trên đất Giao Châu. Sau khi Ngài tịch, đệ tử là Pháp Hiền đã cử hành nghi lễ hỏa táng, thu xá lợi và dựng tháp phụng thờ.
Về sau, dưới triều Lý Thái Tông (1028 – 1054), nhà vua đã làm bài kệ truy tán để ca ngợi đạo hạnh và công lao truyền pháp của Thiền sư:
Sáng tự lai Nam quốc
Vân quân cửu tập thiền
Ứng khai chư Phật tín
Viễn hợp nhất tâm nguyên
Hạo hạo Lăng Già nguyệt Phân phân
Bát Nhã liên Hà thì lân diện kiến
Tương dữ thoại trùng huyền.
Dịch:
Sang nước Nam truyền đạo
Xứng danh bậc túc thiền
Mở niềm tin đức Phật
Xa hợp một tâm nguồn
Trăng Lăng Già vằng vặc
Sen Bát Nhã thơm truyền
Biết bao giờ gặp mặt
Cùng nhau nói đạo huyền.
Chú thích
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 165 – 166.
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 166.
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 166.
Tài liệu tham khảo
- Khuyết danh (1990), Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học.
- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Bản ebook Thư viện Hoa sen.
- Tư tưởng thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi với Phật giáo Việt Nam đương đại (kỳ 1)
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Biography
Ty Ni Da Luu Chi (Chinese: 毘尼多流支; Sanskrit: Vinītaruci; ? – 594), also known as Diet Hi, was an Indian-origin Zen (Chan) master who played a particularly important role in the history of Buddhism in East Asia and Vietnam.
He was born in Southern Thien Truc (Southern India), into a Brahmin lineage, a class of high social status in Indian society. From an early age, he displayed extraordinary qualities, nurturing a transcendent aspiration, indifferent to fame and wealth, and dedicating himself to traveling in search of knowledge and understanding Buddhist teachings.
Life and Practice
In his relentless spiritual journey, in 574, Zen Master Ty Ni Da Luu Chi traveled to China, where he had the opportunity to meet the Third Patriarch Tang Xian on Tu Khong Mountain.
Impressed by the master’s serene and dignified demeanor, he developed deep reverence and stood respectfully with folded hands for a long time. At that moment, Tang Xian remained seated, eyes closed, without saying a word.
In that absolute silence, Ty Ni Da Luu Chi suddenly realized the essential meaning of Zen. He immediately knelt down and bowed three times. Tang Xian gently nodded three times in acknowledgment, formally transmitting the Dharma to him.
According to Thien Uyen Tap Anh:
“Zen Master Ty Ni Da Luu Chi was of Brahmin lineage, originally from Southern Thien Truc. He traveled through China and arrived in Chang’an in the year Nham Ngo (562), during the sixth year of the Dai Kien era of the Tran dynasty. In 574, when Buddhism was persecuted by Emperor Vo De, he moved to Nghiep (Hunan). At that time, the Third Patriarch Tang Xian was taking refuge there, hiding on Tu Khong Mountain.
When Ty Ni Da Luu Chi met Tang Xian, seeing his extraordinary bearing, he respectfully folded his hands three times, while the Patriarch remained silent. While standing in contemplation, his mind suddenly opened as if attaining realization, and he bowed three times. The Patriarch simply nodded three times.”
After receiving the Dharma, Ty Ni Da Luu Chi wished to remain with his teacher to continue practicing. However, Tang Xian advised him to go south to spread the teachings instead.
According to Thien Uyen Tap Anh:
“He stepped back three steps and said: ‘I have not yet had the opportunity; please compassionately allow me to attend by your side.’
The Patriarch said: ‘You should quickly go south to engage with the world; do not stay here long.’
He then took leave and went south, residing at Che Chi Temple in Guangzhou.”
This instruction marked a major turning point in his life, leading him to Giao Chau (present-day Vietnam), where he became the founding patriarch of the Zen school bearing his name—one of the earliest Zen traditions in Vietnamese Buddhist history.
Around the late 6th century (circa 580), he arrived in Vietnam and resided at Phap Van Temple (Dau Pagoda, Bac Ninh today). There, he translated the Mahayana Vaipulya Dharani Sutra, after previously translating the Tuong Dau Tinh Xa Sutra in China.
According to Thien Uyen Tap Anh:
“Around the sixth year of the Dai De era, he translated several sutras such as Tuong Dau and Bao Nghiep Sai Biet. In the third month of the year Canh Ty (580), during the second year of the Dai Tuong era, he came to our country and stayed at this temple (Phap Van), where he further translated the Tong Tri Sutra.”
During his time teaching at Phap Van Temple, he accepted Phap Hien as his disciple. From this point, the foundation of the Ty Ni Da Luu Chi Zen school was officially established in Vietnam, marking the beginning of a Zen tradition deeply influenced by both Indian thought and the cultural context of Giao Chau.
The Ty Ni Da Luu Chi Zen School
The establishment of the Ty Ni Da Luu Chi Zen school in Vietnam was not merely a religious transmission but the formation of an independent Buddhist philosophical system.
The school originated from Mahayana Indian thought, particularly influenced by philosophical systems such as Prajna, San Lun, and Hua Nghiem.
It developed a transcendental mode of thinking aimed at realizing the absolute nature of reality. However, unlike purely scholastic traditions, it incorporated elements of Esoteric Buddhism, thereby expanding its methods of practice and engagement with the broader population.
Although emphasizing the principle of “non-reliance on words and texts,” the school did not reject scriptures. On the contrary, the study of sutras and treatises was regarded as essential for cultivating wisdom, combined with meditation practice to achieve enlightenment.
Another key aspect was its engagement with worldly life. Rather than withdrawing from society, monks of this lineage incorporated indigenous cultural elements such as geomancy, prophetic texts, and folk beliefs as “skillful means” to guide people toward Buddhism.
This adaptability allowed the school to take root quickly in Giao Chau, creating a form of Buddhism closely connected to community life.
The school also advocated transcending dualistic concepts such as “emptiness” and “existence,” moving toward a higher realization where all oppositions are reconciled. In human terms, this extended to transcending both “birth” and “death,” aiming for a state of absolute mental freedom.
Thus, the establishment of the Ty Ni Da Luu Chi Zen school marked not only the emergence of an early Zen tradition in Vietnam but also the development of a uniquely Vietnamese Buddhist identity—harmonizing profound metaphysical thought with practical life and social needs.
Lineage Transmission
The Ty Ni Da Luu Chi Zen school was transmitted through 19 generations, comprising 49 figures:
1st generation: Ty Ni Da Luu Chi (d. 594)
2nd generation: Phap Hien (d. 626)
3rd generation: Hue Nghiem
4th generation: Thanh Bien (d. 686)
5th–6th generations: Unknown
7th generation: Long Tuyen
8th generation: Dinh Khong (d. 808)
9th generation: Thong Thien
10th generation: La Quy An, Phap Thuan, Mahamaya
11th generation: Thien Ong, Sung Pham
12th generation: Van Hanh, Dinh Tue, Dao Hanh, Tri Bat, Thuan Chan
13th generation: Hue Sinh, Thien Nham, Minh Khong, Ban Tich
14th generation: Khanh Hy
15th generation: Gioi Khong, Phap Dung
16th generation: Tri, Chan Khong, Dao Lam
17th generation: Dieu Nhan, Vien Hoc, Tinh Thien
18th generation: Vien Thong
19th generation: Y Son
(Some figures are missing from records.)
Passing (Nirvana)
In 594, Zen Master Ty Ni Da Luu Chi passed away at Phap Van Temple, concluding 14 years of teaching in Giao Chau.
After his passing, his disciple Phap Hien conducted cremation rites, collected relics (sarira), and built a stupa for veneration.
Later, during the reign of Ly Thai Tong (1028–1054), the king composed a verse in praise of the master:
Original verse:
Sang tu lai Nam quoc
Van quan cuu tap thien
Ung khai chu Phat tin
Vien hop nhat tam nguyen
Hao hao Lang Gia nguyet
Phan phan Bat Nha lien
Ha thi lan dien kien
Tuong du thoai trung huyen
Translation:
Coming to the Southern land to spread the Way,
Worthy of the name of a venerable Zen master.
Opening faith in the Buddha,
Uniting with the one source of mind.
Bright shines the Lankavatara moon,
Fragrant blooms the Prajna lotus.
When shall we meet again,
To discuss the profound Dharma together?
Notes
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 165 – 166.
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 166.
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 166.
References
- Khuyết danh (1990), Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học.
- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Bản ebook Thư viện Hoa sen.
- Tư tưởng thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi với Phật giáo Việt Nam đương đại (kỳ 1)
Tiếng Pháp (Français’)
Origine et biographie
Ty Ni Da Luu Chi (chinois : 毘尼多流支 ; sanskrit : Vinītaruci ; ? – 594), également connu sous le nom de Diet Hi, est un maître de méditation (chan) d’origine indienne, ayant joué un rôle particulièrement important dans l’histoire du bouddhisme en Asie de l’Est et au Vietnam. Il était originaire de Nam Thien Truc (sud de l’Inde), issu de la caste des Ba La Mon, une classe sociale de haut rang dans la société indienne. Dès son jeune âge, il manifesta des dispositions exceptionnelles, nourrissant l’aspiration à la vie spirituelle, se détachant des honneurs et des richesses, et se consacrant entièrement aux voyages d’étude et à la recherche des enseignements bouddhiques.
Parcours
Au cours de sa quête incessante de la Voie, en 574, le maître Ty Ni Da Luu Chi se rendit en Chine, où il eut l’opportunité de rencontrer le troisième patriarche Tang Xian sur le mont Tu Khong. Impressionné par la sérénité et la dignité du grand maître, il éprouva une profonde révérence et resta longtemps debout, les mains jointes avec respect. À ce moment-là, Tang Xian demeurait immobile, les yeux fermés, sans prononcer un mot. Dans ce silence absolu, Ty Ni Da Luu Chi parvint soudain à une illumination intuitive de l’essence du Chan, puis s’agenouilla et se prosterna trois fois. Tang Xian acquiesça légèrement de la tête à trois reprises, attestant ainsi la transmission du Dharma.
Le recueil Thien uyen tap anh rapporte :
« Le maître Ty Ni Da Luu Chi, issu de la lignée des Ba La Mon et originaire de Nam Thien Truc, voyagea en Chine ; en l’an Nham Ngo (562), sous la sixième année de l’ère Dai Kien de la dynastie Tran, il arriva à Truong An. En 574, lorsque le bouddhisme fut persécuté par Vo De, il se rendit dans la région de Nghiep (Ho Nam). À cette époque, le troisième patriarche du Chan en Chine, Tang Xian, s’y cachait, retiré sur le mont Tu Khong. Lorsque Ty Ni Da Luu Chi le rencontra, impressionné par son allure exceptionnelle, il joignit les mains trois fois, tandis que le patriarche restait silencieux. En attendant et en méditant, son esprit s’ouvrit soudainement comme s’il avait atteint une réalisation, et il se prosterna trois fois. Le patriarche acquiesça simplement de la tête à trois reprises. »
Après avoir reçu la transmission, Ty Ni Da Luu Chi souhaita rester auprès de son maître pour poursuivre sa pratique, mais Tang Xian ne le retint pas et lui conseilla de partir vers le Sud afin de diffuser l’enseignement. Le texte rapporte :
« Il recula de trois pas et dit : Jusqu’à présent, je n’ai jamais eu cette opportunité ; je prie le maître de m’autoriser à rester à ses côtés. Le patriarche répondit : Tu dois rapidement te rendre vers le Sud pour entrer en contact avec les êtres, et ne pas rester ici longtemps. Il prit alors congé et partit vers le Sud, séjournant au temple Che Chi à Quang Chau. »
Cet enseignement marqua un tournant majeur dans sa vie, le conduisant vers Giao Chau (Vietnam actuel), où il devint le fondateur de l’école de méditation portant son nom – Ty Ni Da Luu Chi, l’une des premières lignées Chan de l’histoire du bouddhisme vietnamien.
Il arriva au Vietnam vers la fin du VIe siècle (vers 580) et résida au temple Phap Van (aujourd’hui temple Dau, Bac Ninh). Là, il traduisit le sutra Dai thua phuong quang tong tri, après avoir déjà traduit le sutra Tuong dau tinh xa en Chine.
L’école de Ty Ni Da Luu Chi
La fondation de cette école au Vietnam ne fut pas seulement une diffusion religieuse, mais aussi l’établissement d’un système de pensée bouddhique autonome. Elle s’appuie sur le Mahayana indien, influencée notamment par les philosophies Bat Nha, Tam Luan et Hoa Nghiem.
Cette école adopte une orientation métaphysique, visant la compréhension de la réalité absolue. Toutefois, elle ne se limite pas à une approche purement théorique ou scholastique ; elle intègre également des éléments du bouddhisme ésotérique, élargissant ainsi ses méthodes de pratique et son accès au public.
Bien qu’elle mette en avant le principe de « non-établissement des écritures », elle ne rejette pas les textes sacrés. Au contraire, l’étude des sutras et des traités est considérée comme essentielle pour éveiller la sagesse, combinée à la pratique méditative.
Une autre caractéristique importante est son engagement dans la société. Les maîtres de cette école ont intégré des éléments culturels locaux tels que le feng shui, les prophéties et les croyances populaires comme moyens habiles pour guider les êtres vers le Dharma. Cette adaptation permit à l’école de s’enraciner profondément dans le contexte de Giao Chau.
Elle prône également le dépassement des dualités telles que « être » et « non-être », menant à une compréhension supérieure où toutes les oppositions sont résolues. Sur le plan existentiel, cela se traduit par le dépassement de la naissance et de la mort, atteignant une liberté absolue de l’esprit.
Transmission
L’école de Ty Ni Da Luu Chi s’est transmise sur 19 générations avec 49 maîtres :
1re génération : Ty Ni Da Luu Chi (mort en 594)
2e : Phap Hien (mort en 626)
3e : Hue Nghiem
4e : Thanh Bien (mort en 686)
5e – 6e : inconnues
7e : Long Tuyen
8e : Dinh Khong (mort en 808)
9e : Thong Thien
10e : La Quy An, Phap Thuan, Mahamaya
11e : Thien Ong, Sung Pham
12e : Van Hanh, Dinh Tue, Dao Hanh, Tri Bat, Thuan Chan
13e : Hue Sinh, Thien Nham, Minh Khong, Ban Tich
14e : Khanh Hy
15e : Gioi Khong, Phap Dung
16e : Tri, Chan Khong, Dao Lam
17e : Dieu Nhan, Vien Hoc, Tinh Thien
18e : Vien Thong
19e : Y Son
Décès
En 594, le maître Ty Ni Da Luu Chi entra en nirvana au temple Phap Van, mettant fin à 14 années de diffusion du Dharma à Giao Chau. Après sa disparition, son disciple Phap Hien organisa la crémation, recueillit les reliques et érigea une stupa en son honneur.
Plus tard, sous le règne de Ly Thai Tong (1028–1054), le roi composa un poème en son hommage :
« Venu du Sud transmettre la Voie
Digne d’un maître accompli
Ouvrant la foi en Bouddha
Unifiant les esprits à la source
La lune du Lang Gia brille intensément
Le lotus de Bat Nha diffuse son parfum
Quand pourrons-nous nous rencontrer
Et parler ensemble de la Voie profonde ? »
Notes
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 165 – 166.
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 166.
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 166.
Références
- Khuyết danh (1990), Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học.
- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Bản ebook Thư viện Hoa sen.
- Tư tưởng thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi với Phật giáo Việt Nam đương đại (kỳ 1)
Tiếng Trung (中文)
身世
毘尼多流支(中文:毘尼多流支;梵文:Vinītaruci;?—594),又名灭喜,是一位出身印度的禅师,在东亚及越南佛教史上具有极其重要的地位。他出生于南天竺(印度南部),属于婆罗门种姓,这是印度社会中地位较高的阶层。自幼便展现出非凡资质,立志出尘,不慕名利,专心云游求学,探究佛法教义。
行状
在不断求道的历程中,574年,禅师毘尼多流支前往中国,并在此有缘于司空山拜见禅宗三祖僧璨。面对大师沉静威严的风范,他心生深切敬仰,合掌肃立良久。当时僧璨端坐不动,闭目不语。正是在这绝对寂静的瞬间,毘尼多流支忽然契悟禅宗要旨,随即跪下顶礼三拜。僧璨仅轻轻点头三次,以示印可,正式传授心法于他。
《禅苑集英》记载:
“禅师毘尼多流支为婆罗门种姓,原籍南天竺,游历至中国;于壬午年(562年),陈朝大建六年抵达长安。574年,佛教遭武帝镇压,他前往邺地(湖南)。当时,中国禅宗第三祖僧璨避难于此,隐居司空山。毘尼多流支拜见僧璨,见其风度非凡,遂三次合掌,祖师仍静坐不语。他在等待思惟之间,心忽然开悟,如有所证,便顶礼三拜。祖师仅点头三次而已。”¹
得法之后,毘尼多流支本欲侍奉师侧,继续修学;然而僧璨未留他,反劝其南行弘化,传播禅法。《禅苑集英》记载:
“他退后三步,说:弟子至今未得机缘,愿和尚慈悲,允许弟子随侍左右。祖曰:你应速往南方,接引世人,不可久留于此。他遂辞别祖师南行,居于广州制止寺。”²
正是这一指示,开启了他人生的重要转折,使他南下至交州(今越南),并在此成为以其名命名的禅宗开山祖师——毘尼多流支禅派,这是越南佛教史上最早的禅宗流派之一。
约于6世纪末(580年),禅师来到越南,驻锡于法云寺(即今北宁省的滔寺)。在此期间,他在中国已译《象头精舍经》之后,又译出《大乘方广总持经》。《禅苑集英》记载:
“约在大帝六年,他译出《象头经》及《报业差别经》。至庚子年(580年)大祥二年三月,进入我国,居此寺(法云寺),又译《总持经》。”³
在法云寺弘化期间,禅师收法贤为弟子。由此,毘尼多流支禅派在越南正式奠基,开启了融合印度思想与交州文化实践的禅学传统。
毘尼多流支禅派
毘尼多流支禅派在越南的建立,不仅是宗教传播的过程,更是一个独立佛教思想体系的形成。该禅派源于印度大乘佛教思想,尤其受到般若、三论及华严等哲学体系的影响。
在此基础上,禅派倾向于超验思维,追求对绝对实在本体的认知。然而,该禅派并未走向纯粹理论化或封闭的经院路线,而是与密教因素有所融合,从而拓展修行方式并更易接引大众。
尽管强调“不立文字”的精神,毘尼多流支禅派并不否定经典的作用。相反,经论研究仍被视为开启智慧的重要基础,并结合禅观实践以达证悟。这体现出其修行方法的灵活性,即不绝对化单一路径,而是在理论与实践之间取得平衡。
该禅派的另一重要特点是入世倾向,不脱离社会生活。其禅师运用风水术、谶纬以及民间信仰等本土文化元素,作为“善巧方便”,引导人们接近佛法。正是这种适应性,使禅派迅速在交州扎根,形成贴近社会生活的佛教形态。
该禅派主张超越“有”与“空”等二元对立,迈向更高层次的认知,在那里一切对待皆得融通。在人生层面,这一精神体现为超越“生”与“死”,趋向心灵的绝对自在。
因此,毘尼多流支禅派在越南的建立,不仅标志着早期禅宗的出现,也开启了一条富有民族特色的发展路径,将深邃的形而上思想与现实生活相融合,使越南佛教在初期便呈现出独特面貌。
传承
毘尼多流支禅派共传19世,计49人:
第一世:毘尼多流支(594年圆寂)
第二世:法贤(626年卒)
第三世:慧严(传法于第四世清辩)
第四世:清辩(686年卒)
第五世:一人,失载
第六世:一人,失载
第七世:龙泉(南阳寺)
第八世:定空(808年卒)及二人失载
第九世:通善及二人失载
第十世:罗贵安(936年卒)、法顺(991年卒)、摩诃摩耶(1029年卒)等
第十一世:禅翁(979年卒)、崇范(1087年卒)等
第十二世:万行(1018年卒)、定慧、道行(1112年卒)、持钵(1117年卒)、纯真(1101年卒)等
第十三世:慧生(1063年卒)、禅岩(1163年卒)、明空(1141年卒)、本寂(1140年卒)等
第十四世:庆喜(1142年卒)等
第十五世:戒空、法融(1174年卒)等
第十六世:智、真空(1100年卒)、道林(1203年卒)
第十七世:妙因(1113年卒)、圆学(1136年卒)、静禅(1193年卒)等
第十八世:圆通(1151年卒)等
第十九世:仪山(1213年卒)等
圆寂
594年,禅师毘尼多流支于法云寺圆寂,结束其在交州长达14年的弘法历程。其弟子法贤为其举行火葬仪式,收集舍利并建塔供奉。
后来,在李太宗(1028—1054)时期,国王作偈赞颂其道行与弘法功德:
自南来此国
云君久习禅
应开诸佛信
远合一心源
楞伽明月朗
般若莲花鲜
何时得相见
共话妙玄言
译文:
来至南方传法
堪称宿世高禅
开启佛陀信仰
契合一心本源
楞伽明月皎洁
般若莲香流传
何时得以相见
共谈玄妙法言
注释
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 165 – 166.
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 166.
- Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học, 1990, tr. 166.
参考文献
- Khuyết danh (1990), Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ & Nguyễn Thúy Nga (dịch), Nxb Văn học.
- Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Bản ebook Thư viện Hoa sen.
- Tư tưởng thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi với Phật giáo Việt Nam đương đại (kỳ 1)
