Cư sĩ Hiệp Đức Hầu (1653–1675)

Cư sĩ Hiệp Đức Hầu (1653–1675)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Cư sĩ là con trai thứ tư của Hiền vương Nguyễn Phước Tần (1648 – 1687) Và chánh phi Châu Thị Viên. Tên là Hiệp hay Thuần , sinh năm Quý tỵ (1653); trưởng thành được phong chức Chưởng dinh, tước Hiệp Đức Hầu. Năm Nhâm tý (1672), Tây Định Vương Trịnh Tạc rước vua Lê Gia Tông ngự giá thân chinh, đem hơn mười vạn quân Bắc hà quyết chiếm Phú Xuân tiêu diệt họ Nguyễn. Theo sự suy cử của triều thần, Hiền Vương phong công tử Hiệp làm nguyên sối, thống lĩnh tướng sĩ ra phòng tuyến Trấn Ninh – Quảng Bình để ngăn chống- Chính nhờ uy phong, tài đức của Cư sĩ mà mưu đồ của chúa Trịnh bị đập tan. Từ đó ngọn lửa chiến tranh tắt hẳn, hai miền Nam Bắc nghỉ binh, hưởng cảnh hòa bình hơn trăm năm Sau chiến công lẫy lừng này, vốn là một Phật tử thuần thành, Cư sĩ bị xúc động mãnh liệt trước cảnh núi xương, sông máu, huynh đệ tương tàn, bèn tha hết tù binh, cấp phát tiền gạo cho trở về Bắc, không giết một người nào; lại lập đàn tràng bên trong lẫn bên ngoài lũy Trấn Ninh để siêu độ, chẩn tế cho tướng sĩ trận vong cả hai phe Trịnh – Nguyễn. Mùa xuân năm Quý sửu (1673), Cư sĩ đem quân khải hồn, được Vương phụ ban thưởng trọng hậu, danh vọng vang khắp Nam hà. Nhưng Cư sĩ tạ từ phú quý vinh hoa, xa lánh tửu sắc, lập am thờ Phật, chuyên cần tu niệm. Ngày 15 tháng 6 năm ất mão (1675) Cư sĩ lìa đời vì bệnh đậu mùa lúc mới 23 tuổi. Cả nước đều thương tiếc, Hiền Vương phong tặng Cư sĩ: Minh Nghĩa Tuyên Lực Công Thần, Khai Phủ Phụ Quốc Thượng Tướng Quân, Cẩm Y Vệ Tả Quân Đô Đốc Chưởng Phủ Sự, Thiếu úy Hiệp Quận Công; ban tên thụy: Tồn Tiết, lập từ đường và an táng tại làng Vân Thê. Về sau mộ Cư sĩ cải táng lên vùng núi làng Hiền Sĩ ở Quảng Điền (Thừa Thiên). Cư sĩ sinh hạ được bốn con trai: Nhuận – Lệ – Thiều – Phan.

Triều Gia Long, năm thứ tư (1806), Cư sĩ được liệt vào hạng Thượng đẳng khai quốc công thần, cho thờ theo ở Thái Miếu.

Triều Minh Mạng năm thứ 12 (1831), truy tặng Khai Quốc Công Thần, Tôn Nhơn Phủ Tả Tôn Chánh, Tráng Võ Đại Tướng Quân, Trung Quân Đô Thống Phủ Chưởng Phủ Sự; đổi tên thụy là Hiến Nghị , cải phong Quốc Oai Công.

Ngày nay, phủ thờ vẫn còn tại Vân Thê (Hương Thủy,Thừa Thiên), bên trong tôn trí di tượng của Cư sĩ theo phong cách người tu hành.

Ông là tổ của phòng 4 (Quốc Oai Công), hệ 5 (Thái Tôn Hiếu Triết Hồng Đế). Chánh sử và phổ hệ thì ghi như trên, tuy nhiên căn cứ vào sách Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí (tức Việt Nam khai quốc chí truyện) của Bảng Trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm (1659 – 1736), một văn thần tín cẩn thời Minh Vương và Ninh Vương, biên soạn vào năm 1719, ta thấy có sự khác biệt về vị thứ và năm sinh: Hiệp Đức Hầu là công tử thứ hai, sinh năm Quý mùi (1643). Cư sĩ là em cùng mẹ với Thế tử Phước Mỹ Hầu Diễn (hoặc Hán – mẹ là chánh phi họ Châu). Vì hai người đều mất trước Hiền Vương, nên công tử thứ ba là Hồng Ân Hầu Thái (hay Ngạn) được nối ngôi chúa vào năm Đinh mão (1687) (tức Nghĩa Vương, thường bị ghi lầm tên Trăn) công tử thứ tư là Cương Lĩnh Hầu Trăn. Hai người sau là con bà thứ phi Tống Thị Đôi (con gái của Thiếu phó Quận công Tống phước Khương, người Thanh Hóa). Nếu đúng thế thì công tử Hiệp (Hiệp Đức Hầu hay Quốc Oai Công) là anh của Nghĩa Vương và phải sinh vào năm Quý mùi – 1643 mới hợp lý. (Điều này có thể dựa theo sách Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán viết vào năm 1696, chứng minh thêm). Cư sĩ được phong nguyên soái , chỉ huy hai trận đại chiến vào năm 1662 Và 1672, kết thúc chiến tranh Trịnh – Nguyễn. Trả xong nợ quân thân, Cư sĩ về lập am thờ Phật tại xã Khách Quán, tiêu dao tu hành. Đạo phong siêu việt của Cư sĩ được ví với Mộc Y Hòa thượng (Mộc Công) một danh tăng đương thời. Cư sĩ mất vào ngày 15 tháng 6 năm Ất mão, lúc mới 33 tuổi. Điều rất đáng ngạc nhiên là trong sách Lịch sử Phật Giáo Đàng Trong (LSPGĐT), nhà nghiên cứu Nguyễn Hiền Đức công bố sự việc cuối đời Hiệp Đức Hầu, hồn tồn khác hẳn vời sử sách xưa nay: “Ông tên là Chiểu hay Thuần (thế thứ và năm sinh, mất đều đúng theo quốc sử). Thuở nhỏ cùng gia đình qui y với Thiền sư Minh Châu Hương Hải tại Thiền Tịnh Viện, núi Quy Cảnh, Thuận Hóa. . . Có lẽ đã thọ giáo với Tổ sư Viên Khoan Đại Thâm và được ban Pháp danh Minh Thiện ? Sau chiến thắng 1672, Cư sĩ ngộ được lý đạo Phật, nên từ bỏ quan tước xuất gia tu hành. Cư sĩ đi vào Nam để tham kiến Tổ sư Giác Phong tại Bình Định. Sau đó lấy đạo hiệu là Giác Sanh Thiền Hòa Tử. Đến trấn Bình Khang (Khánh Hòa), Cư sĩ lập chùa Minh Thiện, trên núi Bút Sơn (1674) để tu niệm và giáo hóa rộng rãi. Ngày rằm tháng 6 Ất mão, Cư sĩ an nhiên viên tịch. Đồ chúng, quan dân ở địa phương làm lễ hỏa táng, thu một nửa xá lợi nhập vào tháp tại chùa. Một nửa thì đưa về an táng tại vùng núi làng Hiền Sĩ. Chúa Hiền ban thụy hiệu là Tịnh Đức Phổ Chiếu Hòa thượng”(1).

Phát hiện mới lạ trên, không biết tác giả căn cử theo truyền thuyết dân gian, (Bản thảo: Lược sử chùa Sắc tứ Minh Thiện của giáo thọ Huệ Đăng, biên soạn năm Mậu thìn – 1988) hay có cứ liệu xác thực chứng minh ? Nên nhớ: Hiệp Đức Hầu đối với hồng tộc Nguyễn là một vị thân vương danh tiếng. Võ công của Cư sĩ được xếp vào thượng đẳng thời các chúa. Khi Cư sĩ mất, Hiền Vương (cha) đã làm quốc tang theo tước Công. Dòng dõi của Cư sĩ hiển đạt cho đến cận đại. Nếu sự kiện cuối đời của Cư sĩ “xuất gia – viên tịch” như trong LSPGĐT viết, có lẽ nào quốc sử lẫn tộc phổ chẳng hề ghi lại một dòng để cho đời sau hay biết ?

 (Trần Đình Sơn, Nxb Trẻ 2001)

Tham khảo các bộ sách:

– Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (Quốc sử quán, Thiệu Trị thứ 4 – 1844)

– Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (Quốc sử quán – Tự Đức thứ 5 – 1852)

– Tiên Nguyên Tốt Yếu Phổ (Phò quang Quận công Tôn Thất Hân – Khải Định thứ 2 – 1917).

Chú thích:
1. Nguyễn Hiề n Đức, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, tập I, II (TP. HCM : NXB Thành phố, I995).  

Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 1, xuất bản 2011.

Chấm điểm
Chia sẻ
Cu si hiep duc hau 1653

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)