Tướng Lý Triện (? – 1427)

Tướng Lý Triện (? – 1427)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Lý Triện là người làng Bái Đô, huyện Lôi Dương, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Ông là công thần khai quốc nhà Lê sơ.

Lý Triện tham gia nghĩa quân Lam Sơn dưới cờ Lê Lợi từ những ngày đầu, lập nhiều chiến công ở Thanh Hóa, Nghệ An và miền Bắc, tiêu biểu nhất là trận Tốt Động – Chúc Động khi ông và Đinh Lễ, Nguyễn Xí phá tan quân Minh do Tổng binh Vương Thông chỉ huy. Sử gia Ngô Sĩ Liên cho rằng ông cùng với Đinh Lễ là những vị tướng giỏi nhất của nghĩa quân Lam Sơn1. Sau khi mất, ông được vua ban quốc tính, gọi là Lê Triện.

Cha ông là Lý Ba Lao (sau được ban quốc tính, gọi là Lê Ba Lao). Con trai ông là Lý Lăng hay Lê Lăng là người có công phò lập vua Lê Thánh Tông, từng làm đến chức Thái úy.

Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn

Năm 1420, tướng Minh là Lý Bân và Phương Chính đem quân qua vùng đất của thổ tù Quỳ Châu là Cầm Lạn vào Mường Thôi đánh quân Lam Sơn. Lý Triện cùng Lê Lý, Phạm Vấn mang quân ra chặn địch, phối hợp với quân chủ lực của Lê Lợi phục binh đánh bại quân Minh ở Bồ Mộng.2

Năm 1422, quân Minh huy động thêm quân của nước Ai Lao (Lào) hai đường đánh tới, Lê Lợi rút về Sách Khôi (nay thuộc Thanh Hóa). Quân địch dồn đại binh kéo tới bao vây. Lý Triện được lệnh cùng Lê Lĩnh, Phạm Vấn mang quân ra tử chiến, chém được tướng địch là Phùng Quý và hơn 1000 quân, bắt được hơn 100 ngựa, Mã Kỳ và Trần Trí thua chạy về Đông Quan (Hà Nội), quân Ai Lao cũng bỏ chạy. Năm 1423, quân Lam Sơn bị địch vây tuyệt lương mấy tháng. Lý Triện cùng các tướng tuần tra vỗ về quân sĩ, và vẫn theo sát Lê Lợi không hề trễ nải.

Sau thời kỳ giảng hòa với quân Minh để củng cố thực lực, năm 1424, quân Lam Sơn và quân Minh khai chiến trở lại. Năm 1425, quân Lam Sơn vây đánh Nghệ An, Lý Triện làm hậu viện cho Đinh Lễ ra đánh úp Tây Đô (Thanh Hóa). Lý Triện đi đường tắt đánh bại quân Minh, địch phải rút vào cố thủ trong thành. Ông được phong làm Thiếu uý.

Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh Bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lý Triện mang 3000 quân, một thớt voi ra phía Tây Bắc; Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông Bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.

Tiến theo đường tắt đến gần Đông Quan, cánh quân của Lý Triện gặp tham tướng quân Minh là Trần Trí. Trí thấy quân Lam Sơn ít nên mang hết quân ra đánh. Ông cùng các tướng hợp sức đánh bại được Trí ở Chương Đức, tiến lên đắp luỹ ở phía tây Ninh Giang. Trần Trí bại trận liền cầu viện Lý An, Phương Chính ở Nghệ An. An và Chính đem quân vượt biển ra bắc tiếp viện cho Đông Quan.

Trận Tốt Động – Chúc Động

Nghe tin viện binh nhà Minh từ Vân Nam do Vương An Lão chỉ huy sắp tiến sang theo đường Hưng Hoá. Lý Triện bèn cùng Phạm Văn Xảo chia quân làm hai cánh: Phạm Văn Xảo cùng Trịnh Khả tiến lên Tây Bắc đánh chặn Vương An Lão, còn Lý Triện đóng ở đồn phía tây Ninh Giang (đoạn sông Đáy chảy qua các huyện Hoài Đức, Quốc Oai, Chương Mỹ, Thanh Oai của tỉnh Hà Tây cũ) uy hiếp Đông Quan. Tháng 9 năm 1426, Lý Triện đánh tan quân Minh ở cầu Nhân Mục, chém hơn 1000 quân địch, bắt được tướng Vi Lượng. Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả đánh tan viện binh Vân Nam, quân Minh thua trận bỏ chạy vào thành Tam Giang.

Thấy quân chủ lực của địch bỏ Nghệ An, Lê Lợi mang đại quân tiến ra đóng ở Thanh Hóa. Vua Minh điều Vương Thông mang quân sang tiếp viện. Thông hợp binh ở Đông Quan được 10 vạn người, thấy quân mình liên tiếp bại trận dưới tay Lý Triện chia ba đường cùng đánh đạo quân của ông: Thông tự cầm một cánh quân đóng ở Cổ Sở, Phương Chính và Lý An đóng ở cầu Sa Đôi (Từ Liêm), Sơn Thọ và Mã Kỳ đóng ở cầu Thanh Oai, dinh luỹ các đạo quân nối dài vài chục dặm, chúng rêu rao rằng chỉ cần đánh một trận là bắt được toàn bộ nghĩa quân.

Trước thế quân Minh mạnh, Lý Triện và Đỗ Bí quyết định chủ động đánh từng cánh quân. Ông đặt phục binh ở Cổ Lãm (thuộc huyện Thanh Oai) rồi mang quân khiêu chiến trại của Thọ và Kỳ trước rồi giả thua chạy. Thọ và Kỳ mang quân đuổi theo, đến vùng ruộng lầy, phục binh của Lý Triện đổ ra đánh, quân Minh thua to. Hai tướng Minh bỏ chạy về Cổ Sở. Lý Triện thừa thế đánh sang quân Phương Chính, Chính cũng bỏ chạy về với Vương Thông.

Lý Triện nhân đà thắng lợi, hôm sau tiến đánh Vương Thông ở Cổ Sở. Thông thấy quân bị thua đã phòng bị trước, quân Lý Triện bị đánh bại phải rút chạy. Ông phá huỷ trại cũ và sai người cầu cứu Đinh Lễ, Nguyễn Xí. Hai cánh quân họp nhau ở Cao Bộ. Nguyễn Xí bắt được gián điệp của Vương Thông, biết Thông định chia đường đánh úp quân Lý Triện bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào cánh đồng Tốt Động, Chúc Động. Bộ quốc sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục do sử thần thời Nguyễn biên soạn có thuật lại về trận Tốt Động – Chúc Động như sau: “Nghe nói các tướng Đinh Lễ và Lê Xí đang đóng quân ở Thanh Đàm, Triện liền sai báo gấp cho họ đến tiếp ứng. Bọn Lễ và Xí lựa lấy ba nghìn quân tinh nhuệ và hai thớt voi, tức tốc ngay ban đêm, đến hội quân ở Cao Bộ. Họ chia quân đặt phục ở Tốt Động và Chúc Động.

Bắt được gián điệp của địch, ta biết Thông đã tiến đóng ở Ninh Kiều, ngầm cho kỳ binh đi rảo đến phía sau quân Triện, còn chính binh của Thông thì sẽ vượt sông tiến lên phía trước. Chúng hẹn nhau hễ nghe nổ pháo, thì các đạo quân địch đồng thời đánh khép lại. Hồi trống canh năm đêm ấy, bọn Lễ sai quân nổ pháo ở nơi yếu hại để đánh lừa địch. Địch nghe tiếng pháo, mọi đứa đều đổ xô đi chiếm lấy thuận lợi. Chúng lùa quân đi tắt vào. Bấy giờ trời mưa, đường lầy lội, chúng kéo đến Tốt Động, bị phục binh ta bốn bề nổi dậy. Quân ta hợp sức lại, hăng hái chiến đấu, cản phá được địch.”3

Trận Tốt Động – Chúc Động kết thúc với thắng lợi giòn dã của nghĩa quân Lam Sơn do Lý Triện và các tướng khác chỉ huy. Bên phía quân Minh, Binh bộ thượng thư Trần Hiệp, Nội quan Lý Lượng và 5 vạn quân tử trận 1 vạn quân bị bắt sống. Số quân chết đuối ở sông Ninh Giang cũng rất nhiều, làm tắc nghẽn cả khúc sông. Ngoài ngựa, ta tịch thu được quân tư khí giới nhiều không kể xiết. Vương Thông bị thương, cùng Phương Chính và Mã Kỳ về cố thủ ở Đông Quan.

Nhận định về thắng lợi ở Tốt Động – Chúc Động, Nhà bác học Lê Quý Đôn cho biết: “Từ sau chiến thắng Tốt Động quân ta bèn vây Đông Đô. Sĩ dân ở các phủ huyện hưởng ứng rầm rộ. Những người hào kiệt trí dũng theo về như đi chợ. Thành trì giặc các nơi lần lượt bị phá hoặc xin hàng, mà 3 ty nhà Minh phải đóng cửa thành tử thủ, thế cùng bức bách phải xin hòa. Trong khoảng một năm, cả nước được bình định. Đó đều là công của bọn các ông Lê Lễ, Lê Triện.4

Hy sinh

Lê Lợi nghe tin thắng trận bèn tiến đại quân ra bắc vây hãm Đông Quan. Mùa Xuân năm Đinh Mùi (1427), đóng quân ở phía Bắc sông Lô. Nhà vua sai các tướng chia nhau tuần phòng. Lý Triện lĩnh 2 vạn quân giữ cửa phía Bắc là cửa ngõ xung yếu nhất. Tháng 2 năm đó, tướng Minh là Phương Chính kéo ra ngoài đánh úp động Quả (thuộc Từ Liêm). Lý Triện và Đỗ Bí ra sức đánh trả nhưng bị thua, Lý Triện hy sinh còn Đỗ Bí bị bắt, sau Vương Thông rút về mới được trao trả. Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép về sự kiện này: “Tháng 2, ngày mồng 7 (1427), Phương Chính ngầm đem quân đánh úp Cảo Động (tức Nhật Tảo), huyện Từ Liêm, Triện cố sức đánh lại, bị tử trận, Bí bị giặc bắt sống. (Sau giặc về nước, lấy lễ trả Bí về).”5

Sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) cho rằng Lý Triện lập nhiều đại công mà lại chết vì việc nước nên rất thương xót. Vua trao cho cha Lý Triện chức Quan sát sứ, tước Thượng phẩm, cấp 400 mẫu ruộng; con của Lý Triện là Lý Lăng làm Phòng ngự sứ, tước Thượng trí tự, tước Phục hầu, ban cho hai ngựa, đều được đổi sang họ Lê.

Năm 1428, Lý Triện được truy tặng chức Nhập nội tư mã. Năm 1460, vì con Lê Lăng có công, ông lại được gia tặng chức Hữu tướng quốc. Năm 1484, Lê Thánh Tông tặng là Thái bảo, Kỳ Quận công, về sau gia phong là Tây Kỳ vương.

Thờ phụng

Tương truyền, trong trận bị Phương Chính đánh úp ở động Quả năm 1472, dù đã bị thương, Lý Triện vẫn phi ngựa cố chạy về theo đường Lai Kinh đến bờ sông Giang Loan (nay là sông Bùi), ông xuống ngựa hỏi bà hàng nước bên đường về vết thương của mình. Lý Triện nhờ bà hàng nước băng bó vết thương rồi lên lưng ngựa tiếp tục đi thêm một đoạn đường nữa thuộc địa phận làng Yên Duyệt, xã Tốt Động thì cả người và ngựa đều thác ở đó (tương truyền là ngày 10/2/1427). Để tưởng nhớ công ơn của ông, Nhân dân lập lăng mộ, đình Yên Duyệt thờ ông là Thành hoàng làng. Bà hàng nước giúp đỡ băng bó vết thương cho tướng quân Lý Triện cũng được lập đền thờ gọi là đền nhà Bà.

Bên cạnh đó, ông còn được nhân dân quê hương Bái Đô (sau thuộc xã Xuân Bái, Thọ Xuân, Thanh Hóa; nay là xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa) thờ phụng tại đền Bái Thượng.

Chú thích

[1] Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Khoa học xã hội, 1998, tr. 266.

[2] Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2007, tr. 212 – 213.

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 1, Nxb Giáo dục, 2007, tr. 767 – 768.

[4] Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Sđd, tr. 205 – 206.

[5] Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Sđd,  tr. 265.

Tài liệu tham khảo

  1. Lê Quý Đôn (2007), Đại Việt thông sử, Nxb Văn hóa – Thông tin.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 1, Nxb Giáo dục.
  3. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Khoa học xã hội.
5/5 (2 bình chọn)
Chia sẻ
Ly Trien

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)