Chùa Tuyết Sơn (Hải Lộc, Nghệ An)

Chùa Tuyết Sơn (Hải Lộc, Nghệ An)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Tuyết Sơn còn có tên gọi khác là chùa Hải Thanh. Trong đó, Tuyết Sơn là tên gọi của Phật Thích-ca-mâu-ni thời kỳ Người tu hành khổ hạnh của dòng Bà La Môn ở núi Tuyết (Ấn Độ). Tên chùa được đặt theo tên của Phật Thích ca giai đoạn này nên được gọi là chùa Tuyết Sơn.. Còn về tên gọi Hải Thanh, xưa kia chùa được xây dựng tại làng Hải Thanh nên nhân dân lấy tên địa danh đặt tên cho chùa.

Hiện nay, chùa Tuyết Sơn tọa lạc tại xã Hải Lộc, tỉnh Nghệ An.

Lịch sử và nhân vật

Căn cứ vào năm khởi dựng được khắc trên bờ tường mặt tiền Chính Điện chùa, được biết chùa khởi dựng vào năm thứ 9 niên hiệu Cảnh Thịnh (1801). Sơ khai chùa được xây dựng trên khu đất hình chữ nhật, dài 85m, rộng 82m, với tổng diện tích khoảng 6.970m². Bao quanh khuôn viên là hệ thống cây cổ thụ rậm rạp ở cả bốn phía, mỗi lối cây rộng khoảng 5m, tạo nên một không gian tĩnh lặng, u tịch.

Bước sang thế kỷ XX, nhờ vị trí nằm giữa cánh đồng và cấu trúc hậu cung kín đáo, chùa Tuyết Sơn trở thành địa điểm quan trọng phục vụ nhiều hoạt động cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chùa là nơi luyện tập quân sự của bộ đội và dân quân, đồng thời là địa điểm hội họp bí mật của cán bộ Đảng và chính quyền địa phương, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa năm 1945. Từ năm 1949 đến 1955, chùa còn được sử dụng làm trường học cho con em trong vùng.

Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa tiếp tục giữ vai trò là cơ sở cách mạng quan trọng. Đây vừa là nơi làm việc của Đảng ủy và chính quyền xã, vừa là kho cất giấu vũ khí, đạn dược phục vụ chiến đấu. Đặc biệt, trong giai đoạn 1965 – 1972, chùa được sử dụng làm kho chứa các loại đạn pháo phục vụ tác chiến trên biển như đạn 75mm, 85mm, 120mm và nhiều loại vũ khí khác.

Với những đóng góp đó, chùa Tuyết Sơn không chỉ là một công trình tôn giáo mà còn là di tích hội tụ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc đặc sắc của địa phương.

Kiến trúc cảnh quan

Ngày nay diện tích chùa chỉ còn khoảng 869m².

Tam Quan, sân và vườn chùa

  • Tam Quan được phục dựng năm 2006, bằng chất liệu chủ yếu là gạch, ngói, xi măng. Kết cấu kiến trúc kiểu tam quan lợp mái. Cổng có hai bộ phận chính: hệ thống thân trụ và hệ thống mái. Hệ thống thân trụ của cổng gồm có 4 trụ, bố trí như sau: Ở giữa là hai cột trụ bố trí đăng đối, mỗi cột cao 4,2m (0,5m x 0,5 m). Khoảng cách giữa hai cột trụ này là 2,5m, tạo thành cổng chính của tam quan. Phía trước của 2 trụ giữa, được nhấn câu đối, nội dung:

Phiên âm: Uy nghiêm tự tại pháp thần linh Quốc thái dân an dực thịnh vượng
Tạm dịch: Uy nghiêm tự tại phép thần linh thiêng Quốc thái dân an vận hội thịnh vượng.

  • Hai bên tả, hữu của hai trụ giữa nói trên là hai trụ nhỏ hơn, cao 2,5m, khoảng cách giữa trụ giữa và trụ nhỏ là 1m, tạo thành lối đi của hai cổng tả, hữu. Mặt trước của hai trụ nhỏ được nhấn đôi câu đối bằng chữ Hán, nội dung:

Phiên âm: Nam phương môn đường nhưng quang hạo Công đồng phật thánh hạ lai lâm
Tạm dịch: Nhà của phương nam sáng sủa rực rỡ Công đồng phật thánh cùng giáng lâm.

  • Hệ mái, lợp ngói vảy, trên bờ nóc của lối đi giữa trang trí đề tài “lưỡng long chầu nhật”, dưới hệ mái nhấn 3 chữ Hán, nội dung: “Tuyết Sơn tự” (Chùa Tuyết Sơn), đỉnh của hai cột ở giữa đặt hai búp sen. Trong khi đó, đỉnh của 2 cột 2 bên đặt 2 con nghê trong tư thế ngồi chầu vào nhau. Dưới hệ mái ghi ngày tháng phục dựng, nội dung: 15 tháng 4 năm 2006.
  • Sân chùa có diện tích 322m2 (22,1m x 14,6m) gồm cả phần trong và ngoài cổng, nền lát gạch đất nung kích thước (0,15m x 0,15m). Trên sân bài trí một lư hương bằng đá cao 0,7m, đường kính 0,4m, mặt trước chạm hình hổ phù, hai bên hông là hai đầu rồng cách điệu vươn lên ngậm lấy miệng lư hương.
  • Phía sau lư hương đặt 1 ban thờ với nhiều pho tượng phật bằng đá mới được các Phật tử cung tiến sau này.
  • Bên trái sân (nhìn từ trong ra) theo tứ tự từ ngoài vào là tượng Quan thế âm Bồ tát do Phật tử mới cung tiến; cột thiên đài được đặt trên lưng rùa, Thiên đài được xây theo kiểu chồng diêm, trước bài trí 2 con nghê đá chầu vào lư hương bằng xi măng, kích thước: cao 0,5m, đường kính 0,3m; 1 bàn thờ bằng đá cao 0,6m, rộng 0,5m, dài 1m, cuối cùng là tấm bia đá cũng do Phật tử mới công đức
  • Vườn chùa có diện tích 400m, trồng những cây linh thiêng như: đại, đề, má, sung, trúc, vừa tạo bóng mát, cảnh quan cho chùa, vừa tạo nên cảm giác linh thiêng, kì bí nơi chốn thâm nghiêm, tĩnh mịch.

Tiền Đường

Tiền đường có diện tích 40,5m² (7,3m x 5,55m) gồm 1 gian, hai hồi, hai phía xây tường, dày 0,2m. Độ cao từ đỉnh xuống nền nhà là 3,97m.

Hệ mái: kết cấu gồm 4 mái với 2 mái chính ở phía trước, sau phủ kín công trình, 2 mái phụ ở hai bên che kín hai hồi tạo nên sự hài hoà, cân đối. Mái lợp ngói âm dương. Độ dài theo chiều dốc của mái là: Mái trước 3,9m, mái sau 3,9m, mái hồi 2,5m

Số lượng và số đo 3 chiều rui, hoành như sau:

  • Rui mái trước: 46 thanh, kích thước: 0,09m x 0,02m x 3,9m
  • Rui mái sau: 46 thanh, kích thước: 0,09m x 0,02m x 3,9m
  • Rui hai mái hồi: 30 thanh, kích thước: 0,09m x 0,02m x 2,5m
  • Hoành 13 thanh, kích thước: 0,09m x 0,07m x 3m.
  • Thượng lương: 0,14m x 0,06 x 3m.

Nâng đỡ mái nhà là hệ thống khung nhà bằng gỗ với 2 bộ vì được làm theo kiểu “thượng cung hạ kẻ”. Đinh của bộ vì là chiếc đấu hình thuyền, đỡ lấy thượng lương, tỳ lực lên hai thanh kẻ chụm vào nhau ăn mộng qua thanh giả thủ. Các kẻ tiếp tục ăn mộng qua cột cái, câu đầu, cột quân rồi quay ra đỡ lấy hoành. Giả thủ tỷ lực lên câu đầu, câu đầu liên kết với hai cột cái tại đỉnh cột. cột cái trốn, tỷ lực lên quá giang bằng đấu vuông. Các cột trong Tiền đường đều được đặt trên những hòn đá tảng hình vuông kích thước (0,35m x 0,35m), cao 0,07m. Tổng cộng, nhà có 8 cột, trong đó có 4 cột cái (trốn 2 cột), 4 cột quân. Kích thước các cột như sau:

  • Cột cái: cao 3,25m, đường kính 0,23m
  • Cột quân: cao 2,75m, đường kính 0,22m
  • Số đo kết cấu dọc: 2,25m – 2,8m – 2,25m.
  • Số đo kết cấu ngang: 0,95m-0,75m-2,05m -0,9m – 0,9m.

Hệ thống cửa Tiền đường được làm theo kiểu Pa nô gồm 2 cánh có kích thước bằng nhau: cao 1,8m, rộng 0,5m, được đặt trên ngạch cửa dài 5,4m. Phía sau để trống thông với Chính điện. Hai phía còn lại xây tường dày 0,2m. Nền nhà được lát gạch đất nung, kích thước (0,2m x 0,2m).

Trên hệ mái: bờ nóc trang trí “lưỡng long chầu nhật” chất liệu bằng xi măng. Các nghệ nhân đã tạo hình đầu rồng chầu về phía mặt trời, đuôi uốn lượn ra hai bên, các đường nét tạo hình thanh thoát, sắc nét. Tại các cấu kiện gỗ chỉ bào trơn, soi chỉ.

Tiền đường bài trí 3 cung thờ như sau:

  • Cung giữa: bài trí 1 hương án hai tầng: tầng 1 cao 1,3m, dài 1,7m, rộng 0,8m, tầng 2 cao 1,4m, dài 1,7m, rộng 0,6m. Trong cùng đặt bộ tượng Thích ca Tam tôn mới được phật tử cung tiến, gồm Phật Thích ca mâu ni đứng giữa, bên phải là Văn thù Bồ tát, bên trái là Phổ hiền Bồ tát; 1 lư hương đồng cao 0,3m, đường kính 0,25m, mặt trước trang trí đề tài “lưỡng long chầu nhật”. Trước hương án đặt 1 đôi hạc đứng trên lưng rùa cao 1,3m, sơn son thiếp vàng. Trên cột quân của hai bên treo đôi câu đối bằng chữ Hán, nội dung:

Phiên âm: Tam giáo tuyên dương thần tự tại Tông đồ trì tụng phật như lai
Tạm dịch: Hiển dương tam giáo thần tự tại Đệ tử theo gót phật như lai

Trên hoành treo bức Hoành phi bằng chữ Hán, nội dung: “môn trung đường”.

  • Cung tả thờ Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn: Tại đây, bài trí một hương án có kích thước: cao 1,25m, dài 1,4m, rộng 0,7m, chia ô với nhiều kích thước to, nhỏ đan xen, trang trí theo các đề tài truyền thống như long, ly, quy, phượng, nét khắc mềm mại, tinh tế. Trên hương án đặt 1 pho tượng ngồi trong long ngai: tượng cao 1m, ngồi trong long ngai, hai tay ngửa ra đặt trên đầu gối, Long ngai có kích thước: cao 1m, khoảng cách giữa các tay ngai là 0,45, các mặt và đế ngai trang trí “tứ linh, tứ quý” với hình thức chạm lộng kết hợp chạm boong kênh tạo nên những đường nét hoa văn tinh tế.
  • Cung hữu thờ Tam toà Thánh mẫu: Tại đây, bài trí một hương án kích thước và trang trí như cung tả. Trong cùng đặt 3 pho tượng trong tư thế ngồi xếp bằng, hai tay ngửa ra đặt trên đầu gối. Bà ngồi giữa mặc trang phục vàng là mẫu Liễu Hạnh, bà mặc trang phục xanh chính là mẫu Thượng Ngàn và người mặc trang phục trắng, yếm xanh chính là mẫu Thoải. Các tượng cao 0,35m. Ngoài cùng, bài trí 1 một lư hương kích thước tương tự như lư hương ở cung phải.

Sân lộ thiên có diện tích 27,7m² (7,3m x 3,8m), nền lát gạch đất nung kích thước 0,15m x 0,15m. Trên sân đặt 1 lư hương bằng xi măng cao 0,6m, đường kính 0,35m, hai bên cách điệu thành hai tay cầm.

Chính điện

Chính điện có diện tích 25m² (5,95m x 4,2m) gồm 2 gian dọc với kiến trúc gốc rất độc đáo hình vòm cuốn, xây bằng đá dày 0,59m. Độ cao từ đỉnh xuống nền nhà là 4,1m.

Hệ mái: gồm hai mái. Chiều dài mái 3,9m. 

Số lượng và số đo 3 chiều của rui, hoành:

  • Rui: 50 thanh, kích thước 0,08m x 0,02m x 2,6m
  • Hoành: 9 thanh, kích thước: 0,08m x 0,08m x 5,95m
  • Thượng lương: 0,14m x 0,06m x 3m.
  • Số đo kết cấu dọc: 3,25m – 2,7m
  • Số đo kết cấu ngang: 0,77m – 1,45m-0,8m

Hệ thống cửa: chính điện trổ 1 lối ra vào với 1 bộ của gồm 2 cánh, các cánh có kích thước và hình dáng giống nhau: cửa cao 1,75m, rộng 0,5m, được làm theo hình thức “thượng song hạ bản”. Phía trên treo bức đại tự bằng chữ Hán, hình cuốn thư, nội dung: Tuyết Sơn tự

Khung nhà được đỡ bởi hai trụ cột đá, kích thước (0,29m x 0,2m). Nền nhà được lát gạch đất nung, kích thước (0,2m x 0,2m).

Tại bức tường phía trong trang trí đề tài “lưỡng long chầu nhật”. Hai con rồng hai bên được khắc hoạ theo lối rồng ẩn trong mây với những đám mây đủ các hình dạng vờn xung quanh. Đây là bức hoạ nguyên bản từ lúc chùa được xây

dựng, dù trải qua hơn hai trăm năm tồn tại dưới sự khắc nghiệt của thời tiết mà vẫn giữ nguyên cơ bản được màu sắc và các đường nét. Điều đó thể hiện tay nghề đạt đến độ tinh xảo cũng như trình độ hiểu biết của nghệ nhân trong cách pha chế các phẩm màu tạo nên một bức tranh nghệ thuật trường tồn mãi với thời gian. Hai bên tường có đắp nổi câu đối bằng chữ Hán, nội dung:

Phiên âm: Tòa tiền khởi huống liên sinh bát Thánh phật đàm kinh thạch điểm di
Tạm dịch: Trước chùa tuyết nở hoa bát nhã Phật thánh thuyết kinh đá lặng thinh.

Chính điện bài trí thờ như sau:

  • Phía ngoài, ở hai bên cửa ra vào chính điện bài trí 2 pho Khuyến Thiện, Trừng Ác. Pho Khuyến Thiện mặt trắng, hiền lành, pho Trừng Ác mặt đỏ, đường nét thể hiện sự hung dữ. Cả hai pho đều mặc áo giáp, đội mũ Kim Khôi. Thân tượng bệ vệ, thể hiện sức mạnh của vị thần hộ pháp canh giữ chùa.
  • Phía trong: ngoài cùng là 1 bàn thờ chất liệu bằng bê tông: cao 1m, dài 0,8m, rộng 0,6m. Trước đặt 2 con hạc đứng trên lưng rùa cao 1,6m, trên bàn thờ đặt 1 đỉnh hương bằng đồng cao 0,35m, hai bên có tay cầm cách điệu thành hình rồng, trên cùng là hình sư tử trong tư thế ngồi; 2 cọc nến đồng cao 0,25m, dật thành nhiều cấp có hình dạng khác nhau; 1 mâm cổ bồng bằng sứ cao 0,25m, đường kính 0,3m.

Tiếp theo là bàn thờ 2 cấp:

  • Cấp 1: cao 1,2m, dài 0,6m, rộng 0,5m. Trên đặt tượng Thích ca sơ sinh cao 0,5m, quấn chéo miếng vải màu vàng từ hông bên này lên vai bên kia, tay chỉ thiên.
  • Cấp 2: cao 1,4m, dài 0,6m, rộng 0,5m. Trên đặt 3 pho tượng. Pho ở giữa có kích thước lớn nhất chính là Tuyết Sơn, cao 1m, ngồi trên đài sen trong tư thế kiết già toàn phần, tay ấn thủ pháp “Thiền định ấn 36, búi tóc hình xoắn ốc, thân hình gầy gò, mặt khắc hoạ nhiều nếp nhăn, mắt mở to nhìn về phía trước thể hiện sự đăm chiêu, khắc khoải xót xa vì đời. Bên trái Tuyết Sơn là Phật A Di Đà cao 0,7m, ngồi tĩnh toạ trên đài sen, mắt nhắm như tập trung cao độ để suy nghĩ. Bên phải là tượng Thánh Tăng, cao 0,5m tượng cũng trong tư thế ngồi, đầu đội mũ cánh sen.

Hiện vật

Hiện chùa còn lưu giữ 24 hiện vật thờ tự được thống kê vào di tích xếp hạng, trong đó có 4 hiện vật được xếp vào hàng cổ vật vốn có của chùa, hiện vẫn còn nguyên vẹn, gồm: 

  • 03 Mâm chè gỗ, niên đại triều Nguyễn, kích thước: dài 0,5m, rộng 0,3m, cao 0,35m, nặng 
  • 01 Tượng Địa Tạng Vương bằng gỗ, niên địa triều Nguyễn, kích thước: cao 0,5m, nặng 15kg
  • 01 Tượng A Di Đà bằng gỗ, niên đại triều Nguyễn, kích thước: cao 0,7m, nặng 20kg
  • 01 Tượng Tuyết Sơn bằng gỗ, niên đại triều Nguyễn, kích thước: cao 1m, nặng 40kg

Sự kiện và lễ hội

Tại chùa Tuyết Sơn, hệ thống lễ tiết diễn ra quanh năm, phản ánh đời sống tâm linh phong phú của cộng đồng Phật tử và nhân dân địa phương. Các ngày lễ chính theo Phật lịch gồm: lễ vía Đức Phật Di Lặc vào mồng 1 Tết Nguyên đán; lễ Thượng nguyên (rằm tháng Giêng); lễ cầu an toàn dân ngày 19 tháng Giêng; lễ vía Đức Phật Thích Ca xuất gia (mồng 8 tháng 2 âm lịch) và Niết bàn (rằm tháng 2); lễ Phật đản (rằm tháng 4); cùng lễ vía Bồ Tát Quan Âm thành đạo vào tháng 6 âm lịch.

Trải qua nhiều biến động lịch sử, hiện nay chùa vẫn duy trì ba kỳ lễ tiêu biểu với quy mô và ý nghĩa nổi bật:

Lễ Thượng nguyên (rằm tháng Giêng) là dịp thu hút đông đảo Phật tử và người dân trong vùng đến dâng hương, cầu mong một năm mới bình an, thuận lợi. Những người gặp hạn xấu thường làm lễ dâng sao giải hạn. Lễ vật được chuẩn bị giản dị, chủ yếu là hương, hoa, oản, xôi chè… thể hiện tinh thần “trọng tâm thành” của Phật giáo. Nghi thức gồm dâng lễ kèm sớ ghi rõ thông tin và nguyện vọng, thỉnh chuông, hành lễ và hạ lễ sau khi hương tàn.

Lễ Phật đản (rằm tháng 4 âm lịch) là một trong những đại lễ quan trọng nhất trong năm, quy tụ đông đảo tăng ni, Phật tử và nhân dân. Nội dung lễ bao gồm tụng kinh, niệm Phật, cầu quốc thái dân an và tưởng niệm ngày đản sinh của Đức Phật Thích Ca. Điểm nhấn nghi lễ là nghi thức tắm Phật bằng nước thơm, sau đó dùng khăn lụa lau tượng; khăn được chia cho Phật tử như một vật hộ thân mang ý nghĩa tâm linh.

Lễ Vu Lan (rằm tháng 7 âm lịch) mang đậm tinh thần hiếu đạo, đề cao công ơn sinh thành và giáo lý nhân quả báo ứng. Đây vừa là dịp cầu siêu cho tổ tiên, vừa là lễ hội Trung Nguyên trong truyền thống dân gian, thể hiện tinh thần từ bi cứu độ của đạo Phật.

Bên cạnh đó, chùa còn tổ chức một số lễ nghi mang tính tín ngưỡng dân gian đặc sắc:

Lễ giỗ Mẫu (mùng 3 tháng 3 âm lịch) nhằm tưởng niệm Tam tòa Thánh Mẫu, cầu phúc lộc và bình an. Nghi thức tế lễ được tổ chức trang nghiêm với ban hành lễ gồm chủ tế, bồi tế và xướng lễ, thực hiện đầy đủ ba tuần trà, ba tuần rượu. Đặc biệt, trong ban bồi tế có sự tham gia của phụ nữ, phản ánh yếu tố tín ngưỡng thờ Mẫu đặc trưng. Lễ này vốn diễn ra tại đền Thánh Mẫu, nhưng từ năm 1965, sau khi đền bị hư hại do chiến tranh, đã được rước về hợp tế tại chùa.

Lễ giỗ Đức Thánh Trần (ngày 20 tháng 8 âm lịch) cũng được tổ chức với quy mô và nghi thức tương tự lễ giỗ Mẫu, thể hiện sự tri ân đối với vị anh hùng dân tộc trong tâm thức cộng đồng.
Nhìn chung, các sự kiện và lễ hội tại chùa Tuyết Sơn không chỉ đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng mà còn góp phần bảo tồn, duy trì các giá trị văn hóa truyền thống, củng cố đời sống tinh thần và sự gắn kết cộng đồng địa phương.

Xếp hạng

Ngày 6/8/2014, UBND tỉnh Nghệ An đã có Quyết định số 3724/QĐ-UBND công nhận chùa Tuyết Sơn là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Tài liệu tham khảo

  1. Bán tiểu sử chùa Tuyết Sơn.
  2. Bảng thống kê hiện vật di tích lịch sử chùa Tuyết Sơn.
  3. Lý lịch di tích chùa Tuyết Sơn

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English) 

Name and Geographical Location

Tuyet Son Pagoda is also known as Hai Thanh Pagoda. The name “Tuyet Son” refers to the title of Shakyamuni Buddha during his period of ascetic practice within the Brahmanical tradition on the Snow Mountain (India). The pagoda is named after this phase of the Buddha’s life, hence the name Tuyet Son Pagoda. As for the name Hai Thanh, historically the pagoda was built in Hai Thanh village, and the local people adopted the place name to designate the pagoda.

At present, Tuyet Son Pagoda is located in Hai Loc Commune, Nghe An Province.

History and Historical Context

Based on the construction date inscribed on the front wall of the Main Hall, the pagoda was established in the 9th year of the Canh Thinh reign (1801). Initially, it was built on a rectangular plot measuring 85m in length and 82m in width, with a total area of approximately 6,970 m². The परिसर was surrounded by dense ancient trees on all four sides, each tree belt about 5m wide, creating a quiet and secluded atmosphere.

Entering the 20th century, due to its location in the middle of open fields and its enclosed inner sanctum, Tuyet Son Pagoda became an important site for revolutionary activities. During the resistance war against the French, it served as a military training ground for soldiers and militia, as well as a secret meeting place for Party cadres and local authorities in preparation for the August Revolution of 1945. From 1949 to 1955, the pagoda was also used as a school for local children.

During the resistance war against the United States, the pagoda continued to function as a key revolutionary base. It served both as the workplace of the commune Party Committee and government, and as a storage site for weapons and ammunition. Notably, from 1965 to 1972, the pagoda (also known as Hai Thanh Pagoda, Nghi Loc District) was used as a depot for artillery shells such as 75mm, 85mm, 120mm rounds and other military supplies supporting naval operations.

With these contributions, Tuyet Son Pagoda is not only a religious structure but also a historical site embodying significant cultural, historical, and architectural values of the locality.

Architectural Landscape

Today, the pagoda covers an area of approximately 869 m².

Tam Quan Gate, Courtyard, and Garden

The Tam Quan gate was reconstructed in 2006 using brick, tile, and cement. It follows a traditional three-entrance gate design with a roofed structure. The gate consists of two main components: the pillar system and the roof system.

The pillar system includes four columns: two central pillars (each 4.2m high, 0.5m x 0.5m) spaced 2.5m apart, forming the main entrance. On the front of these pillars are Chinese-character couplets praising sacred power and national prosperity.

On both sides are two smaller pillars (2.5m high), each 1m from the central pillars, forming side entrances. These also bear Chinese-character couplets expressing auspicious meanings.

The roof is covered with scale-pattern tiles. The central ridge is decorated with the motif “two dragons flanking the sun,” and beneath it are three Chinese characters reading “Tuyet Son Tu” (Tuyet Son Pagoda). The tops of the central pillars are adorned with lotus buds, while the side pillars feature nghe (mythical lion-like creatures) facing each other. The reconstruction date (April 15, 2006) is inscribed beneath the roof.

The courtyard covers 322 m² (22.1m x 14.6m), paved with fired clay bricks. At its center stands a stone incense burner (0.7m high, 0.4m in diameter), decorated with a tiger-face motif and stylized dragon heads. Behind it is an altar with newly donated stone Buddha statues.

On the left side of the courtyard (viewed from inside outward) are: a statue of Avalokitesvara Bodhisattva, a celestial pillar mounted on a turtle, a multi-tiered structure, stone nghe statues, a stone altar, and a commemorative stele—all later donations.

The pagoda garden, about 400 m², is planted with sacred trees such as frangipani, bodhi, fig, bamboo, and others, creating both shade and a serene, sacred atmosphere.

Front Hall (Tien Duong)

The front hall has an area of 40.5 m² (7.3m x 5.55m), consisting of one compartment with two gable walls (0.2m thick). The height from roof apex to floor is 3.97m.

The roof system includes four slopes: two main roofs (front and rear, each 3.9m long) and two side roofs (2.5m long), all covered with yin–yang tiles.

The wooden structural system includes rafters, beams, and a ridge beam, supported by a timber frame of two trusses in the “upper beam–lower tie” style. The structure uses traditional mortise-and-tenon joinery.

The hall has eight wooden columns placed on square stone bases:

Main columns: 3.25m high, 0.23m diameter
Secondary columns: 2.75m high, 0.22m diameter

The front hall door consists of two equal wooden panels (1.8m x 0.5m), opening toward the main hall. The floor is paved with fired clay bricks.

The roof ridge is decorated with “two dragons flanking the sun.” Wooden elements are smoothly planed with minimal ornamentation.

Interior Arrangement:

Central altar: two-tiered altar with statues of Shakyamuni Buddha, Manjusri, and Samantabhadra
Left altar: dedicated to Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan
Right altar: dedicated to the Three Holy Mothers (Mau Lieu Hanh, Mau Thuong Ngan, Mau Thoai)

Main Hall (Chinh Dien)

The main hall has an area of 25 m² (5.95m x 4.2m), consisting of two longitudinal compartments. Its original architecture features a unique vaulted stone structure with walls 0.59m thick and a height of 4.1m.

The roof includes two slopes (3.9m each). The structure is supported by rafters, beams, and two stone pillars.

The entrance consists of a two-panel wooden door (1.75m x 0.5m) in the “upper lattice–lower panel” style. Above hangs a Chinese-character plaque reading “Tuyet Son Tu.”

Inside, the rear wall features the original “two dragons flanking the sun” mural, preserved for over 200 years, demonstrating the high craftsmanship and durability of traditional pigments.

Interior Worship Arrangement:

Outer area: statues of Khuyen Thien (Encourager of Good) and Trung Ac (Punisher of Evil)
Inner area: altar with incense burner, cranes standing on turtles, candles, and ritual objects
Two-tier altar:
Lower tier: infant Buddha statue
Upper tier: three statues—Tuyet Son Buddha (ascetic form), Amitabha Buddha, and a Saint Monk

Artifacts

The pagoda currently preserves 24 worship artifacts, including 4 original antiques from the Nguyen Dynasty:

3 wooden offering trays
1 wooden Ksitigarbha statue
1 wooden Amitabha statue
1 wooden Tuyet Son statue

Events and Festivals

The pagoda hosts year-round rituals reflecting the rich spiritual life of the local Buddhist community.

Major Buddhist Festivals:

Maitreya Buddha Festival (1st day of Lunar New Year)
Full Moon of the First Lunar Month (Thuong Nguyen)
Peace-prayer ceremony (19th of the first lunar month)
Shakyamuni’s renunciation (8th day of 2nd lunar month) and Nirvana (15th day of 2nd lunar month)
Buddha’s Birthday (15th day of 4th lunar month)
Avalokitesvara Enlightenment Festival (6th lunar month)

Key Annual Ceremonies:

Thuong Nguyen Festival: prayers for peace and fortune
Vesak (Buddha’s Birthday): chanting, offerings, and Buddha bathing ritual
Vu Lan Festival (7th lunar month): filial piety and ancestral commemoration

Folk Rituals:

Mother Goddess Death Anniversary (3rd day of 3rd lunar month)
Tran Hung Dao Commemoration (20th day of 8th lunar month)

These activities contribute to preserving traditional cultural values and strengthening community cohesion.

Recognition

On August 6, 2014, the Nghe An Provincial People’s Committee issued Decision No. 3724/QD-UBND recognizing Tuyet Son Pagoda as a provincial-level historical relic.

References

  1. Bán tiểu sử chùa Tuyết Sơn.
  2. Bảng thống kê hiện vật di tích lịch sử chùa Tuyết Sơn.
  3. Lý lịch di tích chùa Tuyết Sơn

Tiếng Pháp (Français)

Nom et situation géographique

La pagode Tuyết Sơn est également connue sous le nom de pagode Hải Thanh. Le terme « Tuyết Sơn » désigne le nom donné au Bouddha Shakyamuni durant la période où il pratiquait l’ascèse selon la tradition brahmanique sur le mont des Neiges (en Inde). Le nom de la pagode est ainsi inspiré de cette étape de la vie du Bouddha, d’où l’appellation Tuyết Sơn. Quant au nom Hải Thanh, il provient du fait que la pagode fut autrefois construite dans le village de Hải Thanh, les habitants ayant repris ce toponyme pour nommer le site.

Actuellement, la pagode Tuyết Sơn est située dans la commune de Hải Lộc, province de Nghệ An.

Histoire et personnages

D’après l’inscription gravée sur le mur de façade du sanctuaire principal, la pagode fut fondée en l’an 1801 (9e année de l’ère Cảnh Thịnh). À l’origine, elle était édifiée sur un terrain rectangulaire de 85 m de long et 82 m de large, couvrant une superficie d’environ 6 970 m². Le site était entouré d’une dense ceinture d’arbres centenaires sur ses quatre côtés, formant un espace paisible et retiré.

Au XXe siècle, grâce à sa position au milieu des champs et à la structure discrète de son sanctuaire, la pagode devint un lieu stratégique pour diverses activités révolutionnaires. Durant la résistance contre les Français, elle servit de lieu d’entraînement militaire pour les troupes et les milices, ainsi que de point de réunion secret pour les cadres du Parti et les autorités locales en préparation de l’Insurrection générale de 1945. Entre 1949 et 1955, elle fut également utilisée comme école pour les enfants de la région.

Pendant la guerre contre les États-Unis, la pagode continua de jouer un rôle important en tant que base révolutionnaire. Elle servait à la fois de siège pour le comité du Parti et les autorités locales, ainsi que de dépôt d’armes et de munitions. Notamment entre 1965 et 1972, la pagode (également appelée pagode Hải Thanh, district de Nghi Lộc) fut utilisée comme entrepôt pour des munitions d’artillerie destinées aux opérations navales (75 mm, 85 mm, 120 mm, etc.).

Ainsi, la pagode Tuyết Sơn n’est pas seulement un édifice religieux, mais également un site patrimonial riche en valeurs historiques, culturelles et architecturales.

Architecture et paysage

Aujourd’hui, la superficie de la pagode est réduite à environ 869 m².

Porte Tam Quan, cour et jardin

La porte Tam Quan, reconstruite en 2006, est principalement faite de briques, tuiles et ciment. Elle comprend un système de piliers et une toiture. Quatre piliers structurent l’ensemble : deux piliers centraux (hauteur 4,2 m) formant l’entrée principale, et deux piliers latéraux plus petits (hauteur 2,5 m) constituant les entrées secondaires.

Des couplets en caractères chinois y sont inscrits, exprimant des vœux de prospérité et de paix. Le toit est couvert de tuiles en écaille, décoré du motif « deux dragons face au soleil ». L’inscription « Tuyết Sơn tự » (pagode Tuyết Sơn) figure sous la toiture.

La cour, d’une superficie de 322 m², est pavée de briques en terre cuite. On y trouve un brûle-parfum en pierre décoré de motifs de tigre et de dragons stylisés, ainsi qu’un autel et plusieurs statues offertes par les fidèles.

Le jardin, d’environ 400 m², est planté d’arbres sacrés (frangipanier, figuier, bambou, etc.), créant une atmosphère à la fois ombragée, paisible et empreinte de spiritualité.

Bâtiment antérieur (Tiền Đường)

Le bâtiment antérieur couvre 40,5 m² et comprend une seule travée. La toiture à quatre pans est recouverte de tuiles yin–yang. La charpente en bois repose sur un système traditionnel « thượng cung hạ kẻ », avec huit colonnes posées sur des bases en pierre.

L’intérieur est organisé en trois espaces cultuels :

Centre : autel dédié à Bouddha Shakyamuni accompagné de Văn Thù et Phổ Hiền.
Gauche : culte de Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Vương).
Droite : culte des Trois Déesses Mères (Tam Tòa Thánh Mẫu).

Les décorations incluent des motifs traditionnels (dragon, phénix, tortue…) finement sculptés.

Sanctuaire principal (Chính điện)

Le sanctuaire principal, d’une superficie de 25 m², présente une architecture originale en voûte, construite en pierre épaisse. La toiture comporte deux pans recouverts de tuiles.

À l’intérieur, on trouve une fresque ancienne représentant « deux dragons face au soleil », datant de la construction initiale et remarquablement conservée.

Le culte est organisé comme suit :

À l’entrée : statues des gardiens Khuyến Thiện et Trừng Ác.
À l’intérieur : autels avec encensoirs, grues sur tortues, chandeliers.
Niveau supérieur : statues de Bouddha enfant, Tuyết Sơn (ascète), Amitābha et un saint moine.

Objets patrimoniaux

La pagode conserve 24 objets cultuels recensés, dont 4 pièces anciennes datant de la dynastie Nguyễn :

3 plateaux en bois
1 statue de Địa Tạng Vương
1 statue de A Di Đà
1 statue de Tuyết Sơn

Événements et fêtes

Les activités rituelles se déroulent toute l’année selon le calendrier bouddhique :

Nouvel An lunaire : culte de Di Lặc
Pleine lune de janvier : fête Thượng Nguyên
19 janvier : prière pour la paix
8 février : départ en ascèse de Bouddha
Pleine lune de février : Nirvana
Pleine lune d’avril : fête de la naissance du Bouddha
Juin : illumination de Quan Âm

Trois grandes fêtes principales sont maintenues :

Fête Thượng Nguyên : prières pour la paix et la prospérité, rituels de levée des malheurs.
Fête du Vesak : récitation de sutras, bain rituel du Bouddha.
Fête Vu Lan : culte des ancêtres et esprit de piété filiale.

Des rituels populaires sont également organisés :

Fête des Déesses Mères (3/3 lunaire)
Commémoration de Trần Hưng Đạo (20/8 lunaire)

Ces événements contribuent à préserver les traditions culturelles et à renforcer la cohésion communautaire.

Classement

Le 6 août 2014, le Comité populaire de la province de Nghệ An a reconnu la pagode Tuyết Sơn comme monument historique de niveau provincial (décision n° 3724/QĐ-UBND).

Références

  1. Bán tiểu sử chùa Tuyết Sơn.
  2. Bảng thống kê hiện vật di tích lịch sử chùa Tuyết Sơn.
  3. Lý lịch di tích chùa Tuyết Sơn

Tiếng Trung (中文)

名称与地理位置

雪山寺又称海清寺。其中,“雪山”是指释迦牟尼佛在印度雪山修行婆罗门苦行时期的称号。寺名即取自佛陀此一修行阶段,故称为雪山寺。至于“海清”之名,则源于寺庙旧址所在的海清村,民众以地名为寺命名。

现今,雪山寺坐落于乂安省海禄社。

历史与人物

根据正殿正面墙体所刻建寺年份,雪山寺始建于景盛九年(1801年)。初建时,寺庙位于一块长85米、宽82米的长方形土地上,总面积约6,970平方米。四周环绕着茂密的古树带,每条树带宽约5米,营造出幽静肃穆的空间环境。

进入20世纪后,由于寺庙位于田野中央且后宫结构隐蔽,雪山寺成为重要的革命活动据点。在抗法战争时期,这里既是部队与民兵训练之地,也是党组织与地方政权秘密集会的场所,为1945年总起义做准备。1949年至1955年期间,寺庙还被用作地方学校。

在抗美战争期间,雪山寺继续发挥重要革命作用,既是党政机关办公地,也是武器弹药储藏点。尤其在1965—1972年间(当时称海清寺,隶属宜禄县),曾作为海上作战用弹药仓库,储存75毫米、85毫米、120毫米炮弹及多种武器。

凭借这些贡献,雪山寺不仅是宗教建筑,更是一处集历史、文化与建筑价值于一体的重要遗迹。

建筑景观

现今寺庙面积约869平方米。

三关门、庭院与寺园

三关门于2006年重建,主要材料为砖、瓦与水泥,采用三门式覆顶结构。大门由柱体系统与屋顶系统组成。柱体部分共有4根柱:

中央两根主柱对称排列,高4.2米(0.5×0.5米),间距2.5米,形成正门。柱前刻有对联:

音译:威严自在法神灵 国泰民安翼盛旺
译意:威严自在之法显神灵,国泰民安、运势昌盛。

两侧为较小柱,高2.5米,与主柱间距1米,形成左右门。其上刻有汉字对联:

音译:南方门堂仍光浩 公同佛圣下来临
译意:南方之门光明辉煌,诸佛圣贤共降临。

屋顶覆鳞瓦,中门屋脊饰“双龙朝日”,下方题“雪山寺”三字。中央柱顶饰莲花苞,两侧柱顶置蹲坐相对的貔貅。屋檐下标注重建日期:2006年4月15日。

寺院庭院面积322平方米(22.1×14.6米),铺设烧砖。中央设石香炉,高0.7米,直径0.4米,饰虎符与龙首纹。后方设佛像供台。

左侧依次为:观音菩萨像、驮龟天台、石供桌及石碑,均为近代功德供奉。

寺园面积约400平方米,种植大树、菩提、榕、竹等,形成清幽神秘氛围。

前堂(前殿)

面积40.5平方米(7.3×5.55米),单间结构,两侧墙厚0.2米,高3.97米。

屋顶为四坡式,覆阴阳瓦,结构均衡。木构采用“上供下枋”式,榫卯连接稳固。共有8根柱(4主柱、4次柱),置于方形石础之上。

门为两扇板门,高1.8米、宽0.5米,后方通正殿。

屋脊饰“双龙朝日”,木构简洁素雅。

前堂设三处供坛:

中央供坛:供奉释迦三尊(释迦牟尼、文殊、普贤),配铜香炉与鹤龟像,并悬挂对联:

音译:三教宣扬神自在 宗徒持诵佛如来
译意:弘扬三教神自在人,弟子修行随佛道。

左坛:供奉兴道王陈国峻,设雕刻精美供桌与坐像。
右坛:供奉三座圣母(柳杏、上千、水府),三尊坐像造型端庄。
正殿

面积25平方米(5.95×4.2米),双间纵深结构,拱形石墙厚0.59米,高4.1米。

屋顶双坡,木构系统完整。设双扇门(“上窗下板”式),上悬“雪山寺”匾额。

内部壁画为原始“双龙朝日”图,虽历经两百余年仍保存完好,体现高超工艺水平。两侧刻对联:

音译:座前起况莲生八 圣佛谈经石点移
译意:雪寺莲开智慧生,佛说法时石亦静。

供奉布局:

门侧:善神与恶神护法像
外层供桌:铜香炉、烛台、供器
内层两级供台:
一级:释迦诞生像
二级:雪山佛(主像)、阿弥陀佛与圣僧像

文物

寺内现存24件祭祀文物,其中4件为阮朝时期原有古物,包括:

3件木制供盘
1尊地藏王菩萨木像(高0.5米)
1尊阿弥陀佛木像(高0.7米)
1尊雪山佛木像(高1米)

活动与节庆

雪山寺全年举行多种佛教仪式,主要包括:

弥勒佛圣诞(正月初一)
上元节(正月十五)
全民祈安(正月十九)
释迦出家日(二月初八)与涅槃日(二月十五)
佛诞节(四月十五)
观音成道日(六月)

三大主要节庆:

1. 上元节:祈福消灾,供品简朴,重在诚心。

2. 佛诞节:举行诵经、浴佛仪式,象征净化身心。

3. 盂兰节:强调孝道与超度祖先。

此外还有民间信仰仪式:

圣母祭(3月初3):纪念三位圣母,体现母神信仰
陈圣祭(8月20):纪念民族英雄陈兴道

这些活动既满足宗教需求,也有助于传承文化、增强社区凝聚力。

等级认定

2014年8月6日,乂安省人民委员会(第3724/QĐ-UBND号决定)认定雪山寺为省级历史遗迹。

参考资料

  1. Bán tiểu sử chùa Tuyết Sơn.
  2. Bảng thống kê hiện vật di tích lịch sử chùa Tuyết Sơn.
  3. Lý lịch di tích chùa Tuyết Sơn.
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin
100

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)