Bia Lê Lợi

Thông tin cơ bản

Bia Lê Lợi
Thác bản bia được sưu tầm tại đền thờ Vua Lê Thái Tổ, xã Lê Lợi, tỉnh Lai Châu. Trước đây, di tích bia Vua Lê Thái Tổ được khắc trên vách đá Pú Huổi Chỏ bên bờ Bắc sông Đà, nằm trên một khoảng đất bằng hẹp, hướng mặt bia nhìn xuống dòng sông Đà trên tỉnh lộ 127 cách đền thờ hiện nay khoảng 500 m.
Thác bản 1 mặt, khổ 140 x 80 cm, toàn văn gồm 132 chữ Hán
Niên đại: Tân Hợi 1431

Lịch sử

Theo các sử liệu của nước ta, vùng Tây Bắc lưu vực sông Đà từ thời Hùng Vương đã là một bộ phận quan trọng của quốc gia Văn Lang. Đến thời Lý – Trần, khu vực này thuộc lộ Đà Giang, trong đó vùng đất Điện Biên – Lai Châu ngày nay được gọi là châu Ninh Viễn. Theo sách “Hưng Hoá lục” của Hoàng Trọng Chính, họ Đèo đã nhiều đời giữ vai trò phụ đạo, cai quản vùng đất biên cương này.

Năm 1407, khi quân Minh xâm lược nước ta, tù trưởng Đèo Cát Hãn quy phục nhà Minh và được trao quyền cai quản một vùng đất rộng lớn ở Tây Bắc. Dưới sự hậu thuẫn của chính quyền đô hộ, Đèo Cát Hãn trở thành tay sai đắc lực, tham gia đàn áp các phong trào đấu tranh chống quân Minh của nhân dân các dân tộc vùng sông Thao, sông Đà.

Trong quá trình phát triển của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, lực lượng nghĩa quân ngày càng lớn mạnh, chuyển sang thế chủ động tiến công quân Minh. Sau khi đánh tan các đạo viện binh của quân Minh và bao vây thành Đông Quan vào tháng 11 năm 1427, Bình Định Vương Lê Lợi đã cử Chủ thư thị sử Trần Hổ đi tuyên dụ, chiêu dụ tù trưởng Đèo Cát Hãn cùng nhân dân châu Ninh Viễn quy thuận triều đình. Đèo Cát Hãn sau đó đem quân và voi đến hàng phục nhà Lê. Với chính sách khoan dung, Lê Lợi tha tội và tiếp tục giao cho Đèo Cát Hãn cai quản vùng đất này.

Sau 10 năm chiến đấu gian khổ (1418 – 1428), nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi hoàn toàn. Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Thuận Thiên, đặt quốc hiệu Đại Việt, mở đầu công cuộc xây dựng một triều đại phong kiến phát triển thịnh trị.

Trong quá trình trị vì, vua Lê Thái Tổ đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng pháp luật, củng cố quốc phòng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Tư tưởng coi trọng việc giữ gìn biên cương được thể hiện qua những lời thơ của nhà vua:

Biên phòng cần có phương lược tốt
Đất nước nên lo kế dài lâu…

Nhà nước Lê sơ xác định vùng Tây Bắc là khu vực biên giới có vị trí đặc biệt quan trọng đối với lãnh thổ Đại Việt. Tuy nhiên, sau đó Đèo Cát Hãn nhiều lần có hành động chống đối, không thực hiện nghĩa vụ triều cống, bất chấp chính sách mềm dẻo và sự khoan dung của triều đình. Ông liên kết với Kha Đốn (Kha Lại), một thủ lĩnh phản nghịch của Ai Lao, gây rối vùng biên giới, đánh chiếm khu vực Mường Muỗi (nay thuộc huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La), đồng thời có ý định xây dựng thế lực cát cứ tại Tây Bắc.

Trước tình hình đó, năm 1431, vua Lê Thái Tổ sai Quốc Vương Tư Tề và Quan Tư khấu Lê Sát đem quân tiến đánh. Sau đó, nhà vua trực tiếp thân chinh dẫn đại quân lên châu Phục Lễ (tức châu Ninh Viễn) để bình định vùng biên giới.

Đại quân triều đình tiến theo đường sông Hồng rồi ngược dòng sông Đà. Đây là hành trình vô cùng gian nan bởi địa hình hiểm trở, nhiều thác ghềnh. Dân gian còn lưu truyền câu ca dao:

Đường lên Mường Lễ bao xa
Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh
Ấy ai nào chẳng hững hờ
Chống thuyền ngược nước sông Đà mà lên.

Câu ca dao phản ánh những khó khăn, thử thách của đoàn quân trên hành trình chinh phạt vùng Tây Bắc, không chỉ bởi sự hiểm trở của núi rừng, sông nước mà còn do những trở ngại về hậu cần, quân lương trong cuộc chiến trên vùng đất rộng lớn. Tuy nhiên, với ý chí quyết tâm, quân đội nhà Lê đã vượt qua mọi gian khó, đánh tan lực lượng phản nghịch của Đèo Cát Hãn.

Tháng Giêng năm Nhâm Tý (1432), sau khi bình định được Mường Lễ (châu Phục Lễ), vua Lê Thái Tổ ban chiếu khẳng định chủ quyền và trách nhiệm quản lý vùng biên cương:

“…Mường Lễ vốn là một xứ lẻ của nước ta thời xa xưa. Chỉ vì thời vua trước đây, triều đình suy bại, chính quyền tồi tàn, nhà vua mất kỷ cương, biên thuỳ bỏ sơ khoán, bởi thế xứ ấy mới dám cậy hiểm, cậy xa, không tuân mệnh, không nộp thuế, lại cướp biên thuỳ, tàn hại dân ta…”.

Sau đó, Đèo Cát Hãn tiếp tục có ý định nổi loạn khi liên kết với tù trưởng Mường Bô là Đinh Quế cùng phản nghịch Hối Khanh gây rối tại vùng Gia Hưng và Đà Giang. Để dẹp yên hoàn toàn nguy cơ phản loạn, Lê Lợi tiếp tục sai các tướng lĩnh đem quân tiến đánh. Các đạo quân thủy, bộ phối hợp tiến vào châu Ninh Viễn, tiêu diệt lực lượng phản nghịch. Kha Lại bị giết, Đèo Cát Hãn cùng con trai là Đèo Mạnh Vượng chạy trốn, sau đó xin hàng và được triều đình tha tội, phong làm Tư mã.

Sau khi bình định vùng Tây Bắc năm 1431, nhằm ghi nhớ sự kiện và răn dạy các tù trưởng trong việc giữ gìn biên cương quốc gia, vua Lê Thái Tổ đã cho khắc bài văn bia trên vách đá Pú Huổi Chõ vào tháng Chạp năm Tân Hợi (1431).

Trong quá trình xây dựng công trình thủy điện Sơn La, khu vực núi đá nơi khắc văn bia nằm trong phạm vi lòng hồ và có nguy cơ bị ngập sâu. Nhằm bảo tồn di sản, Nhà nước đã tổ chức di dời tấm bia lên vị trí cao hơn, gần với địa điểm tồn tại ban đầu, tiếp tục gìn giữ dấu tích lịch sử có giá trị gần 600 năm tuổi.

Với mong muốn giới thiệu rộng rãi áng văn cổ quý giá của vua Lê Thái Tổ đến nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế, Công ty cổ phần Pusamcap cùng gia đình ông Lê Thanh Hùng – Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty đã tiến hành khai thác đá từ chính phần thân bia gốc để chế tác các phiên bản văn bia. Dưới sự hỗ trợ của các giáo sư, chuyên gia Viện Hán Nôm và tài nghệ của các nghệ nhân, ba phiên bản bia đã được hoàn thành.

Phiên bản đầu tiên được trao tặng nhân dân Thủ đô Hà Nội vào dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Hai phiên bản còn lại được trao tặng tỉnh Lai Châu và Khu di tích lịch sử Lam Kinh (Thanh Hóa) – nơi khởi phát cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nơi thờ Đức Thái Tổ Lê Lợi cùng các hoàng đế triều Lê.

Bài văn bia của vua Lê Thái Tổ khắc trên vách đá Pú Huổi Chõ tại Điện Biên – Lai Châu vào tháng Chạp năm Tân Hợi (1431) là một di sản có giá trị đặc biệt về lịch sử, địa lý và văn học. Nội dung văn bia góp phần làm sáng rõ công lao của Lê Lợi trong việc giữ vững biên cương, bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Đây đồng thời là một tác phẩm tiêu biểu trong kho tàng văn học Việt Nam thế kỷ XV, được Nhà nước công nhận, bảo tồn và phát huy giá trị.

Di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia năm 1981, trở thành một di sản lịch sử quan trọng, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Toàn văn

Phiên âm

Di địch chi vi biên hoạn tự cổ hữu chi, Hán chi Hung Nô, Đường chi Đột Quyết, ngã Tây Việt chi mường Lễ chư man thị dã. Khoảnh do Trần, Hồ suy chính, phiên thần bạt hỗ, Cát Hãn nữu ư cựu tập, phụ cố phất tuẫn, dư kim suất vãng chinh thủy lục tịnh tiến, nhất cử tựu binh, nhân tả nhất luật, khắc chi vu thạch, dĩ giới hậu thế man tù chi ngạnh hóa giả, vân:

Cuồng tặc cảm bô chu,
Biên manh cửu hễ tô.
Bạn thần tòng cổ hữu,
Hiểm địa tự kim vô.
Thảo mộc kinh phong hạc,
Sơn xuyên nhập bản đồ,
Đề thi khắc nham thạch,
Trấn ngã Việt Tây ngu.

Tân Hợi quý đông cát nhật
Ngọc Hoa Động Chủ đề.

Dịch nghĩa

Dân di địch là mối họa ở vùng biên giới, từ cổ đã có, như Hung Nô đời Hán, Đột Quyết đời Đường và các tộc người man ở miền Tây nước Việt ta. Ít lâu do chính sự cuối đời Trần, Hồ suy yếu, bọn phiên thần hung hăng táo tợn, Cát Hãn khư khư giữ tật cũ, ngoan cố không sửa đổi. Nay ta đem quân tiến đánh, hai quân thủy bộ cùng tiến. Đánh một trận là dẹp yên ngay. Nhân làm một bài thơ luật, khắc vào đá núi để răn các tù trưởng đời sau ngang ngạnh phải tuân theo đức hóa.

Thơ rằng:

Giặc điên cuồng tránh sao khỏi sự trừng phạt,
Dân biên thùy từ lâu mong đợi được cứu sống.
Bề tôi làm phản từ xưa vẫn có
Đất hiểm trở từ nay chẳng còn
Gió thổi, hạc kêu, cũng làm cho giặc sợ hãi
Sông núi đất này vào chung một bản đồ.
Đề thơ khắc vào đá núi
Trấn giữ miền Tây nước Việt ta.

Ngày lành tháng cuối đông năm Tân Hợi (1/1432)
Ngọc Hoa Động Chủ đề

Nguồn ảnh: Sưu tầm

Chấm điểm

Nhân vật

Chia sẻ

Hình ảnh văn bia

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)