Tôn Thất Thuyết (1839 – 1913)

Tôn Thất Thuyết (1839 – 1913)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Đêm 4/7/1885. Vầng trăng mệt mõi nép mình vào bóng mây. Ánh sáng nhợt nhạt soi xuống dòng sông Hương đang trôi lững lờ… Trong Tòa lãnh sự và trong đồn Mang Cá của lính Pháp, tiếng khui sâm banh vẫn nổ hào hứng. Đại tướng De Courcy nâng chiếc ly pha lê trong veo và nheo mắt ngắm nhìn những giọt rượu đang sủi tăm. Y ngửa cổ nốc cạn. Rượu chảy vào cổ họng đê mê đến sảng khoái lạ lùng. Chưa kịp tận hưởng giây phút thú vị ấy thì y giật thót người – khi đột nhiên nghe tiếng súng nổ vang trời. Người chỉ huy trận đánh đầu tiên ấy, không ai khác mà chính là võ tướng Tôn Thất Thuyết.

Tiếng đại bác gầm lên. Cả kinh thành rực lửa. Bắt đầu từ giây phút này, lịch sử nước nhà đã chính thức mở ra giai đoạn Cần vương hào hùng, nhân sĩ hào kiệt từ Nam chí Bắc đã đồng lòng đứng lên đánh giặc xâm lược theo lời kêu gọi từ Chiếu Cần Vương:

Dụ: Dùng binh có ba cách: đánh, giữ và hòa; đánh và giữ đã không được thì đòi hỏi của giặc khôn cùng. Tình thế đất nước vô cùng khó khăn, nên phải theo kế người xưa tạm thòi lánh nạn. Đất nước trong con hiểm nghèo binh lửa. Trẫm còn ít tuổi vẫn phải nối ngôi tìm cách tự cường. Sức ép của giặc ngày càng lớn, đô thành sống trong sự nơm nóp lo âu, nguy cơ chỉ trong sớm tối; Triều đình phải mưu tính đến sự vững bền xã tắc. Nếu như ngồi để vâng mệnh cúi đầu, thì sao bằng dò xét mà đối phó, để tính toán việc mai sau, vì thế Trẫm nghiến răng nổi giận, muốn giết sạch quân thù! Chuẩn bị vũ khí chiến đấu, sao bằng nhiều người hưởng ứng? Các quan nhiều người biết chết cho điều nghĩa.

Trẫm đức mỏng, gặp biến cố, không mang hết tài sức ra làm việc được, để kinh thành bị vây hãm, xe Thái hậu phải đi xa đó là tội ở Trẫm. Các quan khanh sĩ biết luân thường, đều không bỏ Trẫm. Người trí thức hãy bày mưu, người võ nghệ hãy giúp sức, người giàu có hãy đóng góp để giúp quân lính, cùng đồng tâm hiệp lực, không sợ gian nguy, sao cho gỡ được cái họa của đất nước, như vậy trời cũng phù trì mà chuyển loạn thành trị, giữ được đất nước được vẹn toàn, cơ hội này làng xã và thần dân sao chẳng quan tâm lo nghĩ. Nếu ai sợ chết, cam chịu yên vui, lo cho việc gia đình hơn lo việc xã tắc thì hãy chối từ. Ai tránh việc quân mà ròi đội ngũ, bỏ chỗ sáng lao vào chỗ tối, sống lén lút vui thú với đàn bà, như vậy là trọng tội với triều đình, pháp luật sẽ trừng trị, hối về sau thì đã muộn. Phải nghiêm sợ mà tuân theo.

Hàm Nghi năm thứ nhất ngày mồng 3 tháng 6.

Sự nghiệp 

Tôn Thất Thuyết là người đứng đầu phe chủ chiến trong triều đình Huế. Ông sinh ngày 12/5/1839 tại thôn Phú Mộng, xã Xuân Long, nay thuộc thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên – Huế). Trong Đại Nam thực lục chính biên, vua Tự Đức từng nhận xét, chê ông “ít học, không thông, lại có tính nóng nảy nói càn… vốn có tính kiêu căng, hẹp hòi hay nghi ngờ người”, nhưng phải thừa nhận là “tướng có uy vũ… tài trí đáng khen”. Cái nhìn thiển cận này cùng một số người đương thời đã không đánh giá hết vai trò của Tôn Thất Thuyết.

Xuất thân từ một gia đình hoàng tộc nên ông có điều kiện thuận lợi để thăng tiến. Từ năm 1870 ông vốn là quan văn, Án sát tỉnh Hải Dương nhưng sau đó do tình hình rối ren ở biên giới phía Bắc nên ông chuyển sang làm quan võ cùng Thống đốc quân vụ Hoàng Kế Viêm phụ trách việc tiễu phỉ. Sau chiến dịch này ông được thăng Quan lộc Tự Khanh và làm Tán lý quân thứ Thái Nguyên.

Hoạt động quân sự trước khi giữ vai trò Phụ chính đại thần

Hoạt động quân sự của Tôn Thất Thuyết từ tháng 12/1870 cho đến lúc về Huế chính thức nhận chức Thượng thư bộ Binh và sau đó được cử vào Viện Cơ mật vào tháng 6/1883 thì có những sự kiện đáng lưu ý: tháng 12/1873, ông cùng với Hoàng Tá Viêm phối hợp với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc phục binh tại Cầu Giấy (Hà Nội) giết chết đại úy Francis Garnier – kẻ đã đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất; tháng 9/1875, ông bắt sống được tướng Cờ Vàng là Hoàng Sùng Anh ở Thái Nguyên v.v…

Vai trò trong triều đình Huế và những biến động sau khi vua Tự Đức qua đời

Khi Tôn Thất Thuyết giữ trọng trách trong triều đình Huế thì tình hình cực kỳ rối ren. Ngày 19/7/1883, vua Tự Đức băng hà, Dục Đức nối ngôi, nhưng chỉ ba ngày sau bị phế truất. Rồi Hiệp Hòa – con út vua Thiệu Trị – là nhân vật được Phụ chánh đại thần Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường chọn thay thế, cho dù khóc lóc van xin:

Tôi là con út của Tiên đế, tư chất tầm thường, không dám nhận ngôi vua, nhưng cũng không cưỡng được lệnh, bị xốc nách đưa lên kiệu đem vào Tử Cấm Thành!

Lên ngôi vua chưa đầy một tháng thì ngày 20/8/1883, giặc Pháp đánh chiếm của Thuận An, Hiệp Hòa bối rối xin nghị hòa. Chúng đã ký được Hiệp ước Quý Mùi hay còn gọi Hiệp ước Harmand (tên của Tổng ủy viên đại diện Pháp tại Bắc kỳ). Theo đó, nước Nam chịu nhận nước Pháp bảo hộ, việc ngoại giao với các nước ngoài thì do Pháp quyết định! Và Pháp được đặt tại Huế một Khâm sai có quyền ra vào yết kiến với nhà vua; được đặt các công sứ ở các tỉnh Bắc kỳ để kiểm soát quan lại Việt Nam!

Chuẩn bị kháng chiến và đối phó với sự can thiệp của Pháp

Tất nhiên, với cương vị là một người đứng đầu phe chủ chiến trong triều đình, Tôn Thất Thuyết không dễ dàng chấp nhận sự “bảo hộ” này. Ông lập đội cận vệ riêng lấy tên là Phấn nghĩa đội – mặc áo xanh, đội mũ rộng vành, trang bị mã tấu; và bí mật chiêu mộ dân lập Đoàn kiệt đội để chuẩn bị đánh Pháp. Cùng lúc, ông và Nguyễn Văn Tường phế truất Hiệp Hòa.

Trong thời điểm này, để tránh đụng độ với cánh quân người Tàu đang ở sát biên giới Việt Nam, Pháp đã ký được Hiệp ước Fournier. Theo đó, Trung Hoa đồng ý việc Pháp bảo hộ Việt Nam và đồng ý rút quân ra khỏi nước ta. Kế đến, Công sứ Pháp ở Bắc Kinh là Patenôtre vừa sang đến Sài Gòn, y nhận được điện của chính phủ Pháp chỉ đạo phải sửa lại Hòa ước đã ký. So với Hòa ước Harmand thì Hòa ước Patenôtre ký ngày 6/6/1884 không có gì mới hơn. Nhưng có một sự kiện đáng nhớ là:

Nước Việt Nam trước kia, từ Nam chí Bắc là một, có tính cách duy nhất hơn các nước khác – mà nay thành ra ba xứ: Nam kỳ, Trung kỳ và Bắc kỳ; mỗi kỳ có một chính sách riêng, luật lệ riêng như ba nước vậy. Thậm chí lúc đầu người kỳ này đi sang kỳ kia phải xin giấy thông hành mới đi được. Kỳ nghĩa là xứ, là khu trong một nước, chứ không có nghĩa là nước. Một nước mà tam phân ngũ liệt ra như thế, thật là một mối đau lòng cho người Việt Nam, vốn là dân một nước đã có một lịch sử vẻ vang hàng mấy nghìn năm.

(Trần Trọng Kim – Việt Nam sử lược)

Để đoạn tuyệt với quá khứ, chúng sai các quan triều Nguyễn đem cái ấn “Việt Nam Quốc vương chỉ ấn” nặng 6 ký lô đem nấu chảy tại tòa Khâm sứ Huế trước sự đại diện của hai nước!

Việc đưa vua Hàm Nghi lên ngôi và xây dựng căn cứ Tân Sở

Trong lúc này, sau khi phế truất Hiệp Hòa, rút kinh nghiệm hai lần vừa qua, đưa người lớn tuổi lên làm vua thì khó khống chế, nên hai ông Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã chọn Kiến Phước – con nuôi thứ ba của vua Tự Đức – mới 15 tuổi đưa lên ngôi.

Theo tinh thần của Hiệp ước đã ký thì việc làm này đã “qua mặt” Khâm sứ Pháp tại Huế, De Champeaux phản đối vì sao chọn vua mới mà không hỏi ý kiến của y và nhất là không mời y dự lễ tấn tôn! Nhưng Hiệp Hòa mới lên ngôi được một năm thì mất một cách khó hiểu. Thế là hai ông quan đại thần này lại đưa Ung Lịch em ruột vua Kiến Phước – mới 13 tuổi lên ngôi với niên hiệu Hàm Nghi.

Lần này, Khâm sứ mới ở Huế là Rheinart kịch liệt phản đối bằng một biện pháp cứng rắn. Y gửi thư ra Hà Nội thông báo cho trung tướng Millot. Lập tức, Millot sai đại tá Guerrier đem quân vào Huế gây áp lực, buộc triều đình Huế phải làm đơn xin lập vua Hàm Nghi và phải mở cửa chính cho chúng vào Đại nội làm lễ phong vương cho nhà vua vào ngày 17/8/1884 sắp đến.

Nhận thấy giặc can thiệp quá sâu vào nội bộ triều đình, Tôn Thất Thuyết gấp rút cho xây dựng căn cứ kháng chiến Tân Sở. Công việc này đang diễn ra một cách khẩn trương và bí mật thì ngày 2/7/1885, đại tướng Thống đốc quân dân sự vụ Bắc và Trung kỳ De Courcy đến Huế.

Cuộc phản công ở kinh thành Huế và phong trào Cần Vương

Biết chắc trước sau gì De Courcy cũng sẽ giở trò, ngay trong đêm 4/7/1885, Tôn Thất Thuyết liền ra tay trước. Đạo quân thứ nhất của ông Tôn Thất Lệ – em ruột ông Thuyết, Tham biện sơn phòng Quảng Trị – chỉ huy vượt sông đánh đánh úp tòa Khâm sứ. Ngay trong đêm khuya, đạo quân này di chuyển bí mật qua sông Hương, rồi phối hợp với khoảng 5.000 thủy quân của triều đình ở các dãy trại Thủy sư, dọc bờ sông để nổ súng tấn công. Cùng lúc, những khẩu đại bác đặt trên mặt đông nam thành Huế nhanh chóng nã đạn yểm trợ cho đạo quân này.

Đạo quân thứ hai, trong đó có hai vệ Phấn nghĩa quân do Đề đốc Trần Xuân Soạn chỉ huy tập kích vào đồn Mang Cá. Đạo quân thứ ba do chính Tôn Thất Thuyết chỉ huy, đóng ở Hậu Bộ – ở phía sau Đại nội, là một khu vườn rất rộng, có tường cao bao bọc – làm nhiệm vụ vừa điều phối chung, vừa trợ chiến, vừa dự phòng nếu cuộc tấn công thất bại thì phò giá Hoàng gia chạy về Tân Sở. Ngoài ra ông còn bố trí cho lính chống giữ Hoàng thành, rồi các cửa Đông Ba, An Hòa, cửa hậu, cửa chính… đều có những vệ quân canh phòng nghiêm ngặt; còn phía ngoài thành thì có tượng binh sẵn sàng xung trận…

Chính vì thực hiện được yếu tố quan trọng trong binh pháp là thời cơ và bí mật nên Tôn Thất Thuyết đã giành được thắng lợi đáng kể. Bọn giặc Pháp hồn kinh phách lạc, lính quýnh tiến thoái lưỡng nan như gà mắc tóc. Đại bác bắn thủng mái nhà và lầu của toà Khâm sứ tạo nên cảnh tượng nhốn nháo, giặc không biết phải ẩn náu nơi đâu, trúng đạn, chết như rạ. Còn phía đồn Mang Cá, là người chỉ huy dày dạn kinh nghiệm trận mạc, Trần Xuân Soạn đã sử dụng các đội quân -vốn là tù nhân nay được sung binh để lập công chuộc tội – len lỏi theo dọc bờ sông phóng hỏa đốt hết các doanh trại của giặc. Sau những giây phút kinh hồn, trung tá Pernot và thiếu tá Metzinger đã ra lệnh cho quân sĩ không được tháo chạy, phải liều chết trụ lại trận tuyến, gấp rút sử dụng 6 khẩu đại bác 121 ly đẩy lùi những đợt tấn công của đối phương. Nhưng chúng kinh ngạc, khi tận mắt chứng kiến dù hỏa lực đang khạc lửa nhưng vẫn nghĩa quân dũng cảm ùn ùn tiến lên đánh trực diện… Trong tay chỉ có gươm, đao, mã tấu vậy mà họ cũng xông vào với hòn tên mũi đạn, khiến giặc tử thương nhiều vô kể…

Do trận tập kích “xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị”, diễn ra trong đêm tối nên bọn giặc Pháp chưa dám phản công mạnh, một phần vì không thông thuộc địa hình, một phần vì chúng quá bất ngờ… So sánh lực lượng đôi bên thì bấy giờ Pháp chỉ có khoảng 1.400 quân lính chuyên nghiệp, được huấn luyện chu đáo, được trang bị hệ thống máy điện báo, có được vài pháo hạm và 17 khẩu đại bác. Còn phía triều đình Huế có khoảng 20.000 nghĩa quân, nhưng phương pháp và kỹ thuật tác chiến thua xa đội quân xâm lược nhà nghề; còn về vũ khí thì ta có đến 1.100 khẩu thần công – nhưng lại quá lạc hậu so với vũ khí hiện đại của giặc. Vì thế lúc mặt trời ló dạng thì chúng đã từng bước giành được quyền chủ động.

Rạng sáng ngày 5/7/1885, pháo hạm Javeline đậu tại làng Bao Vinh đã cấp tập nã pháo vào phía đông bắc thành… để dọn đường cho bộ binh tiến công. Trung tá Pernot quyết định triển khai đội hình phản công theo ba hướng: cánh trái do thiếu tá Merzinger chỉ huy có nhiệm vụ tiến dọc theo bờ thành đông bắc, đánh dứt điểm một đồn của nghĩa quân gần cầu Thanh Long, xong, tiến lên đánh chiếm bộ Lại và bộ Binh; cánh giữa do đích thân Pernot chỉ huy, vòng qua hồ Tĩnh Tâm phía tây nam hỗ trợ quân của thiếu tá Merzinger, rồi cùng phối hợp tiến đánh vào Đại nội; cánh phải là đại đội 4 Bắc Phi tiến quân dọc theo hướng tây nam để cùng đánh vào Đại nội.

Sự phối hợp nhịp nhàng này đã tạo ra hiệu quả chắc chắn nhất. Chỉ trong vòng ba tiếng đồng hồ, nghĩa quân đã bị đánh bật ra ngoài kinh thành Huế, người chết nhiều không kể xiết, khoảng từ 1.200 đến 1.500 người, bỏ lại 812 khẩu đại bác, 16.000 khẩu súng các loại… Chúng hào hứng giương lá cờ tam tài của nước Pháp tung bay trên kỳ đài. Sau đó, đang hăng máu chúng đốt phá hết những gì xuất hiện trước mắt! Chiến lợi phẩm lớn nhất mà chúng thu được là hàng trăm hòm vàng, bạc nén…

Theo tài liệu của chúng thì phải có đến 50 tên lính Pháp ròng rã suốt năm ngày để sắp xếp lại số vàng bạc này! Bị đánh bật ra khỏi vị trí chiến đấu, nghĩa quân rút khỏi kinh thành, qua các hướng cửa Đông Ba, của Hữu… Trước đó vài phút, biết đã núng thế, Tôn Thất Thuyết tập trung tàn quân chực sẵn ngoài của Chưởng Đức, rồi mời vua Hàm Nghi, bà Từ Dụ, các tùy tùng mau chạy trốn. Mọi người còn đang chần chừ thì ông đã quắc mắt, tuốt gươm ra… Tất cả khiếp đảm răm rắp thi hành trong lúc tiếng súng của giặc còn nổ vang trời. Sợ giặc đuổi theo nên mọi người đi rất nhanh, tới đò Kẻ Vạn không có thuyền nên phải lội sông, chỉ đi dăm bước thì nước quá sâu, phải quay lui. Họ chạy về hướng chùa Thiên Mụ, lên Trường Thi thuộc làng La Chữ, ngủ tại đây một đêm.

Sáng hôm sau, họ tiếp tục đi tiếp về phía bắc, mãi đến khuya mới dừng chân nghỉ tại nhà của một ông phú hộ làng Văn Xá, qua ngày sau mới tới Quảng Trị. Nghỉ ngơi tại đây vài ngày, nhận thấy địa thế bất lợi, Tôn Thất Thuyết chia mọi người ra thành hai nhóm: Một nhóm gồm Thái hậu, những người trong hoàng gia và quan lại già yếu thì được ở lại Quảng Trị; còn vua Hàm Nghi, các võ tướng, văn quan có tinh thần kháng chiến thì tiếp tục theo đường Cam Lộ lên chiến khu Tân Sở mà ông đã chuẩn bị từ trước – nằm trên một cao nguyên ở phía tây bắc Quảng Trị, cách phủ lî Cam Lộ 15km, có thể đi sang Lào, ra Bắc. Thành Tân Sở được xây bằng gạch kiên cố, phía ngoài có ba hàng rào lũy tre, đủ sức chứa vài ngàn người và trong thành có chứa đầy đủ vũ khí, tiền bạc để tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Chính tại đây Hịch Cần vương đã được gửi đi cả nước, kêu gọi toàn dân đứng lên đánh đuổi sói lang…

Tổ chức kháng chiến 

Trong thời điểm này, Nguyễn Văn Tường được Tôn Thất Thuyết cử ở lại Huế tìm cách hạn chế thiệt hại, nhưng sau đó Tường nhờ tên tu sĩ gián điệp Gaspar ở Kim Long đưa ra đầu thú với De Courcy. Nghe tin này, Tôn Thất Thuyết tức giận, sai nghĩa quân trở về đốt nhà Tường ở gần chợ Đông Ba. Còn De Courcy giao hẹn với Tường trong vòng hai tháng phải ổn định xong tình hình và tìm cách đưa vua Hàm Nghi về. Nhưng Tường không thể làm được. Vì thế chúng đày Tường sang đảo Tahiti. Trước lúc mất, Tường để lại hai câu thơ phân bua việc làm của mình cho hậu thế:

Dở hay xin mặc người sau xét,
Vua nước đôi đường hỏi trọng khinh?

Tường đi rồi, Pháp đưa Nguyễn Hữu Độ làm chủ tọa Viện cơ mật. Độ khôn khéo thương lượng với giặc phế vua Hàm Nghi và đưa con rể của mình là hoàng tử Ung Biện – con nuôi vua Tự Đức lên ngôi – với niên hiệu là Đồng Khánh vào tháng 9/1885. Dù vậy, cả nước vẫn sôi sục đứng lên “Phen này quyết đánh cả triều lẫn Tây”.

Nhưng tại Tân Sở, Tôn Thất Thuyết bây giờ mới nhận ra đây không phải là vị trí thuận lợi cho việc dụng binh, vì giặc án ngữ được Cam Lộ là cắt đứt đường liên lạc của nghĩa quân với các tỉnh trong nước. Do đó ngày 19/7/1885, ông ra lệnh nghĩa quân tiến ra Quảng Bình để tìm đường ra Bắc. Giặc Pháp ráo riết đuổi theo. Bị chận đường, nghĩa quân lại phải đưa vua Hàm Nghi quay về Tân Sở, ba ngày sau lánh sang Lào, rồi quay về Hà Tĩnh, đóng ở Ấu Sơn thuộc huyện Hương Khê. Những tháng ngày gian nan này, chẳng may vua Hàm Nghi bị bệnh thương hàn, nằm liệt một chỗ, hễ có động là nghĩa quân lại cõng chạy.

Rồi địa điểm này cũng bị lộ, nghĩa quân lại đưa nhà vua về ẩn náu ở Tuyên Hóa – miền thượng du Quảng Bình. Nhận thấy ở đây cũng tạm ổn, còn sức mình thì khó có thể chống cự được lực lượng hùng hậu của giặc nên Tôn Thất Thuyết tính chuyện sang Tàu cầu cứu. Ông giao nhiệm vụ cho hai người con mình là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Tiệp, cùng với Đề đốc Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân cùng nhiều đình thần khác bảo vệ vua Hàm Nghi. Trong khi đó, quyết tâm bắt cho bằng được cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, Pháp bàn với bù nhìn Đồng Khánh ra dụ “Ai hay bày kế trực tiếp đưa xe vua ra giao cho quan quân rước về thì thưởng cho hàm Chánh nhị phẩm, tấn phong nước Nam…; bắt sống được Tôn Thất Thuyết thưởng 1000 lạng bạc, chém được thưởng 800 lạng”.

Khởi nghĩa Kinh thành Huế (1885)

Đêm 4/7/1885. Vầng trăng mệt mõi nép mình vào bóng mây. Ánh sáng nhợt nhạt soi xuống dòng sông Hương đang trôi lững lờ… Trong Tòa lãnh sự và trong đồn Mang Cá của lính Pháp, tiếng khui sâm banh vẫn nổ hào hứng. Đại tướng De Courcy nâng chiếc ly pha lê trong veo và nheo mắt ngắm nhìn những giọt rượu đang sủi tăm. Y ngửa cổ nốc cạn. Rượu chảy vào cổ họng đê mê đến sảng khoái lạ lùng. Chưa kịp tận hưởng giây phút thú vị ấy thì y giật thót người -khi đột nhiên nghe tiếng súng nổ vang trời. Người chỉ huy trận đánh đầu tiên ấy, không ai khác mà chính là võ tướng Tôn Thất Thuyết.

Bị đánh bật ra khỏi vị trí chiến đấu, nghĩa quân rút khỏi kinh thành, qua các hướng cửa Đông Ba, của Hữu… Trước đó vài phút, biết đã núng thế, Tôn Thất Thuyết tập trung tàn quân chực sẵn ngoài của Chưởng Đức, rồi mời vua Hàm Nghi, bà Từ Dụ, các tùy tùng mau chạy trốn. Mọi người còn đang chần chừ thì ông đã quắc mắt, tuốt gươm ra… Tất cả khiếp đảm răm rắp thi hành trong lúc tiếng súng của giặc còn nổ vang trời. Sợ giặc đuổi theo nên mọi người đi rất nhanh, tới đò Kẻ Vạn không có thuyền nên phải lội sông, chỉ đi dăm bước thì nước quá sâu, phải quay lui. Họ chạy về hướng chùa Thiên Mụ, lên Trường Thi thuộc làng La Chữ, ngủ tại đây một đêm.

Sáng hôm sau, họ tiếp tục đi tiếp về phía bắc, mãi đến khuya mới dừng chân nghỉ tại nhà của một ông phú hộ làng Văn Xá, qua ngày sau mới tới Quảng Trị.

Xây dựng căn cứ Tân Sở và chuẩn bị kháng chiến

Lần này, Khâm sứ mới ở Huế là Rheinart kịch liệt phản đối bằng một biện pháp cứng rắn. Y gửi thư ra Hà Nội thông báo cho trung tướng Millot. Lập tức, Millot sai đại tá Guerrier đem quân vào Huế gây áp lực, buộc triều đình Huế phải làm đơn xin lập vua Hàm Nghi và phải mở cửa chính cho chúng vào Đại nội làm lễ phong vương cho nhà vua vào ngày 17/8/1884 sắp đến. Nhận thấy giặc can thiệp quá sâu vào nội bộ triều đình, Tôn Thất Thuyết gấp rút cho xây dựng căn cứ kháng chiến Tân Sở. Công việc này đang diễn ra một cách khẩn trương và bí mật thì ngày 2/7/1885, đại tướng Thống đốc quân dân sự vụ Bắc và Trung kỳ De Courcy đến Huế. Vừa mới chân ướt chân ráo đến nơi, De Courcy đã cho bố trí lại lực lượng đóng quân của Pháp và ngay ngày hôm sau, y đòi hai quan Phụ chính đại thần Thuyết và Tường phải đến để bàn việc yết kiến vua Hàm Nghi. Nhưng do biết tỏng tòng tong đó chỉ là cái cớ để giữ mình – vì tin này do bồi bếp tòa Khâm sứ tiết lộ ra ngoài nên Tôn Thất Thuyết lấy cớ bị đau, không đi. Lúc phái đoàn Nguyễn Văn Tường đến nơi, De Courcy rất cay cú. Nhưng y cũng tự kiềm chế, chưa vội nổi nóng mà chỉ buông ra lời tuyên bố trắng trợn:

Nếu các ông muốn nước mình hòa bình, yên ổn thì nội trong ba ngày phải nạp chiến phí cho chúng tôi là 200.000 thỏi bạc và 200.000 quan tiền!

Tất cả mọi người đều kinh ngạc. Giây lát sau, đột ngột y quát lớn:

Sao không thấy ông Thuyết đến? Có phải ông ta ở nhà chuẩn bị tấn công chúng tôi không?

Biết y đã cố tình trở mặt gây hấn nên một vị quan đỡ lòi:

Thưa ngài, quan Phụ chính của chúng tôi đang bị ốm!

Y cười nhạt:

Ốm à? Thế thì phải đi võng mà sang đây!

Mệnh lệnh vừa ban ra thì các quan của ta vội vã về nài nỉ ông Tôn Thất Thuyết, nhưng ông vẫn cương quyết không đi. Không chịu thua, De Courcy sai y sĩ Mangin tới tận nơi xem hư thực ra sao. Ông Thuyết không tiếp, lấy cớ là không quen dùng thuốc Tây!

Tình hình rất căng thẳng.

Trong cuộc hội đàm về lễ tấn phong vua Hàm Nghi, De Courcy đòi phải mở chính cửa Đại nội cho y và đoàn tùy tùng đi vào. Thấy trái với quốc lễ xưa nay, ông Tường đề nghị lại là chỉ một mình y đi cửa chính vào triều, số người còn lại thì đi của hai bên. Lúc tiến lên phòng ngự nhưng chỉ đến cột thứ nhì, phía bên phải thì phái đoàn của Pháp phải dừng lại, trao ủy nhiệm thư cho đại thần, rồi chờ đệ trình lên ngự lãm. Nhưng De Courcy lại không chịu, y bảo vua Việt Nam phải bước xuống ngai vàng ra đón y! Cuộc họp bàn cãi lằng nhằng mãi. Cuối cùng cả hai quyết định chờ Tôn Thất Thuyết bình phục hẳn rồi sẽ bàn lại.

Biết chắc trước sau gì De Courcy cũng sẽ giở trò, ngay trong đêm 4/7/1885, Tôn Thất Thuyết liền ra tay trước.

Cuộc phản công đêm 4 rạng ngày 5/7/1885

Đạo quân thứ nhất của ông Tôn Thất Lệ – em ruột ông Thuyết, Tham biện sơn phòng Quảng Trị – chỉ huy vượt sông đánh đánh úp tòa Khâm sứ. Ngay trong đêm khuya, đạo quân này di chuyển bí mật qua sông Hương, rồi phối hợp với khoảng 5.000 thủy quân của triều đình ở các dãy trại Thủy sư, dọc bờ sông để nổ súng tấn công. Cùng lúc, những khẩu đại bác đặt trên mặt đông nam thành Huế nhanh chóng nã đạn yểm trợ cho đạo quân này.

Đạo quân thứ hai, trong đó có hai vệ Phấn nghĩa quân do Đề đốc Trần Xuân Soạn chỉ huy tập kích vào đồn Mang Cá.

Đạo quân thứ ba do chính Tôn Thất Thuyết chỉ huy, đóng ở Hậu Bộ – ở phía sau Đại nội, là một khu vườn rất rộng, có tường cao bao bọc – làm nhiệm vụ vừa điều phối chung, vừa trợ chiến, vừa dự phòng nếu cuộc tấn công thất bại thì phò giá Hoàng gia chạy về Tân Sở. Ngoài ra ông còn bố trí cho lính chống giữ Hoàng thành, rồi các cửa Đông Ba, An Hòa, cửa hậu, cửa chính… đều có những vệ quân canh phòng nghiêm ngặt; còn phía ngoài thành thì có tượng binh sẵn sàng xung trận…

Chính vì thực hiện được yếu tố quan trọng trong binh pháp là thời cơ và bí mật nên Tôn Thất Thuyết đã giành được thắng lợi đáng kể. Bọn giặc Pháp hồn kinh phách lạc, lính quýnh tiến thoái lưỡng nan như gà mắc tóc. Đại bác bắn thủng mái nhà và lầu của toà Khâm sứ tạo nên cảnh tượng nhốn nháo, giặc không biết phải ẩn náu nơi đâu, trúng đạn, chết như rạ. Còn phía đồn Mang Cá, là người chỉ huy dày dạn kinh nghiệm trận mạc, Trần Xuân Soạn đã sử dụng các đội quân -vốn là tù nhân nay được sung binh để lập công chuộc tội – len lỏi theo dọc bờ sông phóng hỏa đốt hết các doanh trại của giặc. Sau những giây phút kinh hồn, trung tá Pernot và thiếu tá Metzinger đã ra lệnh cho quân sĩ không được tháo chạy, phải liều chết trụ lại trận tuyến, gấp rút sử dụng 6 khẩu đại bác 121 ly đẩy lùi những đợt tấn công của đối phương. Nhưng chúng kinh ngạc, khi tận mắt chứng kiến dù hỏa lực đang khạc lửa nhưng vẫn nghĩa quân dũng cảm ùn ùn tiến lên đánh trực diện… Trong tay chỉ có gươm, đao, mã tấu vậy mà họ cũng xông vào với hòn tên mũi đạn, khiến giặc tử thương nhiều vô kể…

Do trận tập kích “xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị”, diễn ra trong đêm tối nên bọn giặc Pháp chưa dám phản công mạnh, một phần vì không thông thuộc địa hình, một phần vì chúng quá bất ngờ… So sánh lực lượng đôi bên thì bấy giờ Pháp chỉ có khoảng 1.400 quân lính chuyên nghiệp, được huấn luyện chu đáo, được trang bị hệ thống máy điện báo, có được vài pháo hạm và 17 khẩu đại bác. Còn phía triều đình Huế có khoảng 20.000 nghĩa quân, nhưng phương pháp và kỹ thuật tác chiến thua xa đội quân xâm lược nhà nghề; còn về vũ khí thì ta có đến 1.100 khẩu thần công – nhưng lại quá lạc hậu so với vũ khí hiện đại của giặc. Vì thế lúc mặt trời ló dạng thì chúng đã từng bước giành được quyền chủ động.

Rạng sáng ngày 5/7/1885, pháo hạm Javeline đậu tại làng Bao Vinh đã cấp tập nã pháo vào phía đông bắc thành… để dọn đường cho bộ binh tiến công. Trung tá Pernot quyết định triển khai đội hình phản công theo ba hướng: cánh trái do thiếu tá Merzinger chỉ huy có nhiệm vụ tiến dọc theo bờ thành đông bắc, đánh dứt điểm một đồn của nghĩa quân gần cầu Thanh Long, xong, tiến lên đánh chiếm bộ Lại và bộ Binh; cánh giữa do đích thân Pernot chỉ huy, vòng qua hồ Tĩnh Tâm phía tây nam hỗ trợ quân của thiếu tá Merzinger, rồi cùng phối hợp tiến đánh vào Đại nội; cánh phải là đại đội 4 Bắc Phi tiến quân dọc theo hướng tây nam để cùng đánh vào Đại nội.

Sự phối hợp nhịp nhàng này đã tạo ra hiệu quả chắc chắn nhất. Chỉ trong vòng ba tiếng đồng hồ, nghĩa quân đã bị đánh bật ra ngoài kinh thành Huế, người chết nhiều không kể xiết, khoảng từ 1.200 đến 1.500 người, bỏ lại 812 khẩu đại bác, 16.000 khẩu súng các loại…

Chúng hào hứng giương lá cờ tam tài của nước Pháp tung bay trên kỳ đài. Sau đó, đang hăng máu chúng đốt phá hết những gì xuất hiện trước mắt! Chiến lợi phẩm lớn nhất mà chúng thu được là hàng trăm hòm vàng, bạc nén…

Theo tài liệu của chúng thì phải có đến 50 tên lính Pháp ròng rã suốt năm ngày để sắp xếp lại số vàng bạc này!

Phò vua Hàm Nghi ra khỏi kinh thành và đến Tân Sở

Bị đánh bật ra khỏi vị trí chiến đấu, nghĩa quân rút khỏi kinh thành, qua các hướng cửa Đông Ba, của Hữu… Trước đó vài phút, biết đã núng thế, Tôn Thất Thuyết tập trung tàn quân chực sẵn ngoài của Chưởng Đức, rồi mời vua Hàm Nghi, bà Từ Dụ, các tùy tùng mau chạy trốn. Mọi người còn đang chần chừ thì ông đã quắc mắt, tuốt gươm ra… Tất cả khiếp đảm răm rắp thi hành trong lúc tiếng súng của giặc còn nổ vang trời. Sợ giặc đuổi theo nên mọi người đi rất nhanh, tới đò Kẻ Vạn không có thuyền nên phải lội sông, chỉ đi dăm bước thì nước quá sâu, phải quay lui. Họ chạy về hướng chùa Thiên Mụ, lên Trường Thi thuộc làng La Chữ, ngủ tại đây một đêm.

Sáng hôm sau, họ tiếp tục đi tiếp về phía bắc, mãi đến khuya mới dừng chân nghỉ tại nhà của một ông phú hộ làng Văn Xá, qua ngày sau mới tới Quảng Trị. Nghỉ ngơi tại đây vài ngày, nhận thấy địa thế bất lợi, Tôn Thất Thuyết chia mọi người ra thành hai nhóm: Một nhóm gồm Thái hậu, những người trong hoàng gia và quan lại già yếu thì được ở lại Quảng Trị; còn vua Hàm Nghi, các võ tướng, văn quan có tinh thần kháng chiến thì tiếp tục theo đường Cam Lộ lên chiến khu Tân Sở mà ông đã chuẩn bị từ trước – nằm trên một cao nguyên ở phía tây bắc Quảng Trị, cách phủ lî Cam Lộ 15km, có thể đi sang Lào, ra Bắc. Thành Tân Sở được xây bằng gạch kiên cố, phía ngoài có ba hàng rào lũy tre, đủ sức chứa vài ngàn người và trong thành có chứa đầy đủ vũ khí, tiền bạc để tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Chính tại đây Hịch Cần vương đã được gửi đi cả nước, kêu gọi toàn dân đứng lên đánh đuổi sói lang…

Nguyễn Văn Tường đầu thú – Đồng Khánh lên ngôi

Trong thời điểm này, Nguyễn Văn Tường được Tôn Thất Thuyết cử ở lại Huế tìm cách hạn chế thiệt hại, nhưng sau đó Tường nhờ tên tu sĩ gián điệp Gaspar ở Kim Long đưa ra đầu thú với De Courcy. Nghe tin này, Tôn Thất Thuyết tức giận, sai nghĩa quân trở về đốt nhà Tường ở gần chợ Đông Ba. Còn De Courcy giao hẹn với Tường trong vòng hai tháng phải ổn định xong tình hình và tìm cách đưa vua Hàm Nghi về. Nhưng Tường không thể làm được. Vì thế chúng đày Tường sang đảo Tahiti. Trước lúc mất, Tường để lại hai câu thơ phân bua việc làm của mình cho hậu thế:

Dở hay xin mặc người sau xét,
Vua nước đôi đường hỏi trọng khinh?

Tường đi rồi, Pháp đưa Nguyễn Hữu Độ làm chủ tọa Viện cơ mật. Độ khôn khéo thương lượng với giặc phế vua Hàm Nghi và đưa con rể của mình là hoàng tử Ung Biện – con nuôi vua Tự Đức lên ngôi – với niên hiệu là Đồng Khánh vào tháng 9/1885. Dù vậy, cả nước vẫn sôi sục đứng lên “Phen này quyết đánh cả triều lẫn Tây”.

Đưa vua Hàm Nghi bôn tẩu kháng chiến

Nhưng tại Tân Sở, Tôn Thất Thuyết bây giờ mới nhận ra đây không phải là vị trí thuận lợi cho việc dụng binh, vì giặc án ngữ được Cam Lộ là cắt đứt đường liên lạc của nghĩa quân với các tỉnh trong nước. Do đó ngày 19/7/1885, ông ra lệnh nghĩa quân tiến ra Quảng Bình để tìm đường ra Bắc. Giặc Pháp ráo riết đuổi theo. Bị chận đường, nghĩa quân lại phải đưa vua Hàm Nghi quay về Tân Sở, ba ngày sau lánh sang Lào, rồi quay về Hà Tĩnh, đóng ở Ấu Sơn thuộc huyện Hương Khê. Những tháng ngày gian nan này, chẳng may vua Hàm Nghi bị bệnh thương hàn, nằm liệt một chỗ, hễ có động là nghĩa quân lại cõng chạy.

Rồi địa điểm này cũng bị lộ, nghĩa quân lại đưa nhà vua về ẩn náu ở Tuyên Hóa – miền thượng du Quảng Bình. Nhận thấy ở đây cũng tạm ổn, còn sức mình thì khó có thể chống cự được lực lượng hùng hậu của giặc nên Tôn Thất Thuyết tính chuyện sang Tàu cầu cứu. Ông giao nhiệm vụ cho hai người con mình là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Tiệp, cùng với Đề đốc Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân cùng nhiều đình thần khác bảo vệ vua Hàm Nghi. Trong khi đó, quyết tâm bắt cho bằng được cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, Pháp bàn với bù nhìn Đồng Khánh ra dụ “Ai hay bày kế trực tiếp đưa xe vua ra giao cho quan quân rước về thì thưởng cho hàm Chánh nhị phẩm, tấn phong nước Nam…; bắt sống được Tôn Thất Thuyết thưởng 1000 lạng bạc, chém được thưởng 800 lạng”.

Vua Hàm Nghi bị phản bội và sa vào tay giặc

Bấy giờ, trong những đội quân đi bảo vệ nhà vua còn có đội quân người Mường do Trương Quang Ngọc chỉ huy, giỏi về kỹ thuật bắn nỏ, rất lợi hại. Vì nghiện thuốc phiện, Ngọc về sau không chịu đựng được gian khổ, lại ham tiền để hưởng lạc nên ngầm mưu phản. Hắn cấu kết với tên Nguyễn Đình Thành đi báo tin cho Boulangier. Tên đại úy này hứa sẽ trọng thưởng xứng đáng! Ngoài việc dẫn đường cho một đội quân Pháp đi theo, hai tên nầy dẫn thêm hai mươi thuộc hạ thân tín lặn lội vào nơi nhà vua đang ẩn náu.

Đêm 30/10/1888. Vầng trăng nép mình vào bóng mây, bóng tối trùm xuống căn nhà lá trên bờ khe Tá Bào, mọi người đang ngủ say. Bỗng nghe có tiếng chân sột soạt, hai người hầu vệ nhà vua giật mình, vội vàng nhảy ra ngoài quan sát, liền bị ngọn giáo đâm qua bụng. Nghe tiếng la hét, Tôn Thất Thiệp bật người dậy, cầm gươm xông ra, chưa kịp nhận rõ mặt đối thủ thì đã hứng lấy một ngọn giáo từ xa lao tới, xuyên qua ngực! Lập tức, chúng xông vào trong nhà bắt nhà vua, ngài thét lên:

Thằng Ngọc! Mày giết tao đi, còn hơn đem tao giao cho Tây!

Cuối đời

Trong khi đó, võ tướng Tôn Thất Thuyết đã sang đến Trung Quốc. Nhưng bấy giờ, giặc Pháp đã ký với Trung Quốc Hiệp ước Fournier nên nhà Thanh không thể giúp được gì! Một người từng cầm quân đã từng bộc bạch nỗi lòng trong thơ:

Báo quốc lòng son sông núi tạc,
Gội bao sương tuyết bạc phơ đầu.

nay vô cùng thất vọng và hối hận vì tính sai đường. Rồi dưới sức ép của Pháp, nhà Thanh đã trở mặt đưa Tôn Thất Thuyết đi an trí ở Long Châu, rồi Thiều Châu. Trong những ngày lưu vong ở đất khách quê người, Tôn Thất Thuyết đau đớn không nguôi, hàng ngày ông ra bờ Tả giang cầm gươm chém đá cho hả giận; bởi vậy người Tàu mới gọi ông là Trảm thạch công.

Tôn Thất Thuyết mất tại tỉnh Quảng Đông vào ngày 22/9/1913 vào một ngày rét mướt, ảm đạm, mắt không nhắm vì thù nhà chưa trả xong. Một nhân sĩ ở đây thấu rõ nỗi lòng của ông nên đã viết điếu câu đối (Cố Nhi Tân dịch):

Thù ngoài không đợi trời chung, muôn thuở tiếng thơm ghi Tượng Quận;
Giúp chúa riêng tìm đất khác, ngàn năm xương trắng gửi Long Châu.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 5 – Danh nhân quân sự Việt Nam, Nxb Trẻ.

Chấm điểm
Chia sẻ
Tôn Thất Thuyết

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)