Vua Hàm Nghi (1871-1944)

Vua Hàm Nghi (1871-1944)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử 

Vua Hàm Nghi 咸宜 (1871-1944), húy là Nguyễn Phúc Ưng Lịch 阮福膺𧰡, khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Minh. Hàm Nghi là vị hoàng đế thứ tám của nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. 

Ông là con trai thứ năm của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai, mẹ là bà Phan Thị Nhàn, anh trai là Kiến PhúcĐồng Khánh. Từ nhỏ, ông sống trong cảnh bần hàn, dân dã với mẹ chứ không như hai người anh ruột ở trong cung.

Khi sứ giả đến rước, cậu bé Ưng Lịch tỏ ra kinh hãi, không dám khoác áo mũ được trao. Sáng ngày 12 tháng 6 năm Giáp Thân (tức 2 tháng 8 năm 1884), ông được hai hàng thị vệ dìu vào điện Thái Hòa để cử hành lễ đăng cơ, lấy niên hiệu Hàm Nghi. Lúc ấy, Ưng Lịch mới tròn 13 tuổi. Có ý kiến cho rằng Hàm Nghi được lập lên theo di chiếu của vua Kiến Phúc, nhưng thực chất, việc đưa ông lên ngôi là do phái chủ chiến chủ trương, đứng đầu là Tôn Thất Thuyết – Phụ chính đại thần kiêm Thượng thư bộ Binh.

Cai trị 

Tháng 7 năm 1884, sau khi vua Kiến Phúc đột ngột qua đời, triều đình tôn Hàm Nghi lên ngôi. Cuốn Việt Nam sử lược chép: 

Vua Kiến Phúc mất, đáng lẽ ra con nuôi thứ hai của vua Dực Tôn là ông Chánh Mông lên nối ngôi thì phải. Nhưng ông Tường và ông Thuyết không muốn lập người lớn tuổi, sợ mình mất quyền, bèn chọn người em ông Chánh Mông là ông Ưng Lịch, mới 12 tuổi, lập lên làm vua, đặt niên hiệu là Hàm Nghi. 

Quân Khâm sứ Rheinart  trước đã tư giấy sang cho Triều đình Huế rằng: Nam triều có lập ai lên làm vua thì phải xin phép nước Pháp mới được. Nhưng ông Tường và ông Thuyết cứ tự tiện lập vua, không cho quan Khâm sứ biết.(1)

Quan Khâm sứ thấy vậy, viết thư ra Hà Nội. Thống tướng Millot bèn sai quan tham mưu là đại tá Guerrier đem 600 quân và mội đội pháo binh vào Huế, bắt Triều đình phải xin phép lập ông Ưng Lịch lên làm vua. Ông Tường và ông Thuyết làm tờ xin phép bằng chữ nôm gửi sang bên Khâm sứ. Quan Khâm Sứ không nghe, bắt phải làm bằng chữ nho. Đến ngày 27 tháng 6 thì quan đại tá và quan Khâm sứ đi cửa chính vào điện làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi. Xong rồi quân Pháp lại trở ra Hà Nội. 

Công việc đầu tiên của vua Hàm Nghi, dưới sự chỉ đạo của Tôn Thất Thuyết là chủ trì lễ đón tiếp phái đoàn Pháp từ Tòa Khâm sứ bên bờ Nam sông Hương sang điện Thái Hòa làm lễ tôn vương. Sự kiện này được coi là thắng lợi của phe chủ chiến trong triều đình Huế trong việc giữ vững ngai vàng cho Hàm Nghi. Về phía Pháp, sau khi những yêu sách và đòi hỏi không đạt kết quả, họ buộc phải nhượng bộ, chấp nhận tình thế đã an bài để tránh phát sinh thêm rắc rối.

Đến ngày mồng 3 tháng 7 năm Giáp Thân (1884), trung tướng Courbet được lệnh khởi sự đánh Phúc Chân. Trung tướng truyền lệnh cho các chiến thuyền của Tàu đóng ở trong sông Mân Giang. Trung tướng hãm phá ở Phúc Châu rồi đem binh thuyền ra vây đánh đảo Đài Loan.

Hải quân của Pháp vây Đài Loan và các cửa bể mãi đến ngày tháng 6 năm Ất Dậu (1885), nước Tàu ký hòa ước, rồi mới thôi.

Phong trào Cần Vương

Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 5 âm lịch (tức đêm 5 rạng 6 tháng 7 năm 1885), trước sự ngạo mạn của quân Pháp đối với nhà vua, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết quyết định ra tay trước, tổ chức tấn công vào đồn Mang Cá. Tuy nhiên, đến sáng hôm sau, quân Pháp phản kích, quân triều đình thất thế phải rút lui, bỏ lại kinh thành Huế. Tôn Thất Thuyết liền vào cung tâu lại tình hình và khẩn khoản thỉnh cầu vua Hàm Nghi cùng Tam cung xuất bôn. Nghe vậy, nhà vua ngỡ ngàng thốt lên:

“Ta có gây chiến với ai đâu mà phải chạy.”

Trong quá trình rời thành, kiệu chao đảo khiến nhà vua bị va đầu nhiều lần, đau đớn, cuối cùng phải xuống võng để binh lính cáng đi. Nguyễn Văn Tường đưa vua về Quảng Trị lánh nạn, đến chiều 6/7 thì đoàn tới nơi. Sau đó, Nguyễn Văn Tường lại ra hàng Pháp. Tướng de Courcy yêu cầu trong vòng hai tháng ông phải đưa vua trở về. Nguyễn Văn Tường gửi sớ xin rước vua, nhưng Tôn Thất Thuyết đã ngăn lại, không để nhà vua hay biết. Khi hết thời hạn, gia đình Nguyễn Văn Tường bị đày ra Côn Đảo rồi sang Tahiti, nơi ông qua đời. Ngày 9/7, dưới sức ép của Tôn Thất Thuyết, Hàm Nghi rời Tam cung, tiến về căn cứ Tân Sở.

Tại Tân Sở, rồi sau đó ở vùng Minh Hóa và Tuyên Hóa (Quảng Bình), nhà vua phải chịu cảnh thiếu thốn, bệnh tật, hiểm nguy giữa rừng núi. Chính tại đây, Hàm Nghi đã ban Chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và nhân dân khắp nơi đứng lên chống Pháp. Sự hưởng ứng nồng nhiệt từ Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, thậm chí lan sang cả đất Lào, giúp nhà vua nhận rõ vai trò và trách nhiệm của mình. Từ một cậu bé ngơ ngác khi rời kinh thành, Hàm Nghi dần trở thành vị minh quân can trường. Sử sách ghi nhận: “Những gian lao đã luyện cho nhà vua thành người nhẫn nại, đón nhận phong trần một cách thản nhiên.”

Phong trào hưởng ứng Cần Vương lan rộng, song rải rác và thiếu sự liên kết nên sức mạnh chưa tập trung. Vua nhiều lần xuống dụ, gửi thư kêu gọi các quan lại, thủ lĩnh nghĩa quân và cả văn thư cầu viện sang Tổng đốc Vân Quý (nhà Thanh). Từ Bắc chí Nam, khắp nơi nhân dân nổi dậy dưới danh nghĩa phò vua cứu nước.

Trong những năm ấy, dù triều đình Huế cùng vua Đồng Khánh và Tam cung nhiều lần khuyên trở về, thậm chí Toàn quyền Pháp Paul Bert còn dự tính lập Hàm Nghi làm vua bốn tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh – Bình, nhưng ông kiên quyết từ chối. Nhà vua từng nói: “Thà chết trong rừng còn hơn trở về làm vua dưới ách kìm kẹp của Tây.” Dưới sự bảo vệ của Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Đạm, Đề đốc Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân cùng nhiều nghĩa sĩ, Hàm Nghi tiếp tục lãnh đạo kháng chiến.

Tháng 9/1888, suất đội Nguyễn Đình Tình phản bội, về hàng Pháp và lôi kéo thêm Trương Quang Ngọc. Chính hai người này dẫn quân đi bắt vua. Đêm 26/9/1888, Hàm Nghi bị bắt khi đang ngủ, Tôn Thất Thiệp bị sát hại. Lúc đó, nhà vua mới 17 tuổi, trải qua ba năm kháng chiến. Ông quát thẳng vào mặt kẻ phản bội:

“Mi giết ta đi, còn hơn mang ta nộp cho Tây.”

Sau khi bị giải đi qua nhiều đồn trại, ngày 22/11/1888, Hàm Nghi được đưa ra cửa Thuận An. Pháp lo dân chúng nổi dậy nếu thấy mặt vua kháng chiến, nên viện cớ “nhà vua bất thường, cần tĩnh dưỡng nơi khác”. Thực chất, họ đã quyết định lưu đày ông sang Algérie (Bắc Phi). Khi Rheinart báo tin Thái hậu lâm bệnh, hứa sẽ cho về thăm, Hàm Nghi thẳng thắn đáp:

“Ta thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ gì đến cha mẹ, anh em nữa.”

Sau khi bị phế truất, ông được gọi bằng tước hiệu Quận công Ưng Lịch.

Bị Pháp lưu đày

Lúc 4 giờ sáng ngày 25/11/1888, vua Hàm Nghi bị áp giải xuống tàu để đưa vào Lăng Cô. Trước giờ phút rời xa đất mẹ, nhà vua ngoái nhìn bờ, không kìm nổi niềm xúc động riêng hòa cùng nỗi đau mất nước nên bật khóc. Từ Sài Gòn, ngày 13/12/1888, ông bị đưa xuống con tàu Biên Hòa vượt đại dương sang Bắc Phi. Không quen sóng gió, nhà vua bị say biển liên miên, song vẫn lặng lẽ chịu đựng, không một lời than phiền. Đến chiều Chủ nhật, 13/1/1889, Hàm Nghi đặt chân tới thủ đô Alger của Algérie (Việt gọi là A Lợi Tư), khi vừa bước sang tuổi 18. Ban đầu, ông lưu trú tại L’hôtel de la Régence, sau đó chuyển về sống ở Villa des Pins thuộc làng El Biar, cách Alger 5 km.

Ngày 24/1, Toàn quyền Tirman của Algérie mời cựu hoàng đến dùng bữa cùng gia đình. Ít ngày sau, thông qua Tirman, ông hay tin mẹ ruột là bà Phan Thị Nhàn (thứ thất của Kiên Thái vương) vừa qua đời tại Huế vào ngày 21/1/1889.

Trong 10 tháng đầu lưu đày, Hàm Nghi cương quyết không học tiếng Pháp vì xem đó là ngôn ngữ của kẻ xâm lược, vẫn giữ nếp áo ngũ thân, khăn lượt truyền thống, và giao thiệp thông qua thông ngôn Trần Bình Thanh. Về sau, nhận thấy người Pháp tại Algérie cư xử cởi mở, khác hẳn thái độ của thực dân ở Việt Nam, nên từ tháng 11/1889, ông bắt đầu học tiếng Pháp. Chỉ vài năm, Hàm Nghi đã thông thạo cả nói và viết.

Thời gian sau, ông còn kết giao với nhiều trí thức Pháp, thậm chí năm 1899 sang Paris tham dự triển lãm của danh họa Paul Gauguin. Về sau, tranh của Hàm Nghi chịu ảnh hưởng rõ rệt từ phong cách của Gauguin. Hơn một thế kỷ sau, bức Déclin du jour (Chiều tà) của ông, ký nghệ danh Xuân Tử, được đem đấu giá ở Paris ngày 24/11/2010 và bán với giá 8.800 euro.

Đám cưới của vua Hàm Nghi

Trong thời gian sống lưu đày tại Algérie, vua Hàm Nghi từng trải qua những tháng năm cô độc giữa xứ người. Đến đầu thế kỷ XX, ông dần hòa nhập với đời sống địa phương, tham gia sinh hoạt văn hóa – nghệ thuật và giao du với nhiều trí thức Pháp. Chính trong môi trường ấy, năm 1904, Hàm Nghi kết hôn với Marcelle Laloë (1884-1974), con gái của một quan chức Pháp đang làm việc tại tòa án Alger.

Lễ cưới diễn ra long trọng tại Nhà thờ chính tòa Alger, có sự chứng kiến của nhiều quan chức và giới thượng lưu Pháp tại Algérie lúc bấy giờ. Đây là một sự kiện đặc biệt, bởi chú rể là cựu hoàng nước Việt Nam – người từng là biểu tượng chống Pháp – nay chính thức kết duyên cùng một thiếu nữ Pháp trong bối cảnh đã xa quê hương gần hai thập kỷ.

Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống tại Villa des Pins (Biệt thự Rừng thông) ở làng El Biar, ngoại ô Alger. Họ có với nhau ba người con:

  1. Công chúa Như Mai (1905-1999).
  2. Hoàng tử Minh Đức (1908-1944).
  3. Công chúa Ngọc Tuyết (1910-2005).

Cuộc hôn nhân này đã mang lại cho Hàm Nghi một mái ấm, giúp ông vơi đi nỗi buồn biệt xứ. Tuy vậy, trong tâm khảm, ông vẫn luôn giữ tình cảm sâu nặng với quê hương, thường dạy các con nhớ mình là người Việt, dù được nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa Pháp.

Đám cưới của Hàm Nghi vì thế không chỉ là sự kiện riêng tư, mà còn mang ý nghĩa biểu tượng: một vị vua trẻ từng kháng Pháp, cuối cùng đã tìm được hạnh phúc trong cuộc sống mới, song vẫn lưu giữ trọn vẹn nỗi niềm với đất nước đã mất.

Qua đời

Vua mất ngày 04/01/1944 (09/12 năm Quý Mùi), an táng tại nghĩa trang Alger, hưởng thọ 74 tuổi. Sau ngày Algérie giành được độc lập, thi hài của Ông được đưa về an nghỉ ở nghĩa trang của làng Thoniac, thuộc miền trung nước Pháp, cách Paris hơn 800 km, tại đây còn có mộ vợ và con của ông.

Vì kiên định tư tưởng chống Pháp, vua Hàm Nghi được xếp cùng với vua Thành Thái và vua Duy Tân trong hàng ba vị vua yêu nước tiêu biểu của Việt Nam dưới thời thuộc địa. Sau khi qua đời tại Algérie năm 1944, thi hài ông được an táng tại nghĩa trang Thonac (Pháp) và đến tháng 5 năm 2014 vẫn còn yên nghỉ tại đây. Trước đó, vào năm 2009, Hội đồng Nguyễn Phúc tộc đã rước bài vị và di ảnh của vua về thờ phụng trang trọng tại Thế Tổ Miếu trong Hoàng thành Huế, để tưởng nhớ và tôn vinh một vị hoàng đế đã gắn liền tên tuổi với phong trào Cần Vương và tinh thần bất khuất của dân tộc.

Chú thích

  1. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Quyển Hạ, Nhà in Bắc Thành, 1943, tr 282.

Tài liệu tham khảo

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Phạm Khắc Hòe (2001), Kể Chuyện Vua Quan Nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam Thực Lục, Nxb Giáo dục.
Chấm điểm
Chia sẻ
vua hàm nghi

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)