Vua Kiến Phúc (1869-1884)

Vua Kiến Phúc (1869-1884)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử 

Kiến Phúc 建福 (1869-1884) tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng (阮福膺登), lên ngôi lấy tên là Nguyễn Phúc Hạo (阮福昊), tự Dưỡng Thiện, là vị hoàng đế thứ bảy của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. 

Ông là con thứ ba của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai (em ruột vua Tự Đức) và bà Bùi Thị Thanh. Vì bác ruột của Ưng Đăng, tức vua Tự Đức không thể có con, nên đã nhận ba người cháu làm con nuôi, trong đó Ưng Đăng được nhận nuôi và giao cho bà Học Phi Nguyễn Thị Hương trông coi vào năm 2 tuổi (1870). 

Đại Lam Thực Lục chép: 

Con thứ hai, vợ thứ Kiến quốc công (tức Giản Tông Nghị hoàng đế), năm ấy lại được chọn vào nuôi ở trong cung, cũng mới lên 2 tuổi, sai Khiêm phi họ Nguyễn Văn chuyên việc nuôi.[1]

Thuở nhỏ, ông được đã hiểu biết sớm, thông minh sáng dạ, ôn hòa, yên lặng, sạch sẽ, cẩn thận lời nói và việc làm. Ngày thường chỉ ưa thích sách vở, thơ văn và luôn kính cẩn giữ phận làm con. 

Mùa thu năm 1882, ông được cho ra ở nhà Dưỡng Thiện, ở bên tả nhà Duyệt Thị, là nền cũ nhà Chính Mông.

Trẫm nuôi con nhỏ là Ưng Đăng ở trong cung từ khi lên 2 tuổi, đến nay hiện 14 năm rồi, đã gần trưởng thành, dạy cho đọc sách, tập làm thơ văn, hơi biết một tý, tính cũng hơi sáng, biết sợ, tưởng cũng dễ dạy, nhưng còn học một buổi, nghỉ 10 buổi nên chưa chóng thông. Nay cho ra ở nhà Dưỡng Thiện để cho gần thầy học sớm tối học dùi mài hầu được tiến đức. Nội các Thị lang Nguyễn Thuật được tập biết sớm là người thông hiểu, cẩn thận, cho gia hàm Tham tri, kiêm sung chức dạy bảo ở nhà ấy. Người nhân lúc việc công được rỗi, hằng ngày đi đến đốc thúc bảo bọn tán thiện giảng tập, dạy chăm dỗ khéo, cho kiến văn ngày một rộng ra và xét bảo đường thuộc kính cẩn hầu hạ, chớ phạm vào làm bậy, để cho hoàng tử chóng được có đức tốt, học thông nết thuần, mới xứng đáng với ấn mệnh.[2]

Cai trị

Ngày 19 tháng 7 năm 1883, trước khi mất, vua Tự Đức để lại một bản di chiếu chỉ định hoàng trưởng tử Dục Đức 31 tuổi lên nối ngôi. Nhưng lại nói thêm rằng:

Dục Đức có tật ở mắt, lâu ngày có thể sẽ mù, tính lại hiếu dâm, rất không tốt chưa chắc đảm đương nổi việc lớn, nước đang cần có vua lớn tuổi, nếu bỏ hoàng tử trưởng thì biết lấy ai?[3]

Tuy nhiên, Dục Đức chỉ ở ngôi được ba ngày thì bị phế truất, Hồng Dật được lập lên ngôi, tức vua Hiệp Hòa. Sau khi Hoàng đế Hiệp Hòa bị phế bỏ, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã cho người đến nhà Dưỡng Thiện ở Khiêm Lăng (lăng Tự Đức) đón hoàng tử thứ ba (Ưng Đăng) về lập làm vua. 

Tác giả Phạm Khắc Hòe bàn: 

Dục Đức và Hiệp Hòa bị giết rồi, đáng lẽ phải đưa Chánh Mông là con nuôi thứ hai của Tự Đức lên làm vua, nhưng Tường và Thuyết lại chọn con nuôi út, mới 14 tuổi là Dưỡng Thiện lên ngôi với niên hiệu là Kiến Phúc.[4]

Cuốn Việt Nam sử lược chép: 

Ngày mồng 7 tháng 10 năm Quí Mùi (1883), ông Dưỡng Thiện, húy là Ứng Đăng lên ngôi làm vua, đặt niên hiệu là Kiến Phúc. Bấy giờ ngài mới có 15 tuổi, việc gì cũng ở Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết quyết định cả.[5]

Tình hình ở Bắc Kì

Vào thời điểm đó, tại Bắc Kỳ, lực lượng của Hoàng Kế Viêm và Trương Quang Đản vẫn đang liên kết cùng quân Thanh để chống lại quân Pháp. Khâm sứ Pháp ở Huế đã vin vào cớ này để trách móc, buộc triều đình phải ban dụ gọi hai vị tướng trở về kinh. Tuy triều đình đã nhún nhường như thế, song chẳng bao lâu sau, quân Pháp vẫn mở cuộc tấn công và lần lượt chiếm giữ các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa và Tuyên Quang.

Bảo hộ của Pháp

Ngày 18 tháng 4 âm lịch năm Giáp Thân (1884), Pháp và nhà Thanh ký Hòa ước Thiên Tân (còn gọi là Hòa ước Fournier). Theo đó, triều đình nhà Thanh chấp nhận rút quân khỏi Bắc Kỳ và để mặc cho Pháp toàn quyền sắp đặt mọi việc ở Việt Nam.

Nắm được ưu thế, đến ngày 13 tháng 5 âm lịch cùng năm (tức 6/6/1884), đại diện Pháp là Jules Patenôtre lại ký một hòa ước mới với triều đình Huế. Hiệp ước này, được gọi là Hòa ước Giáp Thân (1884), chính thức xác nhận quyền bảo hộ của Pháp và chia Việt Nam thành hai khu vực hành chính là Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Qua đời

Trong lúc tình hình đất nước còn nhiều biến động, vua Kiến Phúc qua đời vào ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân (tức 31/7/1884), khi mới 15 tuổi. Ông được truy tôn miếu hiệu là Giản Tông 簡宗, thụy hiệu là Thiệu Đức Chí Hiếu Uyên Duệ Nghị Hoàng đế 紹德止孝渊睿毅皇帝.

Lăng mộ của vua Kiến Phúc mang tên Bồi Lăng, tọa lạc ở phía trái Khiêm Lăng, thuộc làng Dương Xuân Thượng, phường Thủy Xuân, thành phố Huế.

Chính sử của nhà Nguyễn – Ðại Nam thực lục chính biên ghi: Vua không khỏe, ngọc thể vi hòa, đình thần đã xin vua tĩnh dưỡng và chia nhau đi cầu đảo các linh từ, sau đó đã khỏe, nhưng chưa được bình phục như cũ. Đến ngày mồng bảy tháng này, ngày kỷ mão mới ngự điện Văn Minh; chịu lễ chầu mừng, ban thưởng lụa hoa cho các bầy tôi có sai bậc, rồi sau lại không được khỏe. Thái y tiến thuốc, không thấy công hiệu. Ngày mồng mười nhâm ngọ, bệnh kịch, giờ ngọ hôm ấy vua mất ở chính tẩm điện Kiến Thành.

Cái chết của vua Kiến Phúc được ghi chép:

Một đêm, khi Kiến Phúc đang nằm nghỉ, vua nghe loáng thoáng câu chuyện trao đổi giữa các cung nhân. Đột nhiên, nhà vua bật dậy kêu lớn với Nguyễn Văn Tường: “Nếu bệnh của ta không khỏi thì sẽ xử chém cả ba họ nhà ngươi!”. Nguyễn Văn Tường liền xuống Thái y viện lấy thuốc dâng, nhưng lại cố tình làm hỏng thuốc rồi tự mình pha chế một loại khác đưa cho bà Học phi. Theo lời khuyên của bà Học phi, Kiến Phúc uống thuốc ấy và đến sáng hôm sau thì băng hà.

Chiều hôm đó, trong buổi thiết triều bất thường, Nguyễn Văn Tường tuyên bố rằng vua Kiến Phúc vì bệnh tình trở nặng nên đã băng, đồng thời đề nghị đưa Ưng Lịch lên kế vị, lấy niên hiệu là Hàm Nghi.[6]

Chú thích

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, tập 7, Nxb Giáo dục, 2007, tr 1218. 
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, tập 8, Nxb Giáo dục, 2007, tr 542. 
  3. Phạm Khắc Hòe, Kể Chuyện Vua Quan Nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, 2001, 72.
  4. Phạm Khắc Hòe, Kể Chuyện Vua Quan Nhà Nguyễn, sđd, 77.
  5. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành, 1943, tr 227.

Tài liệu tham khảo

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam Thực Lục, tập 8, Nxb Giáo dục.
  2. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành
  3. Phạm Khắc Hòe (2001), Kể Chuyện Vua Quan Nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, 72.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam Thực Lục, tập 7, Nxb Giáo dục.
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Quốc triều sử toát yếu, Nxb Văn học.

___________________

Các ngôn ngữ khác

1. Tiếng Anh (English)

Biography

Kien Phuc (建福, 1869–1884), personal name Nguyen Phuc Ung Dang (阮福膺登), upon accession took the name Nguyen Phuc Hao (阮福昊), courtesy name Duong Thien, was the seventh emperor of the Nguyen dynasty in Vietnamese history.

He was the third son of Kien Thai Vuong Nguyen Phuc Hong Cai (younger brother of Tu Duc) and Bui Thi Thanh. Because his uncle Tu Duc was childless, he adopted three nephews; Ung Dang was adopted and, at age two (1870), placed under the care of Lady Hoc Phi Nguyen Thi Huong.

Dai Lam Thuc Luc records:

“The second son, by a secondary wife of Kien Quoc cong (i.e., Emperor Gian Tong Nghi), that same year was also selected to be raised in the palace; being only two years old, he was entrusted to Khiem Phi of the Nguyen clan for nursing.”[1]

In childhood he was precocious and intelligent—mild, quiet, neat, careful in speech and conduct. He favored books and poetry and was ever dutiful as a son.

In autumn 1882 he was lodged in the Duong Thien Residence, left of the Duyet Thi house, on the site of the former Chinh Mong house.

An imperial note states:

“I have raised the young son Ung Dang in the palace since age two; it is now fourteen years—near manhood. He has been taught to read and compose; he knows a little, is somewhat bright and respectful, and seems teachable; yet he studies one day and idles ten, so progress is slow. Now I send him to reside at Duong Thien so he may be close to tutors, studying day and night to advance in virtue. Nguyen Thuat, Vice Minister of the Imperial Secretariat—well-informed and cautious—receives the honorary rank of Tham tri and concurrently instructs there. When public duties allow, he shall daily supervise, urging the attendants to drill him; teach with care, broaden his knowledge, and admonish the household to serve reverently and avoid impropriety, so the prince may swiftly become virtuous and well-schooled, worthy of the mandate.”[2]

Reign

On 19 July 1883, before his death, Tu Duc left a testament designating the eldest adopted son, Duc Duc (age 31), as heir, but added:

“Duc Duc has an eye ailment which may lead to blindness; his lustful nature is very bad—hardly fit for great affairs. The state needs an adult ruler; if we set aside the eldest prince, whom should we choose?”[3]

Duc Duc reigned only three days before being deposed; Hong Dat was enthroned as Hiep Hoa. After Hiep Hoa was deposed, Nguyen Van Tuong and Ton That Thuyet summoned the third adopted son (Ung Dang) from the Duong Thien Residence at Khiem Lang (Tu Duc’s tomb) to be enthroned.

Pham Khac Hoe comments:

“After Duc Duc and Hiep Hoa were killed, they should have raised Chanh Mong—the second adopted son of Tu Duc. Instead, Tuong and Thuyet chose the youngest adoptee, only fourteen, Duong Thien, to ascend with the reign title Kien Phuc.”[4]

Viet Nam Su Luoc notes:

“On the 7th day of the 10th month of Quy Mui (1883), Duong Thien, personal name Ung Dang, ascended the throne, taking the reign title Kien Phuc. He was only fifteen; all matters were decided by Nguyen Van Tuong and Ton That Thuyet.”[5]

Situation in Tonkin (Bac Ky)

At that time in the North, the forces of Hoang Ke Viem and Truong Quang Dan still cooperated with Qing troops against the French. The French Resident in Hue seized on this to reproach the court and forced an edict recalling the two generals. Though the court yielded, the French soon attacked and successively occupied Son Tay, Bac Ninh, Hung Hoa, and Tuyen Quang.

French protectorate

On the 18th day of the 4th lunar month, Giap Than (1884), France and Qing signed the Tientsin/Fournier Treaty: Qing agreed to withdraw from Tonkin and leave France free to arrange affairs in Vietnam.

Holding the advantage, on the 13th day of the 5th lunar month (6 June 1884), French envoy Jules Patenotre concluded a new treaty with Hue—the 1884 Giap Than Treaty—formally recognizing the French protectorate and dividing Vietnam into two administrative regions: Trung Ky (Annam) and Bac Ky (Tonkin).

Death

Amid national turmoil, Kien Phuc died on the 10th day of the 6th lunar month, Giap Than (31 July 1884), at age fifteen. He was posthumously honored with the temple name Gian Tong (簡宗) and the posthumous title Thieu Duc Chi Hieu Uyen Due Nghi Hoang De (紹德止孝渊睿毅皇帝).

His tomb, Boi Lang, lies to the left of Khiem Lang in Duong Xuan Thuong village, Thuy Xuan ward, Hue.

The official Dai Nam Thuc Luc chinh bien records: the king was unwell; the court urged rest and held prayers; he improved but not fully. On the 7th (day Ky Mao) he attended at Van Minh Hall, received congratulations, and bestowed patterned silk; afterward he again fell ill. The imperial physicians prescribed without effect. On the 10th (day Nham Ngo), his illness worsened, and at midday he died in the main chamber of Kien Thanh Hall.

Account of his death

“One night, while resting, the king overheard palace women whispering. Suddenly he rose and shouted at Nguyen Van Tuong: ‘If I do not recover, I will execute your entire clan!’ Tuong went to the Imperial Pharmacy, took medicine, deliberately spoiled it, then prepared another to give Lady Hoc Phi. On her advice, Kien Phuc drank it and by morning passed away.”

That afternoon, at an extraordinary court session, Nguyen Van Tuong announced that the king had died of aggravated illness and proposed enthroning Ung Lich as Ham Nghi.[6]


2. Tiếng Pháp (Fran.)

Biographie

Kien Phuc (建福, 1869–1884), nom personnel Nguyen Phuc Ung Dang (阮福膺登), prit à l’avènement le nom Nguyen Phuc Hao (阮福昊), nom de style Duong Thien ; il fut le septième empereur de la dynastie Nguyen.

Troisième fils de Kien Thai Vuong Nguyen Phuc Hong Cai (frère cadet de Tu Duc) et de Bui Thi Thanh. Son oncle Tu Duc étant sans enfant, il adopta trois neveux ; Ung Dang fut adopté et confié à la garde de la dame Hoc Phi Nguyen Thi Huong à l’âge de deux ans (1870).

Dai Lam Thuc Luc note :

« Le second fils, d’une épouse secondaire de Kien Quoc cong (c.-à-d. l’empereur Gian Tong Nghi), fut cette année-là aussi choisi pour être élevé au palais, n’ayant que deux ans ; on chargea Khiem Phi, du clan Nguyen, des soins. »[1]

Enfant, il fut précoce et intelligent, doux et réservé, propre et soigneux en paroles et en actes, aimant les livres et la poésie, toujours filial.

À l’automne 1882, il s’installa à la Résidence Duong Thien, à gauche de la maison Duyet Thi, sur l’emplacement de l’ancienne demeure Chinh Mong.

Une note impériale précise :

« J’élève Ung Dang au palais depuis l’âge de deux ans ; quatorze années ont passé, près de l’âge adulte. On lui a appris à lire et à composer ; il sait un peu, est plutôt éveillé et craintif, donc facile à instruire ; mais il étudie un jour et chôme dix, si bien que les progrès sont lents. Je l’envoie à la Résidence Duong Thien pour être près des maîtres, étudier matin et soir et avancer en vertu. Nguyen Thuat, vice-ministre du Secrétariat impérial, homme compétent et prudent, reçoit le titre honorifique de Tham tri et l’office d’instruction sur place… »[2]

Règne

Le 19 juillet 1883, avant de mourir, Tu Duc légua un testament désignant l’aîné adopté Duc Duc (31 ans) héritier, tout en ajoutant :

« Duc Duc souffre des yeux et pourrait devenir aveugle ; de plus, il est lubrique — fort mauvais — et sans doute inapte aux grandes affaires. L’État a besoin d’un souverain adulte ; si l’on écarte l’aîné, qui prendre ? »[3]

Duc Duc ne régna que trois jours avant d’être déposé ; Hong Dat fut établi sous le nom d’Hiep Hoa. Après la déposition d’Hiep Hoa, Nguyen Van Tuong et Ton That Thuyet firent venir le troisième fils adopté (Ung Dang) de la Résidence Duong Thien à Khiem Lang pour le proclamer.

Pham Khac Hoe commente :

« Duc Duc et Hiep Hoa tués, on aurait dû élever Chanh Mong, second fils adopté de Tu Duc. Mais Tuong et Thuyet choisirent le plus jeune, âgé de quatorze ans, Duong Thien, sous le nom d’ère Kien Phuc. »[4]

Viet Nam Su Luoc écrit :

« Le 7 du 10e mois de l’année Quy Mui (1883), Duong Thien, de nom personnel Ung Dang, monta sur le trône, prit l’ère Kien Phuc. Il n’avait que quinze ans ; toutes les affaires étaient tranchées par Nguyen Van Tuong et Ton That Thuyet. »[5]

Situation au Tonkin (Bac Ky)

Alors, au Nord, Hoang Ke Viem et Truong Quang Dan coopéraient encore avec les troupes Qing contre les Français. Le Résident français à Hue s’en prévalut pour blâmer la cour et l’obliger à rappeler les deux généraux. Malgré cette concession, les Français attaquèrent bientôt et occupèrent successivement Son Tay, Bac Ninh, Hung Hoa et Tuyen Quang.

Protectorat français

Le 18e jour du 4e mois lunaire (1884), la France et les Qing signèrent le traité de Tianjin/Fournier : les Qing se retiraient du Tonkin et laissaient la France libre en Annam.

Le 13e jour du 5e mois lunaire (6 juin 1884), Jules Patenôtre conclut avec Hue le traité de l’Année Giap Than (1884), confirmant le protectorat français et divisant le Vietnam en deux régions administratives : Trung Ky (Annam) et Bac Ky (Tonkin).

Décès

Au milieu des troubles, Kien Phuc mourut le 10e jour du 6e mois lunaire Giap Than (31 juillet 1884), à quinze ans. Il reçut à titre posthume le nom de temple Gian Tong (簡宗) et le titre Thieu Duc Chi Hieu Uyen Due Nghi Hoang De (紹德止孝渊睿毅皇帝).

Sa tombe, Boi Lang, se situe à gauche de Khiem Lang, village Duong Xuan Thuong, quartier Thuy Xuan, Hue.

Les Dai Nam Thuc Luc chinh bien rapportent : le roi, souffrant, fut invité à se reposer ; on pria dans les sanctuaires ; il alla mieux sans recouvrer l’ancien état. Le 7 (jour Ky Mao), il siégea à Van Minh, reçut les félicitations, distribua des soieries ; puis retomba malade. La médication resta sans effet. Le 10 (jour Nham Ngo), le mal s’aggrava ; à l’heure de midi, il mourut au pavillon principal de Kien Thanh.

Récit de sa mort

« Une nuit, se reposant, le roi surprit des chuchotements de dames du palais. Il se leva soudain et cria à Nguyen Van Tuong : ‘Si je ne guéris pas, j’exécuterai tes trois lignées !’ Tuong se rendit à la Pharmacie impériale, prit un remède, le gâta exprès, en prépara un autre et le remit à la dame Hoc Phi. Sur son conseil, Kien Phuc le but et, au matin, s’éteignit. »

L’après-midi, lors d’un conseil extraordinaire, Nguyen Van Tuong déclara le décès par aggravation et proposa d’élever Ung Lich sous l’ère Ham Nghi.[6]


3. Tiếng Trung (中文)

生平

建福帝(1869–1884),名阮福膺登,登極改名阮福昊,字養善,為越南阮朝第七位皇帝。

其父為堅泰王阮福洪才(嗣德帝之弟),母裴氏清。因叔父嗣德帝無嗣,收三侄為養子,其中膺登於二歲(1870)入宮,由學妃阮氏香撫育。

**《大藍實錄》**載:

「次子,建國公(即簡宗毅皇帝)側室所生,是年亦擇入宮養,方二歲,命阮氏謙妃專司撫育。」[1]

少時穎悟早慧,性情溫和寡言,整潔謹慎;日常嗜書好詩,恭謹守孝。

光緒八年秋(1882),賜居養善堂,在悅試之左,為舊正夢之基址。

御批

「朕自其二歲即養之於宮,至今十四年,將及冠。誨之讀書、習詩文,略知一二,性略聰而知懼,易於訓導;然學一息而輟十息,未能速通。今令出居養善堂,以便近師晨昏課讀以進德。內閣侍郎阮述,學識通敏而慎密,授加銜參知,兼充該堂教習……。」[2]

即位與政務

嗣德帝於光緒九年六月十九日(1883.7.19)遺詔立長養子育德(年三十一),又曰:

「育德目疾久,恐至失明,其性好色,殊不可,未可勝大任。國需成人之君;若舍長子,復立何人?」[3]

育德在位僅三日即廢;洪佚立,是為協和。協和廢後,阮文祥、尊室說自謙陵之養善堂迎第三義子(膺登)入宮立為帝。

范克和評曰:

「育德、協和既見誅,本當立正夢(嗣德次養子)。然祥與說乃擇最幼者,年僅十四之養善即位,號建福。」[4]

《越南史略》記:

「癸未十月初七(1883),養善,名膺登,即皇帝位,建元建福。時年僅十五,凡事俱決於阮文祥、尊室說。」[5]

北圻局勢

其時北圻,黃繼炎、張光澹仍與清軍合力抗法。駐順化法國欽使藉此斥責,迫廷令二將還京。雖稍示退讓,未幾法軍仍次第攻取山西、北寧、興化、宣光諸省。

法國保護

甲申四月十八日(1884),法、清訂《天津條約》(又稱傅尼耶條約),清廷許撤出北圻,任法國處置越南事務。

其年五月十三日(公曆6月6日),法使巴德諾(Jules Patenôtre)與朝廷再訂《甲申條約》(1884),正式確認法國之保護權,並將越南劃為中圻、北圻兩行政區。

崩逝

國事多艱之際,建福帝於甲申六月初十(1884.7.31)崩,年十五。追尊廟號簡宗,諡「紹德止孝渊睿毅皇帝」。

陵曰培陵,在謙陵之左,屬順化市水春坊楊春上村地。

**《大南實錄正編》**載:帝體不康,群臣請停朝調護,分詣諸祠祈禱;稍愈未復。至是月初七己卯,御文明殿受賀,賜綵有差,旋復不豫。太醫進藥無效。初十壬午,病劇,午時崩於建成殿正寢。

死因傳聞

「一夜,帝寢中,偶聞宮人細語,忽起叱阮文祥:『朕若不愈,族汝三族!』祥即赴太醫院取藥,陽為壞之,自調別藥付學妃。帝從學妃之勸服之,至翌晨崩。」

其日午後,非常朝,阮文祥宣稱帝以病劇而崩,遂議立膺歷為帝,改元咸宜。[6]

Chấm điểm
Chia sẻ
Kiến Phúc 建福 (1869-1884)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)