Khái quát
Khi nhà văn hư cấu một tác phẩm, có thể những tình tiết ấy được viết từ tưởng tượng, nhưng cũng có khi từ một sự kiện có thật trong lịch sử, họ ghi nhận và phát triển thêm. Chẳng hạn, khi đọc tiểu thuyết Búp sen xanh của nhà văn Sơn Tùng, ta thấy có đoạn:
Nguyễn Tất Đạt (Nguyễn Sinh Khiêm) từ Nghệ An trở vào Huế. Đạt bàng hoàng trước cảnh nhà: cha đã đi khỏi Kinh đô Huế, em trai Nguyễn Tất Thành bị cảm sốt từ hôm tiễn cha đi, nằm mê man. Những người bạn thân nhất của Thành là Diệp Văn Kỳ, Lê Thị Hạnh đã về Sài Gòn, Công tôn nữ Huệ Minh đã về nhà chồng, Thành nhờ có một số bạn học mới giúp thuốc thang và cháo lão…
Tất Đạt chạy thầy, chạy thuốc tiếp cho em. Anh sang tận bên An Cựu mời thầy lang nổi tiếng về nuôi tại nhà trong những ngày em bịnh nặng. Khi được biết rõ bệnh nhân là con trai thứ quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, thầy lang đã không lấy tiền bắt mạch kê đơn và cũng từ chối cả việc cơm nước.
Thành khỏi bệnh, hai anh em trả nhà cho chủ, đến ở trọ tại quán Ao Hồ (đường Mạc Đĩnh Chi bây giờ). Trường Quốc học có mặt học sinh mười hai tỉnh của xứ Trung Kỳ, nhưng học trò Nghệ Tĩnh, Quảng Nam là đông nhất. Do đó, có hai quán trọ dành riêng cho học trò xứ Nghệ và học trò xứ Quảng. Hai anh em Thành trọ chung một buồng hạng ít tiền nhất, tự giặt lấy quần áo, ăn cơm “bình dân”.
Thầy Lê Văn Miến ghé thăm nơi ăn, chỗ ở của học trò Nghệ, đồng hương với thầy. Thầy Miến băn khoăn nói với anh em Thành:
Trước ngày quan Phó bảng đi Bình Khê nhận chức Tri huyện, thầy có bàn việc đón hai trò đến nhà thầy ở. Nhà thầy rộng, có nơi ngồi học riêng biệt. Thầy và các con thầy ăn chi, các trò ăn nấy. Thầy không sống bằng cao lương mỹ vị. Nhưng nhìn bữa ăn của hai trò, thầy không cầm lòng nổi. Hai trò về nhà thầy ở. Nhà thầy có một khu vườn xanh, cả ngày không lúc nào vắng tiếng chim, có những chậu cảnh, các loại hoa quý. Thầy biết trò Thành yêu cảnh trí ấy và thích hội họa. Thầy sẽ dạy cho trò học thêm môn vẽ.
Thưa thầy, – Thành lễ phép nói – con và anh con rất biết tấm lòng vàng của thầy. Và chúng con khi được ở bên thầy, việc học của chúng con càng tấn tới. Nhưng thưa thầy, chúng con cũng muốn sống tự lực, để khi gặp phải cảnh ngộ nào chúng con cũng vẫn giữ được nếp nhà.
Thành nhìn bộ quần áo của thầy, giọng xúc động:
Thầy là gương sáng về cốt cách người Nam để chúng con noi theo: thầy đã từng du học bên Tây, ăn cơm Tây, nói tiếng Tây, nhưng không hề thấy thầy đã bị trừ đi một phần nào cái cốt cách dân tộc. Nhưng chúng con thấy một số thầy người Nam mà cách nói, cử chỉ, ăn mặc lại hoàn toàn như người Tây. Trong khi đó có những thầy người Tây lại ra công học tiếng Việt Nam, mặc y phục Việt Nam, đặt tên Việt Nam và tập ăn các thứ mắm, ăn trầu thuốc nữa…
Thầy Lê Văn Miến cầm lấy bàn tay thon thon của Tất Thành, giọng ông nói ấm áp:
Tục ngữ có câu: “Đã khôn từ trứng khôn ra, đã dại đến già vẫn dại”. Tiền đồ của dân tộc phải trông đợi ở lớp người trẻ. Lớp người như thầy thật vô dụng… Nguyễn Tất Thành hơi bối rối:
Thưa thầy, không có lớp các thầy, những người như thầy, thì đâu có lớp chúng con!
Qua đoạn văn này, ta thấy nhà văn hư cấu từ một sự kiện có thật: Nguyễn Tất Thành (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) lúc ở Huế, từng theo học với thầy Lê Văn Miến.
Thân thế và quá trình học tập
Thầy Lê Văn Miến, còn có tên Lê Huy Miến – con trai thứ ba của Cử nhân Lê Huy Nghiêm, sinh năm 1874 trong một gia đình có truyền thống khoa bảng tại làng Ông La, xã Kim Khê (nay là xã Nghi Long), huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Lúc thầy lên 6 thì cha được bổ làm huấn đạo huyện Quảng Điền, sau đó thăng Tri phủ huyện Phú Lộc (Thừa Thiên), rồi Tri phủ Ứng Hòa (Hà Đông), Án sát Sơn Tây… Trên bước đường công tác của cha, thầy được cha dẫn theo và dạy cho học chữ Hán. Nhân cách và tri thức của thầy chịu ảnh hưởng sâu sắc từ người cha đáng kính.
Một sự kiện khách quan tác động đến cuộc đời của thầy là năm 1888, thầy vừa 14 xuân. Đây là năm mà vua Hàm Nghi – linh hồn của phong trào Cần Vương – bị giặc Pháp bắt; Đồng Khánh lên ngôi và ra dụ từ nay cấm dùng hai chữ Hàm Nghi, mà khi cần chỉ gọi “Quận công Lịch”… Về phía người Pháp đây là năm chúng khởi công xây dựng đường dây điện báo Sài Gòn – Hà Nội, ra sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội, Hải Phòng… Riêng về giáo dục, nhằm đào tạo những quan chức trung thành với chính phủ Pháp, chúng đã tuyển chọn những con em của các quan trong triều đình đưa sang Pháp học. Trong số những học sinh được chọn có Lê Văn Miến, nhưng phải khai tăng thêm 2 tuổi nữa.
Sang Pháp, thầy được vào học trường Thuộc địa (École Coloniale) ở Paris. Không vì mục đích học xong để về nước làm quan như bao người khác, sau khi tốt nghiệp, thầy vẫn tiếp tục theo học trường Mỹ thuật Paris (École des beaux arts). Có thể ghi nhận thầy là người trước nhất được tiếp thu phương pháp hội họa phương Tây, người đầu tiên vẽ tranh sơn dầu của Việt Nam. “Trước năm 1925, họa sĩ Lê Huy Miến đi du học ở Pháp, mang về Việt Nam lối vẽ Cổ điển, với các tranh sơn dầu, miêu tả người đâu ra đấy trong một ánh sáng nâu thẫm chuyển dịu dàng. Người Việt quen xem tranh khắc gỗ, nét thuần tuý, mầu chỉ có tính chất trang trí hoặc gọi tả, không có khối, không có ánh sáng, ngạc nhiên vô cùng về khả năng tả thực của bút pháp Tây phương” (Phan Cẩm Thượng – Lương Xuân Đoàn).
Nói như thế, không phải chúng ta quên đi các trường mỹ thuật đã được thành lập trước đó tại miền Nam. Chẳng hạn, Trường Mỹ nghệ Thủ Dầu Một (1901), Trường Mỹ nghệ Biên Hòa (1907) và nhất là Trường Trang trí Mỹ thuật Gia Định (1913) – sau đổi tên là Trường Nghệ thuật trang trí và Đồ họa Gia Định:
Với một thành phố thuộc địa đang phát triển mạnh về nhiều mặt như Sài Gòn lúc bấy giờ, bọn cai trị rất cần chuyên viên bản xứ về hình họa, trang trí, nắm vững kỹ thuật đồ họa, đáp ứng cho nhu cầu xây dựng kỹ nghệ, kinh tế, công chánh. Vì vậy, đây không phải là một trường mỹ thuật mà chỉ là một trường nghệ thuật thực hành, một loại trường trang trí trung cấp, đào tạo sự hiểu biết chắc chắn nhưng chỉ vừa đủ, cả thực hành lẫn lý thuyết. Tất nhiên, về chương trình học tập thì trình độ của trường Gia Định cao hơn Trường Mỹ nghệ Biên Hòa nhiều, như đã xác định: Trường Nghệ thuật trang trí và Đồ họa Gia Định được thành lập cốt để hoàn tất chương trình dạy nghề của Trường Mỹ nghệ Biên Hòa được thành lập hơn mười năm trước.
Phải đợi đến năm 1925 tại Hà Nội, họa sĩ Pháp Victor Tardieu (1867-1937) và danh họa Nam Sơn (1890 – 1973) thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, truyền bá lối hội họa phương Tây. Từ đó, các phong cách nghệ thuật nước ngoài bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Với ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc và xu hướng phương Đông hình thành dần trong quá trình này, tạo ra một phong cách hội họa Việt Nam hiện đại trong giao lưu văn hóa Đông – Tây.
Hoạt động hội họa
Chính do học ở trường Mỹ thuật ở Pháp đã giúp thầy Lê Văn Miến phát huy được năng khiếu về hội họa. Có thông tin cho rằng, do tốt nghiệp xuất sắc nên nhà trường đã đề nghị chọn thầy sang Ý trang trí và vẽ tranh cho Tòa thánh Vatican, nhưng sự việc không thành vì không được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa.
Thời gian ở Pháp, thầy đã vẽ chân dung của một vài nhân vật nổi tiếng. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân:
Tác phẩm sơn dầu đầu tiên của họa sĩ Miến còn được biết đến là bức chân dung vẽ cho ông Nguyễn Văn Mại, nhân dịp ông này đi sứ sang Pháp năm 1884. Trong hồi ký của mình “Lô Giang tiểu sử” ông Nguyễn Văn Mại còn ghi lúc sang Paris:
“…Ông Lê tỉnh nghề vẽ, gặp nhau mừng lắm. Ta có xin ông ta họa chân dung ta. Ông ta dùng một tấm vải tây dày vẽ họa cho ta một bức bán thân. Mỗi sáng đến vẽ một giờ, ba buổi thì xong, Khi về nhà trình cho mẹ ta xem, mẹ ta nói rằng mặt mũi đều giống hệt ta…
Sự nghiệp giáo dục
Sau bảy năm du học, thầy trở về nước. Với học lực của mình, thầy dễ dàng tìm được một việc làm thuận lợi để sinh sống. Nhưng thầy lại ra Hà Nội làm thuê cho nhà in của ông Schneider tại phố Hàng Bông, nhận phần trình bày hoặc vẽ minh họa sách báo in nơi này. Dù không nhận vẽ tranh truyền thần cho ai, nhưng “hữu xạ tự nhiên hương”, có nhiều người tìm đến, dù trả tiền rất hậu nhưng thầy vẫn khéo léo từ chối, chỉ vẽ cho bạn bè hoặc những người thân thiết.
Năm tháng lặng lẽ trôi qua và không rõ thầy có chôn vùi năm tháng thanh xuân ở nơi này không, nếu không có một sự việc xẩy ra. Đó là năm 1899 ông “vua tuồng” Đào Tấn – một sĩ phu rất có uy tín lúc bấy giờ đang làm Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An – Hà Tĩnh), do có mối quan hệ trước giữa hai họ Đào – Lê nên thầy được mời về làm thư ký riêng. Cũng trong năm này Trường Pháp – Việt ở Vinh được thành lập, thầy được cử làm Đốc giáo (hiệu trưởng). Ba năm sau, thầy chuyển về làm việc tại Bộ công và được cử giữ chức Thượng thư Bộ này. Đây chính là dịp để thầy phát huy những kiến thức về hội họa, kiến trúc đã được học tại Pháp.
Tương truyền, trong thời gian này, vua Thành Thái vì mưu chống Pháp nên đã giao cho thầy vẽ các kiểu súng Pháp để sai đúc đặng trang bị cho các nữ binh. Hư thực ra sao không rõ, nhưng sau khi người Pháp thấy nhà vua không mấy hào hứng cộng tác trong việc “trị nước” nên đã quản thúc. Còn thầy, năm 1904 cũng bị chúng đẩy ra Nghệ An giữ chức Đốc giáo lần thứ hai.
Từ năm 1907 đến 1913 thầy được điều về Trường quốc học Huế dạy Pháp văn và dạy vẽ. Như vậy, Nguyễn Tất Thành được học với thầy là trong thời gian này.
Năm 1913, thầy được cử làm trợ giáo trường Hậu Bổ, đồng thời được thăng hàm “Hàn lâm viện thị giảng”, đến cuối năm 1914 được thăng chức Phó đốc giáo và năm 1919 được làm Đốc giáo. Trường này do vua Duy Tân ra dụ thành lập nhằm bổ túc những “kiến thức cai trị hiện đại” của người Pháp dành cho các “cựu học” là Tiến sĩ, Phó bảng, Cử nhân, Tú tài. Họ học trong ba năm – trước khi được chính thức bổ nhiệm ra làm quan ngạch học chính và thương chính trong chính phủ Nam triều ở Trung kỳ. Hai năm sau, thầy được cử làm Tế tửu (Hiệu trưởng) Quốc Tử giám và giữ chức vụ này đến lúc về hưu (1929).
Đóng góp đối với hội họa Việt Nam
Điều thú vị, là phải đợi đến thầy Lê Văn Miến, mới có một nhà giáo đã khắc họa lại công việc dạy trò qua tranh sơn dầu. Trong tập 100 Vietnamese painters and sculptors of the 20th century (NXB Thế giới – 1996), ta thấy có hai bức tranh sơn dầu của thầy Lê Văn Miến được giới thiệu trước nhất trong tập sách là bức Cụ Tú Mền, vẽ năm 1896 và bức Bình văn vẽ 1905. Sự ghi nhận cụ thể về năm sáng tác tác phẩm như trên còn có các ý kiến khác nhau. Dù gì đi nữa thì đây vẫn là những tác phẩm có dấu ấn quan trọng trong nền hội họa nước nhà.
Nhà nghiên cứu hội họa Thái Bá Vân đánh giá:
Đến với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, họa sĩ Lê Văn Miến với bức tranh Bình văn là một cái mốc mà lịch sử mỹ thuật nước nhà chỉ có thể coi là thuận lợi và đẹp đẽ. Nó làm cho hội họa hiện đại Việt Nam có thêm một phần tư tuổi đời và thêm một học vấn vững chãi không lập lại một lần thứ hai nào nữa.
Họa sĩ Nguyễn Xuân Tiệp cũng ghi nhận:
Bình văn là một tác phẩm độc đáo của mỹ thuật Việt Nam khi biết kết nối, ứng dụng học vấn phương Tây đồng thời nêu bật cái thần thái thâm trầm, sâu lắng của người Việt thông qua hình ảnh của một buổi lên lớp – bình văn. Qua tranh, Lê Văn Miến đã khẳng định một bối cảnh sinh hoạt, học tập văn hóa của người Việt ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Các tư thế ngồi học (của môn sinh), hay dáng đứng (của thầy đồ) cùng cử chỉ khác nhau (cầm sách giảng giải của thầy giáo và cầm sách theo dõi, lắng nghe của các học trò) trong hành động tĩnh cho thấy ông là người rất cẩn trọng và tinh tế khi diễn đạt không khí ham học và nghiêm luật nhà trường thời đó.
Bố cục bức tranh có cấu trúc theo hình kim tự tháp – tam giác cân hay còn gọi là hình chóp nón. Cạnh đáy được ấn định bằng đường thẳng các môn sinh ngồi đều, trải dài trên chõng tre phủ vải. Hai cạnh bên của kim tự tháp xuất phát từ hai người ngồi ngoài cùng, hai đầu cắt theo đường dốc núi đi lên tới đỉnh tháp – nơi khuôn mặt của người thầy đang truyền đạt giảng bài. Đây là một trong những cấu trúc vững chắc nhất, đặc trưng của bố cục cổ điển phương Tây. Với hình kim tự tháp này, người thầy đang đứng (cũng theo hướng tạo hình, tư thế và cách đặt nếp của áo quần, có một cách cảm nhận khác rằng người thầy đang ngồi) chia đôi bố cục rất cân đối ở tranh. Nhìn kỹ, ta cũng thấy tám môn sinh được chia đều thành hai theo một trục cân giữa, song sự đơn giản của bố cục đối xứng này họa sĩ đã thay đổi bằng các tỷ lệ của mảng hình ở khuôn mặt, tay chân, quần áo, khăn vấn đầu… theo sắc màu đậm nhạt, sáng tối khác nhau. Những chi tiết thay đổi rất ít nhưng có chủ định như: trong số tám môn sinh thì có bảy người vấn khăn đầu, còn một người để tóc đuôi ngựa. Trong hai cặp 4 người quay mặt ngồi học đối diện nhau thì có một môn sinh quay mặt ra, hướng song song cùng với thầy đồ. Do vậy, người xem cũng quên dần cảm giác của sự cân bằng và càng sinh động hơn nơi khuôn mặt môn sinh đó biểu hiện trạng thái lãng đãng trong một khung cảnh tất cả mọi người nghiêm trang, tập trung cao độ lắng nghe từng lời của người thầy giảng bài tới mức tĩnh lặng, mọi vật cũng như bất động.
Lối diễn tả chú trọng sự sắp xếp xa gần, tỷ lệ tạo hình cơ thể học, vòn khối, đặc tả ánh sáng của phương Tây cùng sự kết hợp cách nhìn phương Đông: dồn sự vật dày đặc để chừa nhiều khoảng trống không gian (nền tường nhà) làm tăng sự nghỉ ngơi của thị giác và thêm sức liên tưởng đối với người xem… Tác phẩm Bình văn đã đặt một dấu ấn trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam bởi vẻ đẹp cổ điển hoàn thiện của nó cùng với sự phát hiện sớm nhất chất liệu màu dầu được vẽ ở nước ta (báo Thể thao & văn hóa số 30.4.1999).
Qua sự ghi nhận nghiêm túc của thế hệ sau, ta thấy thêm một điều đáng quý ở thầy Lê Văn Miến: Với lòng yêu nghề, ngoài việc truyền kiến thức, dạy đạo làm người cho môn sinh; bằng tài năng hội họa thầy còn là người tái hiện lại một cách sinh động khoảnh khắc học tập ấy. Và khoảnh khắc ấy vĩnh viễn trở thành một tác phẩm lớn trong nền hội họa Việt Nam hiện đại.
Những năm cuối đời
Lúc từ biệt các cộng sự và học trò, thầy có đọc “Bài thơ lưu biệt lúc từ quan”:
Về hưu rời khỏi chốn Trường An,
Sau lại hồi kinh một cảnh nhàn.
Lương bống tầm thường: nhờ ruộng đất,
Ốc lều gần gũi: ngưỡng thiên nhan.
Triều quan dẫu tốt, hưu quan tốt,
Đại ấn đành nan, tiểu ấn nan.
Mong được người tin không yếm thế,
Há vì đời chán vội quy san.(Nguyễn Quảng Tuân dịch)
Dù từng giữ những trọng trách trong ngành giáo dục, nhưng thầy vẫn sống rất thanh liêm và chẳng mấy dư dả. “Đạo cao đức trọng” của thầy luôn được các môn sinh nhớ đến. Mười năm sau khi thầy về hưu, các học trò cũ của ba trường Quốc học, Hậu bổ và Quốc Tử giám đã góp tiền dựng cho thầy một gian nhà ngói khang trang cạnh chợ Trạch Tả, gần bến sông Ô Lâu. Dịp này, họ cũng dâng lên thầy bức hoành phi “Thế gian sư” (Thầy của thiên hạ) – nhằm bày tỏ lòng biết ơn đối với tài năng, nhân cách và công lao của thầy. Dù không còn học thầy nữa, nhưng tình cảm của các học trò cũ thể hiện như trên thật đáng quý biết chừng nào. Rõ ràng, thời ấy tinh thần “tôn sư trọng đạo” luôn khắc sâu trong tâm trí học trò.
Sau khi thầy mất, các cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (bố của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện), Tiến sĩ Phan Võ, Nguyễn Hữu Nhu, Phạm Hữu Văn đã bàn nhau viết văn bia cho thầy, có đoạn:
Tánh cụ trầm hùng, điềm đạm và yên lặng. Giao tiếp với người khác lại có cách hòa nhã, vui vẻ. Hơn ba mươi năm làm giáo chức, không thi thố được hết tài học của mình, song văn chương, đức hạnh làm hay cho đời, học trò nhiều người có giá trị, sự nghiệp ấy không phải là nhỏ.
Thầy Lê Văn Miến mất ngày 6/6/1943, hai năm trước khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, không kịp chứng kiến người học trò xuất sắc nhất của mình – Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nơi chín suối, nếu biết tin này, hẳn thầy rất vui mừng khi người học trò của mình đã thực hiện được điều mà thuở sinh thời mình từng mơ ước đến cháy bỏng tâm can
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.