Khái quát
Khi đến phố Hàng Đào, ta phải nhớ đến một một ngôi trường đã tạo nên một sự kiện quan trọng trong lịch sử giáo dục nước nhà. Lần đầu tiên, tháng 3/1907 tại Hà Nội xuất hiện một mô hình giáo dục mới, Ban giám hiệu quan niệm trường học là nơi dạy học trò làm việc đại nghĩa, và vì đại nghĩa mà dạy người nên không thu học phí, thậm chí còn giúp đỡ sách vở cho những người nghèo mà hiếu học. Vào tháng 3/1907 nhà trường chiêu sinh, khai giảng và bị đóng cửa vào cuối năm 1907, hoạt động chỉ vỏn vẹn trong vòng 9 tháng. Thế nhưng, “Đông Kinh Nghĩa Thục với tư cách một phong trào tồn tại ngắn ngủi nhưng mãnh liệt, thực sự là một hiện tượng chống thực dân, chống hủ tục. Những chuyện liên quan đến chính trị lúc ấy, chẳng bao lâu sau được làm sáng tỏ hơn bằng những vụ chống thuế và những âm mưu chống Pháp tương tự trong năm 1908. Vậy ai là người nhiệt tâm bố trí những vụ lộn xộn ấy? Ở đây, tôi tin rằng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã đóng vai trò quan trọng, có lẽ cơ bản, giúp cho những thanh niên từ đây sẽ hình thành một thế hệ tiếp nối gồm những người chống thực dân” (David G. Marr – VietNam’s Anticolonial movements – 1885 – 1925. Trong số những người sáng lập và điều hành trường Đông Kinh Nghĩa Thục, chúng ta không thể quên được vai trò của Giám học Nguyễn Quyền người đứng thứ hai sau Thục trưởng Lương Văn Can. Thầy từng phát biểu:
Chúng tôi lập Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội là cốt thử nghiệm. Nếu thấy hiệu quả thì trong ít lâu, mỗi kỳ Trung, Nam, Bắc sẽ có một Đại học đường như thế, rồi tính lần lần về sau, mỗi tỉnh, mỗi phủ cũng có một Đông Kinh Nghĩa Thục nữa.
Xuất thân và con đường đến với Đông Kinh Nghĩa Thục
Thầy Nguyễn Quyền sinh năm 1869, người làng Thượng Trì, huyện Thuận Thành (Hà Bắc), đậu tú tài năm 1891 và được bổ làm Huấn đạo Lạng Sơn – một chức quan trông coi về việc học, đứng đầu ngành giáo dục ở một huyện hoặc một tỉnh. Nhưng ít lâu sau, thầy xin từ chức về Hà Nội cùng các đồng chí của mình lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục và được giao giữ chức Giám học.
Quan điểm giáo dục và hoạt động giảng dạy
Ngoài nhiệm vụ chuyên môn, thầy còn là người trực tiếp đứng giảng dạy theo phương pháp mới. Ngay cả hình thức bên ngoài, thầy cũng là người duy tân quyết liệt: cạo đầu hót tóc ngắn, bỏ búi tó như lớp người tân học bấy giờ đã thực hiện. Và chính thầy mạnh dạn tuyên bố đoạn tuyệt với cái học cũ để:
Mở tân giới, xoay nghề tân học
Đón tân trào, dựng cuộc tân dân
Tân thư, tân báo, tân văn
Sau này, thầy có kể lại với nhà báo Đào Trinh Nhất – con trai của cụ Đào Nguyên Phổ về giai đoạn sôi nổi này:
Tôi và mấy anh em đồng chí đã phải khổ tâm lắm mới thuyết phục được các cụ hủ nho rằng, phải tin Quốc văn có hiệu lực trong phổ thông giáo dục và phải tán thành việc nhà trường lấy Quốc văn làm thứ chữ căn bản để giảng dạy.
Chủ trương giáo dục của thầy Nguyễn Quyền có thể thấy trong bài thơ nổi tiếng Phen này cắt tóc đi tu – được phổ biến rộng rãi trong học sinh của trường:
Phen này cắt tóc đi tu
Tụng kinh Độc lập ở chùa Duy tân
Đêm ngày khấn vái chuyên cần
Cầu cho ích nước lợi dân mới là
Cốt tu mở trí dân nhà
Tu sao cho độ nước ta phú cường
Lòng thành thắp một tuần nhang
Nam mô Phật Tổ Hồng Bàng chứng minh
Tu hành một dạ đinh ninh
Nắng mưa dám quản, công trình một hai
Chắp tay lạy chín phương trời
Kêu trời phù hộ cho người nước tôi
Tiếu tôi trông đứng trông ngồi
Trông sao cho đặng giống nòi vẻ vang
Nào là tín nữ thiện nam
Nào là con cái thập phương giúp cùng
Giúp tôi đúc quả chuông đồng
Đúc thành quả phúc, ta cùng hưởng chung
Ai muốn tu xin dốc một lòng
Nghìn thu tạc một chữ đồng đến xương
Nam mô Phật Tổ Hồng Bàng
Trong thời gian giảng dạy, thầy từng khuyên học trò phải ý thức cái nhục của người dân mất nước:
Người An Nam mình đang chìm đắm trong cảnh nô lệ. Nông dân, binh lính, ký lục, cu ly… tất cả đều phải hợp quần, chung sức để giành lại độc lập bằng con đường tự do, bình đẳng, theo gương Nhật Bản để trở nên ngang hàng với các dân tộc phú cường.
Các tài liệu giảng dạy của nhà trường đều có Ban Tu thư biên soạn, nhưng hầu hết đều không ghi tên soạn giả – đây là một cách khôn khéo tránh sự trả thù của thực dân Pháp. Do đó, cho đến nay, ta khó có thể biết đâu là những bài giảng mà thầy Nguyễn Quyền cũng có đóng góp công sức.
Cho đến nay, chúng ta chỉ mới biết thêm bài thơ Kêu hồn nước:
Hồn xưa vốn dòng Lạc Long
Con nhà Nam Việt người trong giống vàng
Chi Na chung một họ hàng
Xiêm La, Nhật Bản cùng làng Á Đông
Trời Nam một dải non sông
Ngàn năm cơ nghiệp cha ông hãy còn
Từ khi đá lở sóng cồn
Nước non trơ đó nào hồn ở đâu?
Chốc là đã bấy nhiêu lâu
Bơ vơ như thế bồ câu lạc đàn
Xịch đâu một cuộc doanh hoàn
Ngàn đông nổi gió, sóng tràn biến Nam
Người đi gọi, kẻ đi tìm
Biết đâu đài múa mà đem hồn về
Mấy lần mưa ám mây che
Bâng khuâng như tỉnh như mê nửa phần
Hay là ở đám thôn dân
Hồn còn tranh cạnh nơi ăn chốn ngồi?
Hay là ở đám rong chơi
Hồn còn ham muốn cuộc vui li bì?
Hay là ở chốn sơn khê
Hồn còn ngơ ngẩn chưa nghe chuyện gì?
Hay là ở đám khoa thi
Hồn còn mải miết giữ nghề văn chương?
Hay là ở đám quan trường
Hồn còn tấp tếnh toan đường tìm ra?
Hỏi xem hồn ở gần xa
Gọi ra cho tỉnh, tỉnh ra thì về
Xin hồn hãy tỉnh đừng mê
Tính ra rồi sẽ liệu bề khuyên nhau
Khuyên nhau lấy chữ đồng bào
Lấy câu ích quốc, lấy điều lợi dân
Đường bảo chúng, nghĩa hợp quần
Tự cường thế ấy, duy tân thế nào?
Sự học ta lấy làm đầu
Công thương mọi việc liệu sao tính dần
Cùng trong một bọn quốc dân
Gánh giang san cũng một phần trên vai
Than ôi! Hồn nước ta ơi!
Tình nghe ta gọi mấy lời đồng tâm
Những bài ca ái quốc thuở ấy thường lấy đề tài về chiêu hồn nước, như Hồn cố quốc (khuyết danh), Tỉnh quốc hồn ca của cụ Phan Châu Trinh v.v… rồi sau này còn có Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc… thì bài thơ của thầy Nguyễn Quyền chắc chắn cũng tạo nên một ảnh hưởng sâu đậm trong tâm trí thanh niên thuở ấy.
Với vai trò Giám học, thầy đã cùng các đồng chí hiệp lực để đạt đến những chủ trương tiến bộ trong giáo dục như chống lại nền cựu học, chống khoa cử hoặc hô hào học chữ Quốc ngữ, học theo phương pháp mới, khuyến khích sáng tạo, đề cao tinh thần yêu nước v.v… Sau này, thầy có cho biết:
Duy có lớp trung học, đại học thì học chữ Pháp, chữ Hán, còn từ trung tiểu học trở xuống, bất cứ nam nữ đều học Quốc ngữ. Nhưng lớp trên lớp dưới cũng vậy, chỉ cốt học làm người dân, chứ không học lối từ chương khoa cử là cái di độc ngày xưa còn lại, lúc bấy giờ chúng tôi ghét lắm.
Hoạt động chấn hưng kinh tế và vai trò trong phong trào Duy Tân
Không chỉ hoạt động trong giáo dục mà các nhà yêu nước còn chủ trương phát động cuộc chấn hưng kinh tế, tôn trọng những người biết buôn bán để làm giàu… Đúng như thầy Nguyễn Quyền cho biết là trường còn “dạy những khoa học thường thức, công nghệ thường thức cho người ta lấy đó mà mưu sinh tự tồn”… Và bản thân các thầy cũng gương mẫu kinh doanh công thương nghiệp, nhằm gây quỹ ủng hộ những người xuất dương trong phong trào Đông Du v.v… Bên cạnh nhiều cơ sở kinh doanh khác của các thầy Đỗ Chân Thiết, Ngô Quang Đoan, Phan Tứ, Bùi Đình Tá… thì thầy Nguyễn Quyền cùng thầy Hoàng Tăng Bí được giao nhiệm vụ mở Công ty Đông Thành Xương ở phố Hàng Gai – vừa buôn bán tạp hóa vừa làm công nghệ như dệt xuyến hoa đại đóa, ướp chè sen nổi tiếng không thua gì hàng của Tàu.
Đúng như nhận định của nhà nghiên cứu Chương Thâu:
Căn cứ vào sự tổ chức và các mặt hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục rồi đối chiếu với những chủ trương do Đông Kinh Nghĩa Thục đề ra với những kết quả mà nó đạt được, cho phép ta có một nhận thức khá đầy đủ về nó. Đông Kinh Nghĩa Thục không phải là một trường học thuần túy, cũng không đơn thuần là một phong trào cải cách văn hóa – xã hội, mà thực chất nó là một cuộc vận động chính trị tư sản xuất hiện ở nước ta vào đầu thế kỷ XX, nó chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và dân chủ, giải quyết hai nhiệm vụ cơ bản của lịch sử đã đề r
Người đương thời cũng đã ghi nhận:
Buổi diễn thuyết người xem như hội
Kỳ bình văn khách tới như mưa
Nôm Quốc ngữ, chữ Hán thư
Bài ca yêu nước câu thơ hiệp đoàn
Trong chín tháng sóng tràn gió đập
Tiếng Đông Kinh lừng khắp Đông Dương
Khắp đâu đâu cũng học đường
Cùng nhau đua bước lên đường văn minh
Bị đàn áp, lưu đày và những năm cuối đời
Chính thực dân Pháp đã đánh hơi phát hiện điều này nên chúng vội vã đàn áp bằng cách ra lệnh đóng cửa trường và hầu hết các nhà giáo hoạt động trong trường đều bị chúng gọi lên thẩm tra, xét hỏi. Không chỉ dừng lại đó. Chỉ vài ba tháng sau, cả nước xôn xao với vụ kháng thuế vĩ đại nổ ra ở Quảng Nam rồi lan rộng ra các tỉnh khác. Thực dân cho rằng các nhà tân học đã xúi giục dân chúng nên chém đầu thầy Trần Quý Cáp, bắt thầy Huỳnh Thúc Kháng ở Hội An, bắt thầy Phan Châu Trinh ở Hà Nội… Kế tiếp lại nổ ra vụ “Hà thành đầu độc” do cụ Hoàng Hoa Thám chủ trương mà thực dân cho rằng, các thầy trong trường Đông Kinh Nghĩa Thục cũng hậu thuẫn tích cực. Thế là chúng bủa lưới bắt hết các thầy như Dương Bá Trạc, Vũ Hoành, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Hoàng Tăng Bí… Khi chúng hỏi cung, trước sau như một, thầy Lương Văn Can chỉ ôn tồn trả lời:
Chúng tôi mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục để giúp chính phủ khai hóa dân trí, và chính phủ đã cho phép. Từ khi chính phủ rút phép, thì chúng tôi thôi, không hoạt động gì nữa cả.
Thầy Nguyễn Quyền, lúc đó đang làm giáo thụ ở một phủ nhỏ ở Phú Thọ, nhưng cũng không thoát khỏi cuộc bố ráp này. Chúng kết án thầy tử hình, nhưng sau đó đổi ra khổ sai chung thân và đày ra Côn Đảo. Ít lâu sau, chúng đưa thầy về an trí ở Bến Tre. Những năm tháng cuối đời thầy sống ở Sa Đéc bằng nghề làm thuốc, dạy học và mất tại đây vào năm 1941, thọ 72 xuân.
Đánh giá và ghi nhận
Đánh giá về sự nghiệp giáo dục của trường Đông Kinh Nghĩa Thục cũng như vai trò của Giám học Nguyễn Quyền, một nhà nho khuyết danh thuở ấy có làm bài thơ khóc thống thiết:
Cơn mưa gió trời Nam bảng lảng
Bước anh hùng nhiều chặng gian truân
Gẫm xem máy tạo xoay vần
Gây nên một cuộc cách tân cũng kỳ
Khắp thân sĩ lưỡng kỳ Nam Bắc
Bỗng giật mình tỉnh giấc hôn mê
Học, thương xoay đủ mọi nghề
Cái hồn ái quốc gọi về cũng mau
Hồn đã tỉnh, bảo nhau cùng dạy
Chưa học bò, vội chạy đua theo
Khi lên như gió thổi đều
Trong hò chống thuế, ngoài reo phá thành
Việc tự lập người mình còn dại
Sức cường quyền ép lại càng đau
Tội danh đồ đám lưu nho
Bắc Kỳ thân sĩ đứng đầu năm tên
Người tỉnh Bắc, Nguyễn Quyền là một
Cơn nhiệt thành lửa đốt buồng gan
Đùng đùng gió cuốn mây tan
Lạng thành giáo chức từ quan cáo về
Mở tân giới xoay nghề tân học
Đón tân trào, dựng cuộc tân văn
Tân thư, tân báo, tân văn
Chân đi, miệng nói xa gần thiếu đâu…
Ghi nhận sự nghiệp giáo dục của thầy, hiện nay tại phường 11, quận 8 của Thành phố Hồ Chí Minh và tại quận Hai Bà Trưng của Hà Nội đều có con đường vinh dự mang tên Nguyễn Quyền.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.