Khái quát
Buổi sáng, trời rét buốt. Từ Hồ Tây, hồ Trúc Bạch những cơn gió thổi lao xao thổi qua, mặt hồ như bốc khói. Những cậu học trò trường Bưởi tụ năm tụ ba, thập thò thậm thụt nói chuyện với nhau. Chỉ cần một ai đó đọc khẽ câu thơ:
Hai lăm triệu trẻ già trai gái
Bốn ngàn năm con cái Hồng Bàng
Cũng nhà cửa, cũng giang san
Thế mà nước mất nhà tan hơi trời!
Nghĩ lắm lúc đương cười hóa khóc
Muốn ra tay ngang dọc, dọc ngang
Vạch trời một tiếng thét vang
Cho thân tan với giang san nước nhà…
thì họ cảm thấy cả người mình nóng ran, có người ràn rụa nước mắt. Ngoài sân, những vòm cây vặn theo luồng gió mới thổi qua. Một không khí nặng nề bao trùm trong tâm hồn non nớt của các cậu học trò. Những câu mà thầy dạy: “Tổ tiên ta là người Goulois” bây giờ ngẫm lại mới thấy mỉa mai làm sao! Có cậu liếc mắt nhìn trước ngó sau, khẽ hỏi:
Có phải thơ của anh Phạm Tất Đắc học năm thứ tư của trường mình không?
Không một ai dám trả lời, chỉ kín đáo gật đầu. Một trái bom đã nổ ra gây chấn động cả Hà Nội. Đó là tập thơ Chiêu hồn nước của cậu trò mới 17 tuổi. Mọi người bí mật chuyền tay nhau đọc và khóc.
Thân thế
Phạm Tất Đắc sinh ngày 15/5/1909 tại làng Rũng Kim, tổng Công Xá, phủ Lý Nhân (nay thuộc Nam Hà), con trai của ông Phạm Văn Hạnh và bà Lê Thị Giáo.
Anh thi đậu bằng sơ học và vào học trường Bưởi từ năm 1923. Do ảnh hưởng của phong trào yêu nước, anh cùng bạn bè trong lớp tham gia bãi khóa để tang cụ Phan Châu Trinh, cụ Lương Văn Can và bị nhà trường gọi lên răn đe, dọa đuổi học. Nhưng anh không sợ vì cảm nhận việc làm của mình là đúng.
Để thức tỉnh mọi người trước cái nhục mất nước, cậu học trò 16 tuổi đêm đêm chong đèn nghiến răng, gạt nước mắt mà viết tác phẩm Chiêu hồn nước – dài 198 câu thơ song thất lục bát. Viết xong, Phạm Tất Đắc đem đến nhà in Thanh Niên ở phố Hàng Bông thuê in. Sách ra đời chỉ dày 50 trang. Mọi người đồn vang, kháo nhau đến nhà in tìm mua. Thực dân Pháp đánh hơi được ra lệnh tịch thu. Và tác giả lập tức bị bắt. Nhà cầm quyền hoảng hốt khi đọc những câu thơ viết từ huyết lệ:
– Đồng bào hơi! Con nhà Hồng Việt
Có thân mà chẳng biết liệu đời
Tháng ngày lần lửa đợi thời
Ngẩn ngơ ỷ lại ở người ai thương
Nay sóng gió bốn phương dữ dội. Có lẽ nào ngồi đợi mãi sao?
Đồng bào chút giọt máu đào
Thương ơi tội nghiệp đời nào xót đây. Nên mau mau dậy ngay kẻo muộn
Mà xót thương đến chốn Nhị, Nùng
Xưa kia cũng lắm anh hùng
Dọc ngang trời đất vẫy vùng bể khơi!
Xưa cũng có lắm người hào kiệt
Trong một tay nắm hết sơn hà
Nghìn thu gương cũ không nhòa
Mở mày mở mặt con nhà Lạc Long
Non sông vẫn non sông gấm vóc
Cỏ cây xua vẫn mọc tốt tươi
Người xem cũng dáng con người
Cũng tại cũng mắt ở đời khác chi
Cảnh như thế tình thì như thế
Sống làm chi, sống để làm chi
Đời người đến thế làm gì Nước non đến thế, còn gì nước non?
Phạm Tất Đắc nhắc lại hào khí của cha ông thuở trước, rồi đặt vấn đề tại sao nay ta lại cam chịu “Nghiến răng nuốt cái thẹn thùng”? Và “hồn nước” bây giờ ở đâu? Anh đã chiêu hồn nước trở về bằng những câu thơ dữ dội:
Nghĩ thân thế thêm mòn tấc dạ
Trông non sông lã chã dòng châu
Một mình cảnh vắng đêm thâu
Muốn đem máu đỏ nhuộm màu non sông
Hồn hơi hồn! Con Hồng cháu Lạc
Bấy nhiêu lâu đói rách lầm than
Bấy lâu thịt nát xương tan
Bấy lâu tím ruột thâm gan vì hồn
Trông bốn bể bồn chồn dạ ngọc
Ngắm năm châu khôn khóc nên lời
Đêm khuya cảnh vắng trông trời
Hồn ơi! Hồn hơi! Hồn ơi! Hồn về!
Anh gọi hồn nước về không phải để than khóc cho cảnh nước mất nhà tan mà:
Hồn trở về non sông đất cũ
Mà mau mau giết lũ tham tàn
Túi tham chứa đựng bạc vàng của dân
Hồn trở về cho dân tỉnh lại
Không ngu ngu dại dại như xua
Không còn vất vã sớm trưa
Không còn nắng nắng mưa mua dãi dầu
Hồn trở về mau mau hồn hơi
Hồn trở về tôi đợi tôi mong
Hồn về tô điểm non sông
Hồn về đánh thức con Rồng cháu Tiên…
Phiên tòa xét xử
Tịch thu xong tập Chiêu hồn nước và bắt luôn những ai dám tàng trữ tập thơ này, Phạm Tất Đắc bị thực dân đưa ra Tòa tiểu hình Hà Nội. Hôm xét xử bọn cảnh sát, mật thám phải vất vả lắm mới ngăn được làn sóng học sinh tràn vào tòa án. Cậu học trò 17 tuổi mảnh khảnh trong chiếc áo dài the màu đen, chân mang guốc mộc kiêu hãnh đứng trước mặt viên chánh án, trên môi nở nụ cười. Viên chánh án nóng nấy quát lớn:
Ai cho phép cười?
Anh đáp:
Đây là thói quen của tôi.
Nói xong, anh lại nở nụ cười trông hiền hậu làm sao! Viên biện lý cáu gắt:
Đừng ngạo mạn như thế! Hãy liệu hồn. Nếu vô lễ với tòa án thì bị cáo sẽ ân hận đấy!
Anh cũng nở nụ cười:
Tôi đã nói với các ông rồi, đây là thói quen của tôi!
Phiên tòa bắt đầu làm việc. Khi viên chánh án đọc qua mọi thủ tục, Phạm Tất Đắc liền nói bằng tiếng Pháp:
Tôi yêu cầu tòa án sử dụng tiếng Việt, vì tôi không biết tiếng Pháp.
Viên chánh án tức giận:
Mày vừa nói tiếng Pháp đấy thôi. Sao lại nói không biết tiếng Pháp? Có phải mày muốn dùng tiếng mẹ đẻ tuyên truyền, cổ xúy ở chốn công đường chăng?
Viên biện lý xen vào:
Mày nên trả lời bằng tiếng Pháp, đừng làm cho quan tòa nổi giận. Điều đó không có lợi cho mày đâu!
Theo lời đề nghị của chánh án, viên lục sự cho biết trong các bài luận văn bằng tiếng Pháp, bao giờ Phạm Tất cũng có số điểm cao nhất lớp! Nhưng anh vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu của mình:
Khi Pháp thua Đức, phải nhường hai tỉnh Alsace Lorraine cho Đức, thanh niên hai tỉnh này có bỏ tiếng Pháp mà nói tiếng Đức không? Tất nhiên là không! Vậy tại sao tôi nói tiếng Việt thì các ông lại cấm đoán?
Không muốn phiên tòa kéo dài thêm lôi thôi vì công chúng tham dự quá đông, cuối cùng chánh án đành chấp nhận yêu cầu của anh, y bảo viên thông ngôn:
Thôi, cứ dịch ra tiếng An Nam cho nó nghe!
Khi thẩm vấn, tòa đặt xoáy quanh câu hỏi điều tra: Không thể một mình cậu học trò “ăn chưa no lo chưa tới” có thể viết được những câu thơ già giặn như thế được. Vậy ai là tòng phạm? Nhưng trước sau như một anh chỉ nói:
Tòng phạm của tôi là hai mươi triệu đồng bào tôi!
Tòa ngán ngẩm lắc đầu trước bị cáo cứng đầu nầy. Trong phần biện hộ, Phạm Tất Đắc nói:
Tôi xin tòa cho đọc tập sách và phân tích những đoạn thơ nào mà tòa cho rằng phạm luật?
Trả lời yêu cầu này là tiếng đập tay xuống bàn:
Khỏi! Hãy liệu hồn đấy! Mày còn muốn nói thêm lời nào không?
Tay thông ngôn vốn có nhiều kinh nghiệm trong việc xét xử, buột miệng nói giữa tòa là không nên để cho bị cáo nói lòi cuối cùng, nhưng không kịp nữa rồi. Phạm Tất Đắc dõng dạc:
Nếu thanh niên Pháp ở Alasce Lorraine viết ra cuốn Chiêu hồn nước như tôi, họ có tội không? Không! Họ là những người yêu nước. Vậy tại sao tòa án Pháp lại kết án một người yêu nước như tôi? Quân Đức chắc chắn cũng sẽ xử nhiều thanh niên Pháp như tôi, vì họ đã phạm tội yêu nước Pháp!
Viện biện lý đập bàn:
Mày ngưng nói ngay, nếu không tòa án sẽ đưa ngay về khám!
Đáp lại lời hăm dọa là một nụ cười nở trên môi Phạm Tất Đắc. Ông thân sinh của bị cáo cũng bị gọi ra vành móng ngựa. Tòa nghiêm khắc răn đe:
Ông có con mà không biết giáo dục. Nó còn tuổi vị thành niên, là cha nó thì ông cũng bị ghép vào tội tòng phạm đấy!
Thân sinh Phạm Tất Đắc đứng nghiêm, nhìn thẳng vào mặt viên chánh án nói rành rọt từng câu, từng chữ:
Con tôi ở nhà thì trách nhiệm thuộc về tôi, còn nó đi học trường của chính phủ thì trách nhiệm thuộc về chính phủ.
Thấy người cha không run sợ mà bình thản trả lời cứng cỏi, có lý nên tòa án không hỏi thêm gì nữa. Phiên tòa nghị án: vì chưa đủ tuổi vị thành niên nên bị cáo bị đưa lên nhà Trừng giới Bắc Giang để “giáo dục”, đến năm 21 tuổi thì sẽ xét xử lại một lần nữa.
Cuối đời
Bị đày lên đó một thời gian ngắn, sợ anh tiếp tục tuyên truyền lòng yêu nước cho các phạm nhân khác nên chúng đưa về Hỏa Lò (1) giam chung với người lớn – trái với pháp luật mà chúng đã đặt ra. Thời gian này, các học trò làm đơn xin ân xá cho anh nhưng không được nhà cầm quyền chấp thuận. Suốt bốn năm bị giam cầm, chịu đựng biết bao ngón đòn tra tấn kiểm hóc, sức khỏe của anh kiệt dần. Sợ anh chết trong tù, ngày 16/5/1930, chúng thả tự do cho anh với điều kiện cha mẹ phải lãnh về trông nom. Ra khỏi tù, gia đình chạy biết bao thuốc thang nhưng bệnh tật ngày một trầm trọng hơn.
Ngày 24/4/1935 Phạm Tất Đắc trút hơi thở cuối cùng tại nhà ở phố Luro (nay là phố Lê Ngọc Hân – Hà Nội). Lúc đó anh mới 26 xuân. Nhưng tinh thần ái quốc trong Chiêu hồn nước của anh sống mãi với non sông:
Hồn hơi hồn! Hồn về hồn hỡi!
Hồn hơi hồn! Hồn hõi hồn ơi!
Đêm khuya cảnh vắng êm trời
Khôn thiêng chăng hõi hồn ơi hồn về!
Và cũng từ tập thơ này nhiều tầng lớp thanh niên thời đó đã được giác ngộ tinh thần yêu nước.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.