Bối cảnh lịch sử
Vua Tự Đức là con trai của bà Từ Dũ và vua Thiệu Trị, được đặt tên Hồng Nhậm. Lúc con mới lên mười, chồng bà một hôm vui vẻ hỏi đùa:
– Thế con có biết tên của con, ta đặt Hồng Nhậm nghĩa là sao không?
Không ngờ cậu đáp ngay:
– Thưa, Hồng là nặng nề, to lớn; Nhậm là gánh vác.
Chồng bà cười lớn:
– Gánh gì mà nặng? Gánh củi à?
Lớn lên, Hồng Nhậm gánh việc nước, tỏ ra là người ham học và có hiếu với mẹ. Năm 14 tuổi, lập gia đình với cô Võ Thị Duyên, con gái của thượng quan Võ Xuân Cẩn, nhưng Hồng Nhậm lại không có con. Sau đó, ông còn lấy thêm rất nhiều vợ nữa, nhưng vẫn không có người nối dõi tông đường, cho dù đã chạy chữa bằng mọi giá, cầu tự ở khắp nơi. Đau đáu vì tội bất hiếu này, ông thường tư lự, buồn phiền.
Năm 1847, lúc mới 19 tuổi, ông lên nối ngôi đã khiến Hồng Bảo – con trai trưởng của Thiệu Trị với quý tần Đinh Thị Hạnh – ganh tị, ghen ghét. Bảo nghĩ mình đương nhiên phải được quyền kế vị nên tìm mọi cách để giành lại ngôi báu. Bảo họp bọn đồng mưu lại, sau khi uống máu ăn thề, cử bọn thuộc hạ trốn ra nước ngoài tìm đồng minh. Thời gian sau, bọn thuộc hạ từ Thái Lan và Campuchia trở về, chúng kéo theo một lũ lâu la. Do trên đường đi không được tiếp đãi nồng hậu nên đến nước Nam, lũ đâm thuê chém mướn này bất mãn tố cáo mọi chuyện với quan. Lập tức, tất cả đều bị bắt. Chúng bị gông cổ lại, tống vào trong cũi như những con thú dữ đưa về kinh. Bị tra tấn tàn nhẫn, những người này khai ra là còn có một chuyến tàu nước ngoài sắp đến để ủng hộ cuộc đảo chánh của Bảo. Thật vậy, vào đầu tháng 3, có một chiếc tàu được trang bị đầy đủ súng ống, không rõ thuộc quốc tịch nào, đến đậu ở bến cảng đối diện với kinh đô. Nhưng chúng không thấy có ai ra bắt liên lạc nên vội vã giong buồm ra khơi. Âm mưu bại lộ. Bảo bị xử án lăng trì, nhưng vua Tự Đức nghĩ đến tình máu mủ nên tha tội, chỉ tống giam vào ngục và ép uống thuốc độc chết. Các con của Bảo phải đổi ra họ của mẹ là họ Đinh. Vừa mới ngồi trên ngai rồng đã phải đối mặt với tình thế này, vua Tự Đức hẳn có lúc ngẫm nghĩ về bước đường hoạn lộ của mình sẽ không mấy suông sẻ, xuôi chèo mát mái.
Đã thế, lúc gần 20 xuân thì ông lại bị bệnh đậu mùa rất nguy kịch, tưởng không qua nổi! Tình hình trong nước ngày một thêm rối ren. Chỉ riêng việc ký Hòa ước Giáp Tuất cũng đã có quá nhiều điều bất lợi cho nước Nam ta. Với khoản 2 quy định, ta phải nhường dứt cho giặc Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Định Tường, Gia Định và không được đem binh khí, súng đạn đi qua ba tỉnh này là điều rất vô lý. Hạ thần Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp chẳng rõ đã thương lượng kiểu gì mà ta còn phải bồi thường đến 4 triệu nguyên chiến phí cho chúng? Điều này cũng đã khiến dân tình trong nước bất mãn. Trong lúc đó, các phong trào khởi nghĩa nông dân lại nổi hết như rươi. Sử nhà Nguyễn cho biết hết giặc Tam đường ở Thái Nguyên, giặc Châu chấu ở Sơn Tây… thì đến giặc Tạ Văn Phụng – mạo danh con cháu nhà Lê để lôi kéo quần chúng, lại cả gan theo giáo sĩ ra nước ngoài học đạo rồi trở về đánh phá ở Quảng Yên; loạn này chưa dẹp xong thì cai tổng Vàng dấy binh ở Bắc Ninh v.v… đã khiến nhà vua lo lắng đến bạc đầu. Vừa lo chống đỡ giặc ở Nam kỳ, dẹp loạn ở Bắc kỳ thì ông không ngờ ngay tại kinh thành Huế anh em Đoàn Trưng phò Định Đạo – con trai của Hồng Bảo lấy cớ xây Khiêm Lăng quá tốn kém, nhân dân cực khổ nên đã khởi binh khiến ông phải sợ hãi đến xanh máu mặt! Nếu Chưởng vệ Hồ Oai không kịp đóng cửa điện lại thì có lẽ ông đã nằm sâu dưới ba thước đất! Chưa hết, ở mạn biên giới phía Bắc bọn giặc Khách cũng quấy nhiễu khắp nơi.
Từ năm 1868, sau khi Hồng Tú Toàn cầm đầu Thái bình thiên quốc bị nhà Thanh bắt giết thì dư đảng là bọn Ngô Côn kéo tàn quân chạy sang tràn nước ta, chúng chiếm giữ tỉnh thành Cao Bằng khống chế một cõi! Trước tình thế nghiêm trọng này, vua đã phái võ tướng Ông Ích Khiêm lên đánh. Những trận đánh dữ dội bất phân thắng bại đã diễn ra nhiều ngày. Cuối cùng, danh tướng họ Ông – người Quảng Nam, đã lập kế tài tình giết Ngô Côn. Những tưởng như thế đã yên, nào ngờ đồ đảng của Cờ vàng Hoàng Sùng Anh, Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc, Cờ trắng Bàn Văn Nhị, Lương Văn Lợi vẫn tiếp tục làm loạn ở các vùng biên giới Bắc kỳ. Dân đen sống làm sao nổi? Đúng như nhà sử học Trần Trọng Kim đã nhận xét về tình hình trị an dưới đời Tự Đức: “Không có đời nào lắm giặc giã bằng đời ngài làm vua” và lý giải: “Từ năm 1851 trở đi, thì càng ngày càng nhiều giặc. Mà nhất là đất Bắc kỳ có nhiều giặc hơn cả, vì đất Bắc kỳ là đất của vua nhà Lê cũ, dân tình cũng còn có nhiều người tưởng nhớ đến tiên triều, nên chi những người muốn làm loạn, hoặc tự nhận là dòng dõi nhà Lê, hoặc tìm một người nào giả nhận dòng dõi nhà Lê, rồi tôn lên làm minh chủ để lấy cớ mà khởi sự” (Việt Nam sử lược). Gọi những cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại chính sách cai trị khắc nghiệt của triều đình là “giặc”, thiết tưởng không xác đáng. Nếu sống trong trong một đất nước với chính sách cai trị khắc nghiệt, sưu cao thuế nặng; thiên tai liên tiếp mất mùa dẫn đến đói kém; lại phải chống chọi với nạn cướp bóc nổi lên như rươi thì tất người dân lương thiện phải đứng lên đòi quyền sống. Một bài vè dân gian có cho biết tình cảnh dưới thời Tự Đức:
Cơm thì chẳng có
Rau cháu cũng không
Đất trắng xóa ngoài đồng
Nhà giàu niêm kín cổng
Còn một bộ xương sống
Vơ vất đi ăn mày
Ngồi xó chợ lùm cây
Quạ kêu vang bốn phía
Xác đầy nghĩa địa
Thây thối bên cầu
Trời ảm đạm u sầu
Cảnh hoang tàn đói rét
Dân nghèo cùng kiệt
Kẻ lưu lạc tha phương
Người chết chợ chết đường
Trừ bọn lòng lang dạ thú không thương
Ai ai thấy chẳng đau lòng xót dạ
Sẵn bút đây ta tả
Để giữ lại vài câu
Cho ngàn vạn năm sau
Biết cảnh tình cơ cực
Là cái thời Tự Đức…
Thân thế
Trong các cuộc dấy binh dưới thời Tự Đức có một nữ tướng lừng danh, trong dân gian quen gọi “vợ ba Cai Vàng”. Bà đã nối gót các bậc đàn chị để chứng tỏ giới quần thoa không thua kém gì đấng mày râu khi xông pha trận mạc. Nhưng trước hết thử hỏi, Cai Vàng là ai? Trong Đại Nam thực lục chính biên có cho biết ông tên thật là “Nguyễn Thịnh, quê Bắc Ninh (người huyện Phượng Nhỡn, nguyên làm cai tổng, theo đạo Gia tô), tự xưng nguyên soái, suy tôn tên giặc trốn là Lê Duy Huân làm minh chủ”. Các tài liệu sau này, như trong Địa chí Bắc Giang cũng ghi tương tự, nhưng cho biết rõ hơn như ông là người xã Vân Sơn (nay thuộc xóm Kẻn, thôn Vân Sơn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam) làm cai tổng Sơn Đình cho nên có tên gọi là Cai Vàng. Tháng 4/1862, Cai Vàng phát động cuộc khởi nghĩa tại Yên Thế, “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Trong bài Vè Cai Vàng, dân gian ghi nhận:
Cai Vàng tỉnh Bắc gan thay
Mộ quân bảy ngày được một vạn ba
Chi tiết này cho biết, cuộc khởi binh của ông hợp lòng dân nên mới thu hút được dân nghèo hưởng ứng đông đảo như thế.
Còn “bà ba Cai Vàng” tên thật là Lê Thị Miên, còn gọi là Yến Phi, biệt hiệu Hồng Y liệt nữ sinh năm 1836, quê ở thôn Đại Trạch, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh). Duyên tri ngộ giữa bà Miên và cai tổng Thịnh gặp nhau thật đẹp.
Cuộc đời
Tương truyền, trong một ngày nắng sớm. Nắng mơn trớn trên bóng tre xanh mát. Rơm rạ quê mùa thoảng trong gió. Ngày hội Lim đã đến. Tiếng trống rộn ràng. Những lá cờ ngũ sắc giương cao, ngạo nghễ reo vui. Trên dòng sông Tiêu Tương có một nam nhi đang chèo thuyền vội vã. Đến nơi, chàng len lỏi vào trong đám đông để vui chơi ngày hội. Bỗng chàng thấy một công tử mặt hoa da phấn đang thô lỗ trêu ghẹo những cô gái quê mùa, hiền lành. Bực mình, “giữa đàng thấy chuyện bất bằng chẳng tha”, chàng bước đến muốn dạy kẻ này một bài học nhưng nhiều người sợ hãi ghé tai nói thầm:
– Đừng dại! Nó là con của quan phủ Từ Sơn đấy!
Chàng chỉ nhếch mép cười, rồi tung những đường quyền đẹp mắt, cậu công tử ngã sóng soài dưới đất. Lập tức, một lũ đầu trâu mặt ngựa theo hầu con quan ùa tới vây bắt chàng. Thất thế, chàng vội chạy đến gốc lim có con ngựa đang đứng và nhảy phốc lên, phi xuống đường cái quan. Tiếng la hét vọng theo:
– Bắt lấy quân phản nghịch mau!
Nhưng ngựa đã sải vó. Ngựa phi nước kiệu. Mịt mù bụi đất. Chẳng mấy chốc, chàng đến dòng sông Cầu, phía sau lưng bọn chúng vẫn đuổi theo. Không còn cách nào khác, chàng thúc chân vào bụng ngựa… Bạch mã dũng cảm lao xuống dòng nước đang chảy xiết. Qua sông, chàng nhằm hướng phủ Lạng Giang mà tiến…
Đây là vùng đất mà Cai Vàng và anh em nghĩa quân giang hồ hảo hớn đang cai quản.
Bấy giờ, họ đang thi đấu võ để chọn ra những người tài ba mà giao trọng trách điều quân khiển tướng.
Sáng hôm sau, không một chút ngại ngùng, chàng nai nịt gọn gàng, mang gươm bước vào đấu trường. Đứng quan sát, Cai Vàng hài lòng về những đường gươm xé gió của chàng đang đấu với Đốc Đen. Đôi bên quần nhau dữ dội như hổ tranh mồi. Tiếng vỗ tay náo nhiệt cả một khu rừng. Chàng đã bị Đốc Đen tung quyền cước chạm tay, thanh gươm bay tít lên trời xanh! Không nao núng, chàng vội lộn mấy vòng bay theo đoạt lại. Bất ngờ, khăn nhiễu quấn đầu chàng tuột rơi, một mái tóc dài bay tung trong gió…
– Con gái! Con gái!
Đám nghĩa quân há hốc mồm kêu lên và Cai Vàng lập tức cho ngưng trận đấu. Đó là Lê Thị Miên, lúc ấy nàng mới vừa hai mươi xuân, nhan sắc tuyệt đẹp. Giây phút gặp gỡ này đã tạo cho mọi người một ấn tượng khó quên. Từ đó, nàng xin tòng quân theo chủ soái Cai Vàng.
Lần nọ, trong hội khao quân, các nghĩa quân muốn cả hai nên duyên cầm sắc, cùng kề vai sát cánh để lãnh đạo cuộc chiến đấu. Một nho sĩ dưới trướng nhân lúc vui đã ngà ngà say, bèn đọc câu thơ thử dò ý tứ của nàng:
– Lạ lùng thay, giấc cô Miên
Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u?
Ý muốn nói nàng vẫn phòng đơn bóng chiếc chăng? Nghe xong nàng chỉ mỉm cười, không đáp. Lúc ấy, họ cũng dò xét tình ý của chủ tướng bằng cách đặt câu đối:
– Cô Miên ngủ một mình;
Không để mọi người đợi lâu, Cai Vàng liền đối lại chỉnh chu:
– Tổng Thịnh tóm nhiều đứa.
Ai nấy đều khen hay. Nhưng Cô Miên mặt vẫn không đổi sắc. Ngày nọ, trong dịp xuân, nàng thẩn thơ đi viếng cảnh chùa, các nghĩa quân vẫn tiếp tục thăm dò tình ý. Trước những lời “xa gần” ấy, không ngờ nàng đáp:
Chưa chồng chơi chốn chùa chiền
Chanh chua chuối chát chính chuyên chờ chồng
Nhờ vậy, mọi người biết nàng đang có ý đợi người tài trai. Ta biết, lúc nàng đầu quân về với cai Vàng thì ông đã có hai vợ! Vậy nàng đợi ai? Nhưng ở đời, trai tài gái sắc xe duyên nhau cũng là lẽ thường tình. Sau đó, nàng và Cai vàng nên duyên chồng vợ và lần lượt đối đầu với nhiều quan chức của triều đình nhà Nguyễn. Từ đây, trong những ngày dấy binh đánh thành Phủ Mộc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương… bà cùng chồng và nghĩa quân đã lập nhiều chiến công hiển hách mà sau này trong bài Vè Cai Vàng khen ngợi:
Khen cho trí lực đàn bà
Bắc Ninh tài tướng vợ ba
Cai Vàng Đấu gan thi sức rõ ràng
Vợ bé Cai Vàng đánh trận giỏi thay
Cũng theo bài vè này, trước khi xuất quân, Cai Vàng có hỏi ý kiến của ba bà vợ. Bà vợ cả cho rằng “Điềm trời chưa vững đừng đi hội này”, bà thứ hai “Xin chàng nghe thiếp đừng đi”. Con bà ba thì sao? Ta hãy nghe những lời gan dạ lạ thường:
Vợ ba quỳ gối tâu bày:
– Hai chị nói thế em đây không bằng lòng
Nói rồi quỳ xuống lạy chồng
– Chàng dốc một lòng thiếp cũng xin chơi
Mong cho trào kéo tới nơi
Nhất thua nhị được mặc tôi với trào
Dẫu rằng thua, được làm sao
Mạng mình thác cửa quan trào không oan
Trận này đấu sức thi gan
Liều mình chơi với các quan một kỳ
Thân tôi tuy phận nữ nhi
Hai mươi bảy tuổi ra đi cùng chồng
Bây giờ dấy nghĩa lập công
Lấy tiếng cho chồng nhất được nhị thua
Trước thái độ cương quyết của vợ, Cai Vàng càng vững lòng tin. Ông đồng ý khởi binh. Được lệnh chồng:
Cô liền loan báo:
– Quân đâu
Hàng cơ, hàng đội sắp hầu theo ta
Anh nào thương mẹ thương cha
Thương con nhớ vợ về nhà làm ăn
Làm trai quyết chí lập công
Sống chết một lần cũng quyết mà chơi!
Quân gia mới nói một lời:
– Cô còn gắng sức chúng tôi ngại gì!
Rõ ràng, vợ ba Cai Vàng đã đóng vai trò quan trọng trong các trận đánh. Theo chính sử, nghĩa quân đã lần lượt hạ thành Phủ Mọc, thành Phủ Lạng Giang, sau tiến qua vùng Yên Dũng tới tỉnh thành Bắc Ninh. Từ đó, với khi thế thắng như chẻ tre, họ tràn qua phủ Thuận Thànhchiếm Siêu Thoại – Văn Giang rồi qua phủ Từ Sơn uy hiếp Hà Nội. Trước tình thế này, vua Tự Đức khiếp đảm, lập tức sai nhiều tướng lĩnh đem quân hùng hậu quyết chiếm lại Bắc Ninh. Cuộc chiến ngày một khốc liệt. Nhằm chống đỡ những mũi phản công trực diện, Cai Vàng triển khai lực lượng đánh vào hai phủ Vĩnh Tường, Quốc Oai (Sơn Tây), uy hiếp Bình Xuyên, Phú Bình (Thái Nguyên), rồi tràn quân xuống Chương Đức, Từ Liêm (Hà Nội)… Do quân số dàn trải như thế nên đại quân triều đình đã chiếm lại được phủ Lạng Giang, nhưng cũng không giữ được lâu, vì dăm ngày sau nghĩa quân tập trung lực lượng đoạt lại thành, giết chết tri phủ Lê Huy Trạc. Trong những trận đánh này, bài vè cũng ghi lại nhiều chi tiết sống động giữa nghĩa quân và “quân trào” (quân triều đình):
Trong thì Cai Vàng xông pha
Ngoài thì vợ bé thứ ba đánh vào
Quân trào tán lạc binh đao
Bốn bề súng bắn xôn xao đì đùng
Đánh nhau đã ba giờ ròng
Súng bắn đì đùng như thể pháo ran
Đạn bắn như cát rải đàng
Các quan tìm đường về tỉnh Bắc Ninh
Truyền quân coi giữ mặt thành
Cô Ba đuổi tới Bắc Ninh đánh trào
Truyền quân đóng sập cửa vào
Hãm lương quân trào mấy tháng sẽ tha
Ngoài thì đàn hát reo hò
Các quan trong tỉnh nằm lo đêm ngày
Than rằng: – Bể rộng đất dày
Trận nào sống được trời hay chăng trời?
Hãm lương mười bảy ngày rồi
Binh hao, lương tận hết rồi còn đâu!
Cuộc khởi binh này, chưa ai biết sẽ còn kéo dài bao lâu nữa, nếu như Cai Vàng không chết sớm. Theo dân gian, về sau ông chết là do “Có tên đày tớ phản thùng nội công”, đã báo cho quân triều đình biết chính xác nơi Cai vàng đang trú quân nên đã trút đạn xuống như mưa nhằm giết cho bằng được thủ lĩnh của phong trào. Nhưng theo Bắc Giang địa chí thì “Ngày 30.8 năm Quý Hợi (9/1863), Cai Vàng đi tuần tiễu trên sông Thương, giữa đường gặp thuyền Lãnh Tảo – phó lãnh binh tỉnh Hưng Yên – bắn như mưa. Thuyền Cai Vàng bị cháy. Đốc Xồm chết trong thuyền. Cai Vàng bị thương nặng, không dậy được, sau đó thì mất”.
Trong bài Vè Cai Vàng còn ghi lại giây phút cuối cùng của đôi trai tài gái sắc thật cảm động:
Cô ba cầm lấy cổ tay
Chàng ơi có thác phen này không oan
Mình thiếp thi sức, thi gan
Mang thân thác cửa vua quan đáng đời
Chàng thác yên phận chàng rồi
Chàng thác đã vậy thiếp tôi thế nào?
Mình thiếp mười vạn binh đao
Biết rằng có chống lại trào được chăng?
Vợ chồng than thở vừa xong
Cai Vàng sức kiệt dốc lòng ngã ra
Truyền quân mang xác về nhà
Tìm nơi an táng để mà cho yên
Đây là một tổn thất cho phong trào. Tuy nhiên, bà vẫn hiên ngang thách thức với triều đình:
Còn ta còn lắm gian nan
Nhiều phen tổn hại quân quan phen này
Và:
Rồi ra lập lại binh quyền
Cất quân ra đánh một phen báo thù
Thật vậy, mùa xuân năm 1864, sau khi chồng đã chết, bà trực tiếp cầm quân đánh vào Nải Sơn (Kiến Thụy – Hải Phòng). Sau 22 ngày chiến đấu liên tục, bất phân thắng bại, bà đã gây cho quân triều Nguyễn nhiều tổn thất nặng nề. Sau không cầm cự nổi, bà cho lui quân. Nhận thấy binh mã bây giờ còn lại không nhiều, không đủ sức để tiến hành cuộc chiến đấu lâu dài, ngày 11/3/1864, bà tổ chức tế chồng và tưởng niệm các chiến hữu, rồi ra lệnh giải tán nghĩa quân… Để tránh sự truy nã của triều đình, theo truyền thuyết, bà mai danh ẩn tích ở chùa Dặn (Đình Báng – Bắc Ninh). Cũng có tài liệu cho rằng, bà xuất gia với pháp danh Đàm Giác Linh, trụ trì tại chùa Hương thôn Tứ Kỳ (nay thôn Đại Trạch, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh). Tại chùa này, bà đã cho dựng miếu Âm Hồn để thờ các nghĩa quân đã bỏ mình trong cuộc chiến vừa qua. Lúc bà mất, cũng được an táng nơi này, cạnh mộ thủ linh Cai Vàng. Hiện nay, tại miếu thờ hiện vẫn còn có câu đối ca ngợi bà (Hoàng Giá dịch):
Thời trẻ mang giáp trụ, cỡi ngựa phất cờ, nức tiếng anh hùng miền Kinh Bắc;
Xuất gia vào chùa thiền, tụng kinh đọc kệ, hiểu tường đức độ Phật Như Lai.
Vị nữ tướng của phong trào nông dân một thời chọc trời khuấy nước từ trần năm 1908, thọ 71 xuân. Hình ảnh bà vợ ba Cai Vàng đã cho thấy người phụ nữ nước Nam can trường không thua gì nam giới.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ.