Chân đèn gốm men lam xám của Huyền Thông

Chân đèn gốm men lam xám của Huyền Thông

Thông tin cơ bản

Tên trong danh mục Bảo vật quốc gia: Cây đèn gốm
Tên thường dùng: Chân đèn gốm men lam xám có minh văn của Huyền Thông
Số đăng ký: BTHN 4444
Niên đại: Diên Thành năm thứ 5 (1582), thời Mạc
Chất liệu: Gốm men lam xám
Kích thước: Cao khoảng 73,5 cm; đường kính miệng 16,5 cm; đường kính đáy 22 cm
Trọng lượng: Khoảng 12 kg
Cấu tạo: Hai phần rời lắp khớp với nhau
Tác giả: Đặng Mậu Nghiệp, tự Huyền Thông
Nguồn gốc sử dụng: Đồ thờ đặt làm để cung tiến chùa Thanh Lan, thôn My Xuyên, xã Lai Khê, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách
Đơn vị lưu giữ: Bảo tàng Hà Nội
Xếp hạng: Bảo vật quốc gia, Quyết định số 2382/QĐ-TTg ngày 25/12/2015.

Giới thiệu hiện vật

Chân đèn gốm men lam xám của Đặng Huyền Thông là một tác phẩm tiêu biểu của nghệ thuật gốm thời Mạc, được tạo tác vào năm 1582, niên hiệu Diên Thành thứ 5 dưới triều Mạc Mậu Hợp. Hiện vật gồm hai phần được chế tác riêng, sau khi nung mới lắp khớp thành một chỉnh thể. Phần dưới có dáng gần với một chiếc mai bình, cổ nhỏ, vai và thân trên phình, thân dưới thu lại rồi mở rộng ở chân đế; phần trên xòe dần như một bông sen đang nở, phía trên cùng có miệng đấu dùng để đặt đĩa đèn.

Bề mặt chân đèn phủ lớp men lam xám sẫm, dày và có độ trong bóng, tạo nên sắc màu đặc trưng cho dòng gốm gắn với tên tuổi Đặng Huyền Thông. Hoa văn được thực hiện chủ yếu bằng các kỹ thuật chạm, đúc nổi, in nổi, dán ghép và khắc chìm trước khi phủ men, thay vì sử dụng bút vẽ như trên gốm hoa lam. Cách xử lý này khiến các hình trang trí có độ nổi khối mạnh và tạo hiệu quả gần với phù điêu trên bề mặt gốm.

Hệ thống trang trí rất phong phú với rồng yên ngựa, rồng trong lá đề, cánh sen, răng cưa, các dải vạch đứng song song và hoa tám cánh nhọn. Trong đó hình tượng rồng xuất hiện với nhiều biến thể, vừa tiếp nối một số truyền thống trang trí của các thời kỳ trước, vừa hình thành phong cách riêng dễ nhận biết trong sáng tác của Đặng Huyền Thông. Những mô típ hình học như răng cưa và vạch song song cũng được các nhà nghiên cứu chú ý khi khảo sát sự tiếp nối của các truyền thống trang trí cổ trong mỹ thuật thế kỷ XVI.

Điểm đặc biệt nhất của bảo vật không chỉ nằm ở hình dáng và màu men mà còn ở hệ thống minh văn chữ Hán được khắc và đúc trực tiếp trên thân đèn. Chính phần văn tự này giúp xác định tương đối đầy đủ niên đại, nghệ nhân, địa điểm sử dụng và những người tham gia đặt làm, công đức hiện vật.

Minh văn và dấu ấn của tượng nhân Đặng Huyền Thông

Trên vai chân đèn có một hàng chữ Hán đúc nổi, mỗi chữ đặt trong một ô vuông:

“Hoàng đế vạn tuế, thiên hạ thái bình, chúng sinh đồng thụ phúc trường diên khảo.”

Có thể hiểu khái quát là lời cầu chúc hoàng đế trường thọ, thiên hạ thái bình, chúng sinh cùng hưởng phúc và tuổi thọ dài lâu. Trên thân còn có ba chữ “Thanh Lan tự”, xác định ngôi chùa mà hiện vật được đặt làm để cung tiến.

Đặc biệt, xen giữa các hình rồng ở phần dưới chân đèn là một bài minh văn dài 27 dòng, khắc chìm trước khi phủ men. Nội dung ghi tên nhiều người công đức tại thôn My Xuyên, xã Lai Khê và các địa phương khác; nhắc đến nhà sư Nguyễn Đức Long, tự Tuệ Tín; đồng thời kết thúc bằng thông tin về niên đại và người chế tác:

“Diên Thành ngũ niên, Thanh Lâm huyện, Hùng Thắng xã, Đặng Huyền Thông tạo.”

Qua đó có thể xác định chắc chắn tác phẩm được Đặng Huyền Thông tạo tác vào năm Diên Thành thứ 5, tức năm 1582.

Các nghiên cứu về gốm có minh văn còn cho biết tên đầy đủ của ông là Đặng Mậu Nghiệp, tự Huyền Thông, quê xã Hùng Thắng, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách. Ông là một tượng nhân nổi bật cuối thời Mạc; nhiều tác phẩm của ông mang minh văn ghi rõ tác giả, niên đại và người đặt hàng. Hiện đã nhận diện được hàng chục tác phẩm của Đặng Huyền Thông trong các bảo tàng và sưu tập ở Việt Nam cũng như nước ngoài.

Chính nhờ những tác phẩm có niên đại tuyệt đối như chân đèn năm 1582 mà giới nghiên cứu có cơ sở đối chiếu màu men, tạo hình và hoa văn để nhận diện những tác phẩm khác thuộc phong cách Đặng Huyền Thông dù không còn minh văn. Bởi vậy, chân đèn không chỉ là một đồ thờ cổ mà còn giữ vai trò như một mẫu chuẩn trong nghiên cứu gốm men lam xám thời Mạc.

Giá trị tiêu biểu

Giá trị lịch sử: Minh văn xác định chính xác tác phẩm được tạo vào năm 1582, giúp chân đèn trở thành một mốc niên đại quan trọng trong nghiên cứu gốm Việt Nam thời Mạc.
Giá trị nghệ thuật: Tạo hình hai phần cân đối, lớp men lam xám đặc trưng cùng hệ thống rồng, lá đề, sen và hoa văn hình học tạo nên một phong cách riêng biệt gắn với Đặng Huyền Thông.
Giá trị kỹ thuật: Sự kết hợp giữa tạo hình gốm kích thước lớn với đúc nổi, chạm nổi, dán ghép, khắc chìm và phủ men cho thấy trình độ chế tác cao của tượng nhân cuối thế kỷ XVI.
Giá trị minh văn: Hệ thống chữ khắc cung cấp đồng thời thông tin về tác giả, niên đại, địa danh, ngôi chùa và những người công đức, khiến hiện vật trở thành nguồn sử liệu hiếm có về xã hội và Phật giáo thời Mạc.
Giá trị nghiên cứu gốm: Do có tác giả và niên đại tuyệt đối, chân đèn là một mẫu chuẩn quan trọng để nhận diện màu men, hoa văn và phong cách của các tác phẩm khác thuộc dòng gốm Đặng Huyền Thông.
Giá trị tôn giáo: Xuất xứ từ một đồ thờ được đặt làm để cung tiến chùa Thanh Lan giúp hiện vật phản ánh trực tiếp đời sống công đức và sinh hoạt Phật giáo tại vùng đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVI.

Với niên đại năm 1582, minh văn dài và phong cách men lam xám đặc trưng, Chân đèn gốm men lam xám của Đặng Huyền Thông là một trong những tác phẩm tiêu biểu của gốm thời Mạc. Bảo vật vừa ghi dấu tài năng của một tượng nhân có tên tuổi cụ thể, vừa lưu giữ những thông tin quý về nghệ thuật, tôn giáo và đời sống xã hội Đại Việt cách đây hơn bốn thế kỷ. Hiện vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội và thuộc nhóm Bảo vật quốc gia của bảo tàng.
Nguồn ảnh: Sưu tầm

Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Cây đèn gốm men lam thế kỷ XVI

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)