Niên đại: Cuối thế kỷ IX – đầu thế kỷ X, Văn hóa Champa
Phong cách nghệ thuật: Đồng Dương
Chất liệu: Đá sa thạch xanh xám
Kích thước tổng thể: Cao 226 cm; dài 269 cm; rộng 258 cm
Cấu tạo: 17 khối sa thạch và nhiều mảnh ghép nhỏ, xếp thành 5 lớp
Yoni: Dài 225 cm; rộng 169 cm; dày 31 cm
Linga: Đường kính 55 cm; cao 57 cm
Nơi phát hiện: Đền A10, nhóm tháp A, Khu đền tháp Mỹ Sơn
Thời gian phát lộ hoàn chỉnh: Năm 2020
Nơi lưu giữ: Tại vị trí nguyên gốc trong đền A10, Khu đền tháp Mỹ Sơn, thành phố Đà Nẵng; trước đây thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
Xếp hạng: Bảo vật quốc gia, Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 25/12/2021.
Giới thiệu bảo vật
Đài thờ Mỹ Sơn A10 là một đài thờ Shiva giáo có niên đại cuối thế kỷ IX – đầu thế kỷ X, thuộc phong cách nghệ thuật Đồng Dương. Đài thờ nằm trong đền A10 thuộc nhóm tháp A của thánh địa Mỹ Sơn và được phát lộ, nghiên cứu, lắp ghép hoàn chỉnh trong đợt trùng tu năm 2020. Toàn bộ đài thờ được ghép từ 17 khối sa thạch cùng nhiều mảnh vỡ nhỏ, cao 226 cm, dài 269 cm, rộng 258 cm. Phía trên đặt bộ Linga – Yoni liền khối, trong đó Yoni dài 225 cm, rộng 169 cm, dày 31 cm; Linga hình trụ tròn cao 57 cm, đường kính 55 cm.
Đài thờ có dạng khối vuông, gồm 5 lớp đá xếp chồng lên nhau. Lớp dưới cùng là phần đế, rộng 258 × 258 cm, cao 44 cm, được ghép từ 9 khối đá và trang trí ở cả bốn mặt. Phần thân phía trên gồm các lớp đá giật cấp, tạo thành hệ thống bệ đối xứng và chắc chắn. Các khối đá được liên kết bằng mộng đuôi én hoặc mộng đuôi cá, kết hợp những chốt gắn bằng chì. Đây là một chi tiết kỹ thuật đặc biệt, bởi tại Mỹ Sơn, Đài thờ A10 là trường hợp phát hiện rõ việc sử dụng chì làm vật liệu cố định mộng liên kết đá. Phần chân đế trang trí các vòm cửa nhỏ, trụ áp tường và hình nhân vật, mô phỏng hình thức kiến trúc của chính ngôi đền. Ở mặt Bắc xuất hiện hình đạo sư trong tư thế ngồi thư thái, đầu đội kiểu mũ búi tóc jata-mukuta. Các dải gờ, khung chữ nhật và hoa văn trên đế mang đặc trưng của phong cách Đồng Dương.
Bộ Linga – Yoni trên đài thờ được chế tác liền trong một khối sa thạch lớn. Yoni có vòi quay về phía Bắc, phù hợp với chức năng dẫn nước thiêng trong nghi lễ. Linga đặt ở trung tâm, có dạng hình trụ tròn, bề mặt được mài nhẵn và có một đường gờ chạy vòng quanh. Khác với dạng Linga truyền thống thường gồm ba phần vuông – bát giác – tròn, Linga Mỹ Sơn A10 chỉ thể hiện phần hình trụ tròn, gắn liền trực tiếp với Yoni. Đây là một kiểu thức đặc biệt trong nghệ thuật Champa và hiện thuộc nhóm Linga – Yoni liền khối có kích thước lớn nhất được biết đến.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử – khảo cổ: Đài thờ có niên đại thế kỷ IX – X, gắn trực tiếp với đền A10 và là hiện vật quan trọng trong việc nghiên cứu kiến trúc, tôn giáo của Mỹ Sơn thời Indrapura.
Giá trị kiến trúc: Cấu trúc 17 khối đá, 5 lớp bệ, hệ thống giật cấp, trụ áp tường và vòm cửa nhỏ phản ánh kỹ thuật tổ chức kiến trúc đá phát triển cao của Champa.
Giá trị kỹ thuật: Việc dùng mộng đuôi cá kết hợp chì để liên kết các khối sa thạch là đặc điểm kỹ thuật rất hiếm và có giá trị nghiên cứu cao.
Giá trị nghệ thuật: Các đồ án trang trí, cấu trúc bệ và hình nhân vật thể hiện rõ phong cách Đồng Dương cuối thế kỷ IX – đầu thế kỷ X.
Giá trị tôn giáo: Bộ Linga – Yoni liền khối phản ánh hình thức thờ Shiva đặc biệt, với kích thước lớn và kiểu Linga chỉ gồm phần trụ tròn gắn trực tiếp với Yoni.
Giá trị độc bản: Đài thờ Mỹ Sơn A10 là hiện vật gốc, được lắp ghép và đặt lại tại vị trí ban đầu trong đền A10, có hình thức và kỹ thuật đặc biệt hiếm trong hệ thống đài thờ Champa hiện biết. Ngày 25/12/2021, hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia.
Đài thờ Mỹ Sơn A10 là một tác phẩm tiêu biểu của kiến trúc và điêu khắc Champa thế kỷ IX – X, nổi bật ở quy mô lớn, cấu trúc 17 khối sa thạch, kỹ thuật liên kết đá bằng mộng và chì cùng bộ Linga – Yoni liền khối đặc biệt. Hiện vật là nguồn tư liệu quan trọng về kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật Đồng Dương và Shiva giáo tại thánh địa Mỹ Sơn.
Nguồn ảnh: Sưu tầm