Lễ hội chùa Keo Thái Bình

Lễ hội chùa Keo Thái Bình

Thông tin cơ bản

Tên di sản: Lễ hội chùa Keo
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Chùa Keo, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
Thời gian tổ chức: Hội vui xuân ngày mùng 4 tháng Giêng; hội mùa thu từ ngày 13 đến 15 tháng Chín âm lịch
Đối tượng thờ phụng: Phật và Thiền sư Không Lộ
Cộng đồng thực hành: Nhân dân làng Keo và cộng đồng địa phương
Nghi thức đặc trưng: Kéo kén, rước Thánh “xuất á, nhập á”, bơi thuyền cò cốc, chèo cạn chầu Thánh
Ghi danh: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 217/QĐ-BVHTTDL ngày 23/01/2017

Lễ hội chùa Keo là một lễ hội truyền thống đặc sắc gắn với chùa Keo – ngôi chùa có tên chữ là Thần Quang tự, trước gọi Nghiêm Quang tự, mang đặc trưng “tiền Phật, hậu Thánh”, phía trước thờ Phật, phía sau thờ Thiền sư Không Lộ. Hằng năm, làng Keo có hai kỳ hội: hội vui xuân vào mùng 4 tháng Giêng và hội mùa thu từ ngày 13 đến 15 tháng Chín âm lịch. Trong đó, hội mùa thu là lễ trọng lớn nhất, nổi bật với hệ thống rước Thánh, tế lễ, bơi thuyền và nhiều tục lệ riêng được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Thiền sư Không Lộ và chùa Keo

Theo truyền thuyết, Thiền sư Không Lộ họ Dương, húy Minh Nghiêm, người làng Giao Thủy, phủ Hải Thanh. Ông sinh ngày 14 tháng Chín năm Bính Thìn 1016, niên hiệu Thuận Thiên thứ 7 đời Lý Thái Tổ.

Lớn lên, ông theo học đạo Thiền, kết bạn với Giác Hải và Đạo Hạnh rồi cùng về tu tại chùa Diên Phúc, phủ Hải Thanh. Sau khi dựng chùa Nghiêm Quang, ông nổi tiếng với nhiều câu chuyện kỳ lạ trong dân gian. Năm Bính Ngọ 1066, vua Lý Thánh Tông lâm bệnh, triều đình cho người đến mời Không Lộ và Giác Hải về kinh chữa trị. Sau khi nhà vua khỏi bệnh, Không Lộ được trọng thưởng 1.000 lạng bạc, 500 khoảnh ruộng và được phong Quốc sư.

Ngày mùng 3 tháng Sáu năm Giáp Tuất 1094, Thiền sư Không Lộ viên tịch, thọ 79 tuổi. Sau khi mất, ông tiếp tục được cộng đồng tôn kính và thờ phụng tại chùa Keo.

Từ Nghiêm Quang tự đến chùa Keo ngày nay

Chùa Nghiêm Quang, sau đổi tên thành Thần Quang tự, được xây dựng từ thời Lý tại ấp Giao Thủy, tên nôm là làng Keo, ở hữu ngạn sông Hoàng, tức sông Hồng.

Năm Tân Hợi 1611, một trận lũ lớn làm chùa bị cuốn trôi, cư dân ấp Keo phải chuyển đến hai nơi. Một bộ phận về Hành Cung, sau đổi thành Hành Thiện, nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Bộ phận còn lại sang Dũng Nhuệ ở tả ngạn sông, sau đổi thành Dũng Mỹ rồi Hành Mỹ, nay thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

Sau cuộc chuyển cư, người dân Dũng Nhuệ tiến hành xây dựng lại chùa Thần Quang. Đây chính là chùa Keo ở Thái Bình ngày nay và là không gian thực hành lễ hội truyền thống của cộng đồng.

Hai kỳ hội trong năm

Hội vui xuân được tổ chức vào mùng 4 tháng Giêng, là dịp người dân đến chùa lễ Phật và vui xuân. Trước đây hội có các trò thi bắt vịt, ném pháo và nấu cơm, nhưng hiện nay những trò này không còn được tổ chức.

Quy mô lớn và quan trọng hơn là hội mùa thu, kéo dài ba ngày từ 13 đến 15 tháng Chín âm lịch. Ngày 13 được coi là dịp tưởng niệm tuần bách nhật của Thiền sư Không Lộ, ngày 14 là ngày sinh của ông, còn ngày 15 là ngày rằm theo lịch Phật giáo.

Chuẩn bị cho hội mùa thu

Việc chuẩn bị bắt đầu từ nhiều tháng trước. Vào tiết kỵ Thánh mùng 3 tháng Sáu, sau khi dâng loại bánh làm từ bột gạo nếp trộn mật, nấu cách thủy hai đêm một ngày, gọi là bánh bìa, dân làng theo lệ cũ bầu chủ hội. Đây phải là người có uy tín, đủ tư cách điều hành công việc chung, cùng các đại diện của các làng trong xã tổ chức lễ hội.

Các đội tế nam quan, nữ quan cũng tập luyện từ sớm. Lễ vật gồm những sản vật quen thuộc như xôi, rượu, hoa quả, bánh chưng… được chuẩn bị chu đáo. Người đảm nhận việc làng phải là người có uy tín và gia đình thuận hòa, làm ăn thuận lợi.

Ngày 11 tháng Chín, dân làng dựng cây phướn tại sân cỏ trước tam quan ngoại. Cùng thời điểm này, chủ hội lựa chọn 42 trai làng khỏe mạnh, thành thạo động tác để tham gia rước kiệu, nhang án, long đình, thuyền rồng và tiểu đĩnh. Việc tuyển chọn này được người làng Keo gọi là “kéo kén”, mang nghĩa kéo quân để kén người.

Ngày 12, 42 trai làng tiếp tục qua một lần kéo kén để phân công nhiệm vụ. Trong đội rước kiệu thuyền rồng có 4 người đảm nhiệm đòn chính, 8 người vào đòn gồng và 2 người cầm quạt vả che hai bên kiệu; những người còn lại phụ trách nhang án, long đình, thuyền rồng và tiểu đĩnh.

Ngày 13 tháng Chín – mở hội

Ngày 13, còn gọi là ngày tốt khốc, mở đầu ba ngày hội mùa thu và tưởng niệm tuần bách nhật của Thiền sư Không Lộ. Buổi sáng, các trai làng đã được tuyển chọn cùng dân làng rước nhang án, long đình, thuyền rồng và tiểu đĩnh từ trong chùa ra tam quan ngoại. Đến buổi tối, các đồ rước được cung nghinh trở lại tòa thiêu hương.

Sau khi đoàn rước trở về, lần lượt diễn ra các lễ Thánh của chủ hội, những người tùng giá, tám em mục đồng, đoàn chấp hiệu, đoàn rước bát bửu, hai tổng cờ và những trai chân kiệu. Nửa đêm, chủ hội tiếp tục chủ trì nghi thức lễ tại gốc cây phướn, được gọi là “long nhan cây phướn”.

Trước đây, ngày 13 còn có nhiều cuộc thi đặc sắc. Buổi chiều có đua trải, với đường đua kéo dài từ khu vực chùa ra hai bờ sông Hồng; trải giành giải nhất cả ba ngày được nhận giải cốn. Tại tòa giá roi còn diễn ra thi thầy đọc, nơi những thầy cúng có giọng hay và khả năng làm văn tranh tài bằng các bài “văn lục cúng” về sáu chủ đề hương, đăng, hoa, trà, quả, thực. Văn được sáng tác bằng chữ Nôm theo lối trào phúng nên người dự thi cũng phải có giọng đọc phù hợp.

Sau lễ Thánh buổi tối còn có thi kèn và thi trống. Tuy nhiên, đua trải, thi thầy đọc, thi kèn và thi trống hiện nay không còn được tổ chức.

Ngày 14 tháng Chín – rước Thánh “xuất á, nhập á”

Ngày 14 là ngày kỷ niệm ngày sinh của Thiền sư Không Lộ và cũng là ngày có cuộc rước Thánh quan trọng nhất. Buổi sáng, kiệu Thánh được rước từ tòa thượng điện ra tam quan ngoại; đến chiều tối, bài vị Thánh được rước trở về tòa thiêu hương.

Đường rước được tổ chức theo hình chữ Á khép kín nên người dân gọi là “xuất á, nhập á”. Khi rước Thánh ra, đoàn đi theo phía Đông bờ ao; lúc rước về lại đi theo phía Tây. Quãng đường rước dài khoảng 500m.

Đoàn rước gồm đội tập phúc là những vãi già mặc áo nâu cầm cành phan và dải vải dài để cầu rước Thánh; đoàn mục đồng cầm cờ thần; hai ngựa hồng và bạch; xe trống chiêng; các lão ông cầm bát bửu; phường bát âm; đội múa sênh tiền; giá tiểu đĩnh; đội chấp kích; giá thuyền rồng sơn son thếp vàng; long đình; nhang án cùng đông đảo nhân dân và khách thập phương. Chủ hội và tổng cờ đảm nhiệm việc quán xuyến đoàn rước.

Sự xuất hiện của tám em mục đồng trong đoàn rước gợi lại thời kỳ Không Lộ làm nghề chài lưới, gần gũi với những trẻ chăn trâu, cắt cỏ trong dân gian.

Bơi thuyền cò cốc chầu Thánh

Trong khi đoàn rước Thánh diễn ra trên bờ, dưới ao phía trước chùa đồng thời tổ chức bơi thuyền cò cốc để chầu Thánh.

Tám em nhỏ khoảng 13 – 14 tuổi mặc áo vàng, đội khăn đỏ tết hình hai trái đào, ngồi thành bốn đôi trên một chiếc thuyền nhỏ và cùng bơi bằng dầm gỗ. Trên thuyền còn có hai người lớn, một người đánh mõ và một người cầm lái, cùng mặc áo vàng, khăn vàng và thắt dây lưng đỏ.

Tám mái dầm cùng bổ xuống nước theo nhịp mõ và tiếng “hò dô”, đưa chiếc thuyền nhỏ lướt quanh mặt ao. Đây không phải cuộc đua mà là một hình thức bơi biểu diễn để thờ Thánh, tạo nên nét riêng rất đặc sắc của hội chùa Keo.

Trước đây, chiều ngày 14 còn có múa ếch vồ để chầu Thánh, song tục này hiện không còn được duy trì thường xuyên.

Ngày 15 tháng Chín – chèo cạn chầu Thánh và kết hội

Ngày 15, các nghi thức rước và lễ Thánh về cơ bản tiếp tục được tiến hành tương tự ngày 14. Sau khi kiệu Thánh hoàn cung vào ban đêm, 12 trai chân kiệu thực hiện lễ chèo cạn chầu Thánh.

Đây là nghi lễ kết thúc ba ngày hội mùa thu. Chèo cạn vừa mang tính trình diễn vừa là một hình thức dâng lễ lên Thiền sư Không Lộ, khép lại chuỗi nghi thức từ ngày 13 đến ngày 15 tháng Chín.

Những sự lệ khác tại chùa Keo

Ngoài hai kỳ hội chính, chùa Keo còn duy trì một số sự lệ trong năm. Trong tháng Hai âm lịch, từ mùng 1 đến mùng 10, dân làng chọn một ngày Đinh để sửa lễ tế trà Đức Thánh. Ngày mùng 3 tháng Sáu là ngày kỵ của Thiền sư Không Lộ.

Đặc biệt, 12 năm một lần, chùa tổ chức sự lệ trang hoàng Thánh tượng trong khoảng từ ngày kỵ Thánh đến 15 tháng Tám. Tượng được tắm bằng nước chế từ nước dừa và hạt bưởi rồi tô son lại.

Hằng năm, từ 15 tháng Tám đến mùng 10 tháng Chín, dân làng chọn ngày tốt tổ chức lễ phục y, thay áo cho tượng Thánh. Xiêm áo cũ sau đó được chia làm lộc cho người dân trong làng.

Đặc điểm và ý nghĩa

Lễ hội chùa Keo thể hiện rõ đặc trưng tiền Phật, hậu Thánh của ngôi chùa. Trong cùng một không gian, tín ngưỡng Phật giáo hòa quyện với sự tôn kính dành cho Thiền sư Không Lộ, người từ một vị thiền sư thời Lý đã trở thành nhân vật trung tâm trong đời sống tín ngưỡng của cộng đồng.

Hệ thống nghi thức của hội mùa thu rất phong phú, trong đó nhiều tục lệ mang dấu ấn riêng như kéo kén chọn trai rước, xuất á – nhập á, bơi thuyền cò cốc và chèo cạn chầu Thánh. Bên cạnh nghi lễ, lễ hội từng có nhiều hình thức thi tài và sinh hoạt văn nghệ dân gian như đua trải, thi thầy đọc, thi kèn, thi trống, cho thấy đời sống văn hóa phong phú của cư dân làng Keo.

Giá trị tiêu biểu

Giá trị lịch sử: Lễ hội gắn với lịch sử hình thành chùa Keo từ thời Lý, cuộc chuyển cư sau trận lũ năm 1611 và quá trình xây dựng lại chùa Thần Quang trên vùng đất Thái Bình.
Giá trị tín ngưỡng: Lễ hội thể hiện sự kết hợp giữa thờ Phật và thờ Thiền sư Không Lộ, phản ánh đặc trưng “tiền Phật, hậu Thánh” của chùa Keo.
Giá trị văn hóa: Các tục kéo kén, dựng phướn, rước Thánh, xuất á – nhập á, bơi thuyền cò cốc và chèo cạn tạo nên hệ thống thực hành lễ hội có bản sắc riêng.
Giá trị nghệ thuật – trình diễn: Đám rước với bát âm, sênh tiền, cờ phan, thuyền rồng cùng các hình thức bơi thuyền, chèo cạn và những cuộc thi diễn xướng trước đây phản ánh đời sống nghệ thuật dân gian phong phú của cộng đồng.
Giá trị tri thức dân gian: Việc lựa chọn chủ hội, kéo kén trai rước, tổ chức đội tế, sắp xếp đội hình rước và thực hiện các sự lệ liên quan đến Thánh tượng cho thấy một hệ thống kinh nghiệm được cộng đồng trao truyền qua nhiều thế hệ.
Giá trị cộng đồng: Lễ hội huy động sự tham gia của các bô lão, trai làng, phụ nữ, trẻ em và đông đảo người dân, qua đó tăng cường sự gắn bó giữa các thành viên trong cộng đồng.
Giá trị giáo dục truyền thống: Thông qua việc tưởng niệm Thiền sư Không Lộ và duy trì các nghi lễ cổ truyền, lễ hội góp phần trao truyền lịch sử, tín ngưỡng và phong tục của làng Keo cho các thế hệ sau.

Lễ hội chùa Keo là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ, gắn chặt với Thiền sư Không Lộ và lịch sử của cộng đồng làng Keo. Từ tục kéo kén, dựng phướn đến cuộc rước “xuất á, nhập á”, bơi thuyền cò cốc và chèo cạn chầu Thánh, lễ hội bảo lưu nhiều lớp phong tục và diễn xướng độc đáo. Với những giá trị tiêu biểu đó, Lễ hội chùa Keo được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 217/QĐ-BVHTTDL ngày 23/01/2017.

Nguồn ảnh: Sưu tầm

Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Lễ hội chùa Keo

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)