Thông tin chung
Có lẽ, Nguyễn Trường Tộ là người Việt Nam đầu tiên đọc Tân thư và đem về phổ biến trong nước. Bấy giờ, trào lưu tư tưởng mới của các nước châu Âu đã thâm nhập vào Nhật Bản – nhất là dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng (1868) – và Trung Quốc – đứng đầu là các nhà tư tưởng Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn v.v… – từ đó nó dội vào Việt Nam thông qua con đường sách báo mà các nhà nho gọi là Tân thư. Trước cái họa mất nước vì hệ tư tưởng phong kiến trong nước đã lỗi thời, vì khoa học kỹ thuật tiến bộ của các thế lực xâm lược phương Tây, các sĩ phu yêu nước của ta nhanh chóng tiếp thu Tân thư nhằm trang bị tư tưởng mới để cứu nước. Từ đây, những tư tưởng mới của triết học Ánh sáng – thế kỷ XVIII của nước Pháp – với Lư Thoa (J.J. Rousseau), Mạnh Đức Thư Cưu (Montesquieu)… và các tư tưởng của các nhà triết học Âu – Mỹ dần dần được các nhà nho tiếp thu – dĩ nhiên là qua bản chữ Hán. Tân thư được du nhập vào nước ta bằng nhiều con đường. Chẳng hạn, do người Việt Nam đi nước ngoài đem về – như trường hợp Nguyễn Trường Tộ – hoặc qua đường buôn của những Hoa kiều tại Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng… Như chúng ta đã biết, từ năm 1866, Nguyễn Trường Tộ dâng những bản điều trần đầu tiên lên vua Tự Đức là thông qua Thượng thư bộ Binh Trần Tiễn Thành. Sau đó, ông được nhà vua triệu về Huế. Dĩ nhiên trong hành lý của ông có đem theo những tác phẩm Tân thư như Dinh hoàn chí lược, Thiên hạ quân quốc lợi bệnh thư, Bác vật tân biên, Hàng hải kim châm.… Nhưng chuyến về kinh đô không mở ra một triển vọng sáng sủa nào cả, bởi lẽ sau đó triều đình không sử dụng Nguyễn Trường Tộ, “nghi ngờ kẻ sĩ trong thiên hạ”(Di thảo số 15 viết ngày 15/6/1866) vì vậy ông mới bỏ về Nghệ An. Sau khi rời khỏi Huế, những tác phẩm Tân thư này cũng như những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ được con rể của Trần Tiễn Thành tiếp thu.
Thân thế
Người đó là Nguyễn Lộ Trạch, hiệu Kỳ Am.
Ông sinh ngày 15/2/1853 tại Cam Lộ (Quảng Trị), quê ở làng Kế Môn, huyện Phong Điền, phủ Thừa Thiên (nay là Kế Môn, xã Điền Môn, tỉnh Thừa Thiên – Huế), trưởng nam của ông Nguyễn Quốc Oai và bà Phạm Thị Hài. Ngay từ nhỏ, ông nổi tiếng là người học giỏi, đọc nhiều sách, hiểu rộng nhưng không lấy cử nghiệp làm mục đích. Sinh trưởng trong gia đình mà cha đậu Tiến sĩ năm 1843, từng giữ chức Thượng thư bộ Hình nên Nguyễn Lộ Trạch có nhiều thuận lợi trên đường tiến thân. Nhưng ông không lựa chọn con đường thông thường thời bấy giờ là vùi đầu học tầm chương trích cú, học như cuốc kêu mùa hạ rồi sau đó náo nức đi thi, nếu đậu thì ra làm quan; nếu rớt thì trở về tiếp tục sôi kinh nấu sử! Do đó, ông chọn thái độ sống là mở mang kiến thức bằng cách đọc Tân thư, các sách về khoa học thực dụng, còn những lúc nhàn rỗi thì ngao du đây đó với thái độ ngông nghênh, khinh bạt. Có lẽ vì vậy mà mọi người gọi ông là “cậu ấm tàng tàng”.
Cuộc đời
Năm 20 tuổi ông lập gia đình với bà Trần Thị Nhàn – con gái của Thượng thư bộ Binh Trần Tiễn Thành. Đây cũng là năm tên đại úy Ngạc Nhi (Francis Garnier) lấy cớ quan ta ngăn cản việc buôn bán của con buôn Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) nên ngang ngược nổ súng tấn công thành Hà Nội. Lão tướng Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, con trai là phò mã Nguyễn Lâm tử trận. Giặc xông vào thành bắt Nguyễn Tri Phương đem xuống tàu, ông kiên quyết không chịu để cho chúng cứu chữa và nhịn ăn mà chết. Sau đó, nhà Nguyễn đã ký với giặc Hòa ước Giáp Tuất (1874) trong đó có nhiều điều khoản quan trọng như nước Pháp công nhận quyền độc lập của nước Nam, ta không phải thần phục nước nào nữa và khi nào vua nước ta có cần đến việc đánh dẹp giặc giã thì Pháp sẽ “ra tay nghĩa hiệp” giúp đỡ vô điều kiện, nhưng phải nhường đứt sáu tỉnh Nam Kỳ cho chúng v.v… Dù vậy, vua nhà Nguyễn vẫn không dứt khoát làm theo Hòa ước – vừa tin vào thiện chí của Pháp công nhận mình là một nước độc lập, nhưng một mặt lại ngấm ngầm tiếp tục triều cống nước Tàu như bao đời nay để phòng khi hữu sự thì họ sang giúp mình. Nhưng hỡi ôi! Lúc ấy nước Tàu cũng đang rệu rã trước thế lực hùng mạnh của phương Tây. Chính vì tin ở thiện chí hòa hiếu của giặc Pháp nên trong kỳ thi Hội năm 1877 mới có đề thi “Sứ Pháp vào chầu, hòa hiếu hợp lễ”! Mặc dù là người ưu thời mẫn thế, luôn quan tâm đến số phận của dân tộc, đất nước nhưng Nguyễn Lộ Trạch vẫn không đi thi vì ông chứng kiến “những điều trông thấy mà đau lòng”, biết rằng giặc Pháp như “con hổ còn đang rình chưa thôi mà đã vội tự mãn”. Năm đó, vừa tròn 25 xuân, ông dâng lên cho vua Tự Đức bản điều trần đầu tiên: Thời vụ sách thượng.
Sau khi phân tích tình hình đôi bên, Nguyễn Lộ Trạch cho rằng không có cách nào hơn là hòa, “nhưng hòa làm quyền nghi nhất thời thì có thể được, chứ nếu trông làm kế lâu dài thì tôi đây dầu rất ngu dại, cũng biết là không nên. Vào những năm xa lắc xa lơ mà các giáo sĩ và thuốc phiện đã ngấm ngầm xâm nhập, lôi kéo dụ dỗ dân ta, thế thì cái âm mưu xâm lược vốn đã ấp ủ từ mấy chục năm, hằng trăm năm về trước, mà việc lấy sáu tỉnh Nam Kỳ chẳng qua là đến ngày nay mới thu được hiệu quả chút ít, thế mà bảo là chúng đã thỏa mãn! Huống hồ bọn giặc lòng tham không đáy, khó mong chúng giữ được tín nghĩa, hôm nay đòi tiền của, ngày mai giấu sẳn súng đạn, hễ hơi không vừa ý là chúng bới lông tìm vết để gây chuyện binh đao”. Nay đọc lại, chúng ta phải thừa nhận là Nguyễn Lộ Trạch có cái nhìn khá sáng suốt về bản chất của giặc Pháp lúc bấy giờ. Trong bản điều trần này, chủ yếu ông phân tích về việc vận dụng ba điều mà theo ông không thể tách rời: Thủ, chiến, hòa. Chẳng hạn về thủ ông viết: “Ngụy Nguyên có nói: “Giữ ngoài biển không bằng giữ cửa biển, giữ cửa biển không bằng giữ trong sông”. Ngược lại tôi cho rằng: giữ trong sông không bằng giữ cửa biển, giữ cửa biển lại không bằng giữ ngoài biển. Ngay cả Trung Quốc dốc toàn lực để thủ ở trong sông đã là một kế sai, huống chi nước ta biển lại như biên giới, mối lợi tàu buôn vận chuyển đều nhờ phía biển. Nếu bỏ biển không giữ thì còn làng mạc đâu để mà làm “vườn không, nhà trống”, còn có thành trì đâu mà cố thủ. Lúc ấy đồng bằng phì nhiêu sẽ trở thành thừa, mà lui vào chốn rừng thiêng nước độc, thì dầu có hiểm trở cũng chỉ là vùng sỏi đá khô cằn, trông cậy vào đâu để dựng nước được. Cho nên nếu bỏ mặt biển mà nói thủ thì thật sẽ không có chỗ nào có thể thủ được”.
Không như quan niệm của người khác chỉ biết hòa và thủ, Nguyễn Lộ Trạch nhấn mạnh là cần phải chiến. Muốn chiến thì trước hết phải làm cho nước giàu dân mạnh: “Về cách chống giặc, nói rõ ra từng mục thì rất nhiều, nhưng điều quan trọng nhất chẳng qua chỉ một tiếng “tự trị” mà thôi. Xét những việc đã qua, tất khó nói chiến, nói thủ, nhưng nếu ta hiểu được cái bí quyết làm cho giàu mạnh thì cuộc sống của người dân ngày một khá, biên cương ngày một vững, và mưu kế để chế ngự giặc mới có cách thực hiện được”. Sách lược cứu nước của Nguyễn Lộ Trạch sáng suốt, có tầm nhìn xa, nhưng rất tiếc không được triều đình quan tâm. Chuyện phòng thủ mà ông nêu ra táo bạo: “Việc thủ ngoài biển là kế sách trọng yếu ngày nay, mà muốn thủ được ngoài biển thì ngoài tàu và pháo ra, thật không có kế gì khác”. Nay ta ngẫm lại thì thấy khá chính xác: ngày 1/9/1858 thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng; sau đó, ngày 2/8/1964 đế quốc Mỹ gây ra sự kiện Bắc Bộ; kế đến tháng 2/1965 lần đầu tiên chúng xua quân lính thủy đánh bộ vào chiến trường Việt Nam v.v… cũng đều bắt đầu từ vùng biển nước ta. Cho dù, bản Thời vụ sách thượng không được triều đình nhà Nguyễn quan tâm đến, nhưng nó cũng gây được tiếng vang lớn. Phải chăng đây cũng là một trong những lý do mà Viện Cơ mật của triều đình nhà Nguyễn cử ông sang Hương Cảng học kỹ thuật vào năm 1882?. Sau khi quan chấp chính vời đến học những việc nên làm, ông viết lá thư trình bày quan điểm của mình. Đọc xong, phe: “Nói sao quá cao!”. Trong đó, ông cho rằng khoa học kỹ thuật cũng chưa đủ sức ngăn chặn “bọn mọi rợ” mà cốt yếu là phải tự cường tự lực. “Nếu ta biết lo tự cường tự trị đã, rồi sau tìm những nước thù địch với Pháp mà giao thiệp để dò xét những chỗ yếu kém của chúng” và “Do ta không chú trọng việc giao thiệp xa, cho nên tình hình không rõ, khó bề đưa lễ vật làm quen và phiên dịch, vì thế bọn Pháp mới có thể thực hiện được ngón xảo quyệt của chúng. Nếu có được người trung nghĩa, hăng hái dám quên mình, khiến đi xa dò xét hành tung của Pháp, thì âm mưu của chúng không cần phải đánh cũng tự thất bại vậy”. Về phía mình, ông xin đi Hương Cảng “học tiếng nói, nắm tình hình” để bí mật giao thiệp với người Anh, người Phổ rồi sau đó đến kinh đô những nước nầy thực hiện sứ mệnh triều dình giao phó. Rất tiếc chuyến đi này không được thực hiện.
Không nản chí, cũng trong năm 1882, Nguyễn Lộ Trạch tiếp tục dâng lên bản điều trần nữa là Thời vụ sách hạ. Đây cũng là năm mà giặc Pháp tấn công thành Hà Nội lần thứ hai. Đại tá Henri Rivière tấn công thành bằng vũ lực tân tiến nhất, không đối đầu nổi Tổng đốc Hoàng Diệu thắt cổ tuẫn tiết. Trong Thời vụ sách hạ, Nguyễn Lộ Trạch trình bày 5 vấn đề lớn bằng cái nhìn khoa học và sáng suốt. Một là dựa vào địa thế hiểm yếu để giữ vững gốc nước. “Nước ta dựng đô ở Phú Xuân, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, thực đáng là chốn “kho trời” và là cơ nghiệp đế vương muôn đời vậy. Nhưng từ khi người Tây xâm phạm cửa Thuận đến nay, việc phòng thủ cửa biển trở nên nguy cấp, chỉ lo không yên. Đó là do sự biến đổi mỗi ngày mỗi khác mà cũng do địa thế bị hạn chế vậy.
Bàn về địa thế, ắt phải là: tiến có thể làm nên chuyện, mà lui cũng có thể tự giữ vững. Cho nên người xưa dựng kinh đô từng nói: địa thế bốn mặt có quan ải; quân lính trăm vạn; đồng ruộng phì nhiêu ngàn dặm, trong ba điều ấy mà thiếu một thì không thể được. Có ba điều ấy ở nước ta, tôi trộm nghĩ chỉ có tỉnh Thanh Hóa”. Nhà nghiên cứu Mai Cao Chương và Đoàn Lê Giang có lý khi nhận định: “Có thể nói nước cờ Thanh Hóa nếu mà thực hiện được thì việc thất thủ kinh thành không đến nỗi nhanh chóng như đã xẩy ra và căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến không dễ bị phá vỡ như Sơn phòng Quảng Trị sau này”. Thứ hai là tích lũy gạo tiền để đủ có lương thực – mà theo ông biện pháp tích cực nhất là mở đồn điền. Thứ ba là huấn luyện binh lính để đủ có binh lực. Về quân số thì ông chủ trương cần tinh nhuệ hơn là số nhiều, “Tất cả quân lính già yếu thì thải hồi hết”. Còn về vũ khí thì ông đề nghị: ”Hãy bỏ hết súng kiểu cũ, đổi sang dùng súng kiểu mới của phương Tây, giúp mang nhẹ bắn nhanh, tiện lợi cho việc hành quân đường xa. Nếu nói súng ấy không phải sản xuất trong nước, mua sắm khó khăn, để rồi cứ theo thói quen cũ thì cũng sẽ cẩu thả qua loa cho xong chuyện mà thôi, làm sao mong có được quân đội hùng mạnh”. Thứ tư là học kỹ thuật để chống giặc. Việc cử người đi học thì không chỉ chọn con em quan đại thần mà ai đã đậu cử nhân, tú tài thì cũng được chọn miễn sao đó là người anh tài, tuấn kiệt. Những người đi học được thưởng phạt nghiêm minh để khuyến khích học chăm học thành tài. Thứ năm là ngoại giao rộng rãi để nhờ ủng hộ. Ông nói rất đúng: “Người Pháp cấm ta ngoại giao, chẳng qua vì sợ ta mượn viện binh mạnh để chống lại chúng, cho nên ta mới làm trước để phòng những chuyện bất trắc mà thôi. Nhưng chúng lo tính đến thế, mà mưu tính của ta rốt cuộc không được như thế là tại sao?” và ông cũng cho rằng: “Ta có thể ngoại giao rất hậu với nước nào đó, nhưng chưa chắc họ dám vượt trùng dương để cứu viện ta. Nhưng xem xét hiện tình các nước phương Tây, thì lớn nhỏ ràng buộc nhau, mạnh yếu khống chế nhau, như cái lối “hợp tung” thời Chiến Quốc vậy. Tình ý ngờ vực nhau, họ thường dò xét chỗ hở của nước láng giềng. Nếu ta dùng ngọc lụa, thường xuyên qua lại, tiếng tăm truyền ra các nước, thì không phải làm cái việc xin quân ở sân nướcTần, họ cũng không dám gây hấn với viện binh mạnh mà khinh suất hủy bỏ hòa ước với ta”. Chủ trương của ông là lợi dụng mâu thuẫn các nước phương Tây để chúng kiềm chế lẫn nhau mà có lợi cho ta. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh trong vấn đề ngoại giao hay nhờ ngoại viện thì “trước hết phải biết tự lập. Cái gọi là giúp đỡ chỉ đặc biệt dùng bổ sung vào chỗ sức ta chưa đủ mà thôi, chứ không phải hoàn toàn dựa vào sức người để giữ nước”. Nhưng rồi bản điều trần này cũng như các bản điều trần khác của Nguyễn Trường Tộ và của các nhà cải cách khác – cũng không được triều đình nhà Nguyễn quan tâm đến. Chỉ hai năm sau, năm 1884, Hòa ước Patenôtre được ký kết công nhận cuộc bảo hộ của nước Pháp và chia nước ta làm ba kỳ: Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Sử gia Trần Trọng Kim ngậm ngùi hạ bút: “Mỗi kỳ có một chính sách riêng, luật lệ riêng như ba nước vậy. Thậm chí lúc đầu người kỳ này đi sang kỳ kia phải xin giấy thông hành mới đi được. Kỳ có nghĩa là xứ, là khu trong một nước, chứ không có nghĩa là nước. Một nước mà tam phân ngũ liệt ra như thế, thật là một mối đau lòng cho người Việt Nam là dân một nước đã có một lịch sử vẻ vang hàng mấy ngàn năm”.
Tình hình ngày một rối ren. Ngày 19/7/1883 vua Tự Đức mất. Dục Đức mới kế vị đúng ba ngày thì bị phế truất. Hiệp Hòa lên ngôi chưa ngồi ấm chỗ thì bị bức tử. Kiến Phúc lên ngôi chưa đầy một năm thì qua đời một cách khó hiểu. Ngay cả cha vợ của Nguyễn Lộ Trạch cũng trở thành nạn nhân trong vụ tranh chấp quyền lực tàn khốc này. Năm 1883, Trần Tiễn Thành không đồng ý việc Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế lập vua nối ngôi sau khi Tự Đức mất nên bị hai người này sai Hường Hàng, Hường Chức, Hường Tề ám sát tại nhà riêng ở Gia Hội (Huế). Nguyễn Lộ Trạch ngày một đau buồn, thất vọng.
Trong bóng nắng tàn tạ cuối ngày thu của năm 1884, ông ngồi một mình buồn bã giở rương cũ, đem những bản điều trần đóng lại thành một tập, đặt tên là Quỳ ưu lục. Tại sao lại đặt tên như vậy? Thiết tưởng, chúng ta cũng cần biết qua điển tích này để thấu rõ tấm lòng của Nguyễn Lộ Trạch đối với vận mệnh của đất nước. Trong truyện Liệt Nữ có chép rằng ở ấp Tất Thất nước Lỗ, có người con gái chưa chồng, dựa cột nhà than thở, lo cho vua nước Lỗ đã già mà thái tử còn nhỏ. Người đàn bà hàng xóm bảo: “Đó là việc của vua quan, can gì đến mình mà lo?”. Người con gái trả lời: “Không phải vậy đâu! Năm trước có con ngựa của người khách chạy vào vườn nhà ta, giày xéo cả rau quỳ, khiến ta trọn năm không có rau quỳ mà ăn. Vậy nếu như vua tôi nước Lỗ bị nhục thì bọn phụ nữ ta tránh đâu khỏi điều nhục ấy”. Cuối tập Quỳ ưu lục, ông viết những câu ứa nước mắt: “Khêu đèn lên đọc, vỗ sách than dài: Than ôi! Ta sao nhọc nhiều lời, không được dùng đến. Mắt thấy buổi khó, kế chẳng ai làm, mà sự đời lại đổi thay như ta tiên đoán. Thế thì đời ta không mảy may bổ ích, có tội với đời, chẳng nhiều lắm sao?”. Thời gian này, Nguyễn Lộ Trạch hầu như sống ẩn dật, chỉ ngao du với những người đồng chí hướng với mình như Nguyễn Thượng Hiền, Phạm Phú Đường (con Phạm Phú Thứ), Trương Gia Mô… Đầu năm 1892, nhân khoa thi Đình có ra đề thi hỏi về tình hình thế giới, dù không đi thi, nhưng ông cũng viết bài Thiên hạ đại thế luận nhằm cảnh tỉnh sĩ phu trong nước. “Sự mất còn của quốc gia là do chính trị – giáo dục, chứ không phải do mạnh – yếu, lớn – nhỏ; giáo dục – chính trị được sửa sang, cất cử thì dầu nhỏ yếu cũng chưa thể mất được” và “Xem cái lý, xét cái thế, kịp thời sửa sang chính trị – giáo dục để không phụ lòng mong mỏi của dân. Đó là điều hy vọng ở những bậc quân tử tương lai trong nước”. Có thể nói, quan điểm này chưa hẳn các sĩ phu thời bấy giờ ý thức được. Nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng không ngớt lời ca ngợi là: “Bài đại luận tình lý xác thực, chu đáo mà văn thể cũng hùng kiện, không đáng gọi là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu nước ta sao?”. Còn chí sĩ Phan Bội Châu khi được Nguyễn Thượng Hiền cho xem bài này đã phát biểu: “Tôi đọc tập Thiên hạ đại thế luận và bắt đầu hiểu biết ít nhiều mầm mống tư tưởng hiện đại”.
Qua đời
Năm 1895, Nguyễn Lộ Trạch đi vào Nam với dự định cùng bạn tâm giao Trương Gia Mô tìm đường xuất dương. Nhưng kế hoạch này chưa kịp thực hiện thì ông qua đời ngày 17/2/1898 tại Bình Định. Nghĩ đến cuộc đời ông, chúng ta hẳn bùi ngùi thương tiếc cho một số phận sinh bất phùng thời. Nói như chí sĩ Nguyễn Thượng Hiền thì đó là “Mối hận ngàn năm ngọn gió thu”. Những câu thơ của ông da diết buồn như một một sự tiên tri cho thân phận của mình (Mai Cao Chương dịch):
Binh thư lặng lẽ đọc đêm dài,
Tay tuốt Long Tuyền tựa đá mài.
Ải Bắc ngựa Hồ khôn thể vượt,
Cành Nam chim Việt nỡ nào rời.
Ngang tàng ẩn dật khe mây trắng,
Già cả long đong tháng năm trôi.
Bạch thủy giọng ca đầy phẫn khích,
Trên song mưa lạnh mịt mù rơi.
(Nỗi lòng mùa thu – bài VIII)
“Trong bóng đêm của xã hội phong kiến Việt Nam mạt kỳ, Nguyễn Trường Tộ là người nổ phát đại bác đầu tiên vào thành trì của những định kiến và lòng tự tôn mù quáng của xã hội bấy giờ. Sau khi Nguyễn Trường Tộ chết, người tiếp tục con đường cải cách của ông, để cho tư tưởng cải cách phát triển thành một dòng liên tục – người ấy là Nguyễn Lộ Trạch”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân khẳng định: “Lý tưởng và mục đích không thay đổi, kẻ sĩ Nguyễn Lộ Trạch vẫn tiến lên hàng đầu sĩ phu và quốc dân. Cùng tiến lên với ông, người ta thấy có Nguyễn Thượng Hiền, Phạm Phú Đường, nhưng không có một người nào có cái nhìn sâu sắc, thực tế bao quát bằng ông. Vì ông không thi cử, tuy ai cũng biết ông có tài học hơn đời. Người ta đã biết văn chương của ông qua các bản điều trần. Chúng ta không nên quên các văn phẩm của ông được nhiều thức giả thời ấy rặt văn khoa bảng truyền tụng. Chính ở điểm này mà người ta càng thêm phục cái chí cao cả của cậu ấm tàng tàng”. Tấm lòng yêu nước của ông muôn đời sau vẫn còn sáng như vầng nhật nguyệt.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 7 – Những nhà cải cách Việt Nam, Nxb Trẻ.