Nguyễn Trường Tộ (1828 – 1871)

Nguyễn Trường Tộ (1828 – 1871)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Một lần, cách đây trên một trăm năm, thầy trò làng Bùi Chu nhân tiết xuân dẫn nhau lên chơi núi Lô Sơn. Thầy trò cùng nhau xướng họa ngâm vịnh rất tâm đắc. Chỉ riêng có một cậu học trò lang thang đây đó, tay cầm quyển sổ nhỏ, mỗi khi phát hiện điều gì hoặc quan sát thấy điều gì lạ thì cặm cụi ghi ghi chép chép. Xế chiều, cậu đến chỗ thầy giáo lễ phép hỏi:

– Bẩm thầy, núi Lô Sơn này cao mấy thước, diện tích mấy tầm, cách Song Ngư mấy trượng?

Nghe câu hỏi bất ngờ như thế, thầy giáo lắc đầu, không giải đáp nổi. Các bạn học cũng chịu chết, không ai trả lời được. Buổi đi chơi núi dù có vui vẻ bao nhiêu, nhưng những câu hỏi trên không giải đáp được cũng khiến cậu học trò buồn xo. Bóng hoàng hoàng nhập nhoạng buông xuống, trên đường về cậu thầm nghĩ:

– Đi chơi núi mà không biết núi cao bao nhiêu thì học được cái gì?

Thân thế

Đây là một con người mà từ nhỏ đã chú ý đến đến lối học suy luận, phán đoán, quan sát, phê bình và ghét lối học từ chương của khoa cử đương thời. Ông tên là Nguyễn Trường Tộ, sinh năm 1830 tại làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên (Nghệ Tĩnh) trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa, dù nghèo nhưng hiếu học. Những năm tháng tuổi thơ, ông học chữ Hán với thân phụ là cụ Nguyễn Quốc Thư – làm nghề thầy lang bốc thuốc. Năm 17 tuổi, ông học với thầy Tú Giai ở trong làng. Sau đó, ông theo học với nhiều thầy khác. Một hôm quan huyện xuống thăm trường, ra đề thi cho học trò làm bài phú:

“Xa giá Tây Đô Trường An phú” – nói về việc xe giá của nhà vua đi đến những nơi này. Nguyễn Trường Tộ vừa đặt bút xuống đã viết thành bài ngay. Trong lúc các bạn đồng môn còn cắn bút suy nghĩ hoặc đang hý hoáy viết thì quan huyện đã đọc xong bài làm của ông và tấm tắc khen ngợi mãi:

– Bài làm tốt lắm! Xứng đáng ưu hạng!

Cuộc đời

Dù được khen ngợi như thế, nhưng Nguyễn Trường Tộ vẫn không thích thú gì cả, vì ông biết quá rõ tai hại của lối học tầm chương trích cú – thí sinh học thuộc lòng như vẹt những điển tích, điển cố đâu đâu tận bên Tàu chẳng hữu ích gì cho khoa học thực hành cả. Trong lúc đó ông lại tự ý thức tìm cho mình một phương pháp học tập khác hẳn người đương thời – như sau này ông cho biết:

– Việc học không môn nào không để ý tới, cái cao của thiên văn, cái sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo dị nghề, các môn cách trí, thuật số, không môn nào tôi không khảo cứu, nhất là để ý nghiên cứu thế sự dọc ngang hợp tan trong thiên hạ. Thường những người học được như vậy hay dùng đó làm phương tiện cầu vinh, để tiến thân, còn tôi thì dùng để đền đáp lại cái mà trời đã cho tôi học được, chứ không mong kiếm chác một đồng tiền nào (Bài trần tình ngày 13/5/1863).

Sức học của ông ngày càng sâu rộng và được thiên hạ khen là “Trạng Tộ”. Với quan niệm về cách học như thế nên Nguyễn Trường Tộ không dấn thân vào con đường khoa cử. Sau khi thôi học, ông mở trường dạy học ở nhà. Năm 1858, lúc ông 28 xuân, thực dân Pháp đã ngang nhiên nổ súng tấn công Đà Nẵng. Vận mệnh dân tộc đang đứng trước nguy cơ xâm lược của phương Tây. Nghe tiếng ông, một cố đạo người Pháp là Gauthier (tức Cố Hậu) đã mời ông dạy chữ Hán cho Nhà Chung xã Đoài, đồng thời dạy lại cho ông chữ Pháp cùng các khoa kỹ nghệ.

Nhận thấy Nguyễn Trường Tộ là người thông minh xuất chúng, cha đạo này đã giúp đỡ ông đi tham quan các nước Singapore, Hương Cảng, rồi qua Mã Lai, Pháp… Thông thường trong những chuyến đi như thế, người ta chỉ chú tâm chiêm ngưỡng danh lam thắng cảnh, nhưng đối với Nguyễn Trường Tộ thì khác. Đi đến nơi đâu ông cũng tìm hiểu kỹ thuật tiến bộ của các nước ấy và học hỏi ghi chép không ngừng tay. Có lần đến Hương Cảng, ông được gặp một giám mục người Anh. Hai người trò chuyện rất tâm đắc. Lúc chia tay, vì mến tài ông, giám mục đã tặng cho ông nhiều quà cáp. Thế nhưng ông từ chối chỉ xin được tặng những bộ sách về thực hành kỹ nghệ. Trong chuyến đi gần ba năm, có thể nói, Nguyễn Trường Tộ đã tận dụng thời gian để học, không có điều gì mới mẻ mà ông không ghi chép và tìm hiểu chu đáo. Ông ước mơ sau này về nước, với những hiểu biết của mình đã học ở phương Tây có thể đem ra thực hành nhằm canh tân đất nước.

Đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ về đến Sài Gòn, lúc này thực dân Pháp đã đánh chiếm thành Gia Định. Ông làm phiên dịch giữa triều đình nhà Nguyễn và giặc, với mong ước góp phần trong việc giảng hòa. Tâm trạng của ông trong thời gian này mấy ai chia sẻ? Ông cho biết: “Mỗi khi thấy các quan của triều đình bị nhục, tôi coi họ như cha mẹ mình mà âm thầm tỏ lòng cung kính, an ủi, tìm cách sắp xếp cư xử, để tránh sự ngược đãi của kẻ địch. Nhưng tôi cũng phải khéo léo không để lộ dấu tích, sợ kẻ địch sinh nghi. Việc này xin hỏi quan lãnh binh thì biết rõ. Nếu như người khác ở địa vị ấy sẽ hoạnh họe cầu lập công, thêm dầu thêm lửa, xui địch giết hại, để thỏa mãn thù hằn. Còn tôi, tôi vẫn nghĩ tới luân thường đạo lý, không dám ôm lòng phẫn nộ, để tổn thương danh phận” (Bài trần tình ngày 13/5/1863). Sau khi không đạt được mục đích “làm trung gian điều hòa hai bên, để giảm bớt sự hà khắc gay gắt của kẻ địch, để cứu giúp nhân dân khỏi vùng nước lửa”, ông thôi không phiên dịch nữa, mặc dù nhà cầm quyền Pháp nhiều lần năn nỉ – vì thời bấy giờ một người vừa tinh thông Hán văn lẫn Pháp văn như ông vẫn còn hiếm hoi. Ôngdồn tâm huyết để thảo kế hoạch giúp nước, cho đến tháng 5/1863, ông đã thảo xong những kế hoạch hoàn chỉnh: Tế cấp luận, Giáo môn luận và Thiên hạ phân hợp đại thế luận – nhằm canh tân đất nước dâng lên triều đình với mong ước: “Xưa Hàn Dũ có nói: “Biết mà không nói là bất nhân; nói mà không nói hết là bất nghĩa”. Vì vậy tôi tuy thân giang hồ mà lòng vẫn ở nơi đế khuyết. Thật không nỡ lòng thấy đất nước bị chia cắt, trăm họ bị lìa tan, cho nên không nghĩ mình ở địa vị thấp hèn, dám cả gan nói ra. Nếu như lời nói của tôi mà gian trá hoặc có ai xui khiến tôi nói thì tôi xin nạp mình trước cửa đế đô, để làm chứng sau này”(Thiên hạ đại thế luận ngày 3/4/1863).

Trong khi chờ hồi âm của triều đình, ông đã giúp xây cất Tu viện dòng thánh Phaolô ở Rue de la Citadelle (nay số 4 đường Tôn Đức Thắng). Công cuộc xây dựng bắt đầu từ tháng 9/1862 và hoàn tất vào ngày 18/7/1864. Đây là công trình kiên cố có tầm cỡ nổi lên giữa Sài Gòn vào năm 1864, vào thời điểm mà các cơ quan của Pháp chỉ mới làm bằng gỗ tạm bợ, ngay cả Dinh Toàn quyền mãi đến tháng 3/1888 mới đặt viên đá xây dựng. Theo tài liệu đáng tin cậy của Linh mục Trương Bá Cần công bố trong tác phẩm Nguyễn Trường Tộ – con người và di thảo (NXB Thành phố Hồ Chí Minh – 1988) thì Ký sự dòng Thánh Phaolô còn ghi những dòng trân trọng giúp chúng ta hiểu thêm tài năng của ông: Nhà Dòng trao đồ án tu viện cho kiến trúc sư trẻ tuổi, nhưng ông hăng hái quá độ, cứ làm theo nghệ thuật của mình, chứ không xem túi tiền của chúng tôi: ở nhà nguyện thay vì làm mái vòm đơn sơ như trong đồ án, ông lại làm thêm hai cột, các trang trí, các bức họa đều do ông làm, cái tháp chuông cũng vậy, mặc dầu chúng tôi định hoãn việc làm tháp chuông, vì chi phí đã lên khá nhiều. Bên tu viện ông lại trang trí thêm cho đẹp mắt và dầu nói thế nào, ông cũng không chịu làm một cái kiểu đơn sơ như vẽ trong đồ án” và “Ông lại rất thông minh, linh hoạt và vô vị lợi đến mức tuyệt đối, vì ông không nhận một đồng lương nào, chỉ ăn cơm không và tiêu vặt chút đỉnh. Không có ông, chúng tôi không bao giờ có thể xây dựng được nào tu viện, nào nguyện đường, bởi vì thợ không quen việc, lại không có ai chỉ huy, đến nỗi chính phủ cũng không xây cất được tòa nhà nào”. Công trình hoàn hảo này đã khiến chính người Pháp cũng phải khâm phục và không tiếc lời khen ngợi. Điều này chứng tỏ được tài nghệ kiến trúc của ông. Một trung úy hải quân Pháp là Richard đã viết trong sách của mình những dòng ca ngợi: “Chúng ta thích thú đi thăm tu viện xinh xắn của dòng Thánh Phaolô, với ngôi nhà nguyện nhỏ, nhưng tuyệt diệu, trên cao là một tháp chuông duyên dáng nổi bật giữa tất cả vùng này” và khẳng định: “Tu viện giống lối kiến trúc của nước Ý, pha lẫn những trang trí ngẫu hứng của người Việt Nam”.

Nhưng tài hoa kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ, có lẽ cũng nên nhắc đến công trình xây dựng Nhà Chung ở Xã Đoài (địa phận Vinh). Đây là tòa nhà hình chữ nhật với lối kiến trúc cổ điển phương Tây, chi phí là 19.545 quan. Và công trình thủy lợi có tầm cỡ nhất của ông là chỉ huy đào kênh Sắt (nay gọi là kênh Gai), nối liền sông Cấm cũng gọi là sông Cửa Lò với sông Vinh – một phụ lưu của sông Lam. Nguyễn Trường Tộ cho biết: “Đối với những kênh nào có thể đào vét được thì tiền nhân đã đào vét và hoàn thành cả rồi. Duy chỉ có một Thiết Cảng này Triều đình trước đã tốn không biết bao nhiêu tâm lực vẫn không làm xong. Đó cũng vì tiền bạc thì ít mà công việc thì quá khó” (Di thảo số 16). Năm 1866, triều đình đã giao “công việc quá khó” này cho Tổng đốc Nghệ An là Hoàng Tá Viêm. Ông ta liền nghĩ đến người có thể giúp mình hoàn thành nhiệm vụ là Nguyễn Trường Tộ và ghi thư rằng:

– Nhận được phê chuẩn đào Thiết Cảng thật là tiện lợi công tư, nhưng tốn nhiều công của, làm việc này phải hết sức công phu mới được. Tôi ngày đêm suy nghĩ rằng phải có bậc hiểu biết hơn người mới có thể giảm bớt phí tổn và thành công, tài năng của ngài chắc chắn có thể giúp cho công việc này được. Và đó cũng là thiện nguyện của ngài muốn tạo một phúc lợi lớn cho nhân dân tỉnh hạt. Nay tay thợ đã sẵn sàng, như ngài có lòng vì dân vì nước, xin hãy đến nơi xem xét địa hình, chỉ vẽ những điều tiện lợi, khả dĩ bớt công, giảm phí giúp cho nhân dân đỡ được phần nào, mà không phụ lòng mong mỏi của nhân dân vậy

Nhận được thư trên, dù đang đau chân, nhưng ông vẫn ngồi trên cáng đến tận nơi quan sát địa hình, địa thế. Ông đã dành nhiều thời gian khảo sát, rồi lập bản vẽ chi tiết… Xem xét xong, ông cho lấy cột tre cắm tiêu theo đường thẳng, có một nơi nhiều đá lớn vì không có cốt mìn để phá nên ông cho đào tránh đi. Từ sự hướng dẫn của ông, dân phu cứ thế mà đào, một tháng sau thì hoàn thành. Nhân dịp này, ông có làm bài thơ mừng kênh Sắt mà ngày nay vẫn có người quen gọi là kênh Nguyễn Trường Tộ.

Tuy nhiên, công đức lớn nhất của Nguyễn Trường Tộ không ai phủ nhận được là cách đây trên 130 năm ông đã viết những bản điều trần nhằm canh tân đất nước. Đó là những suy nghĩ tiến bộ của nhân vật lẫy lừng dưới thời Tự Đức. “Ngày nay đọc lại 58 văn bản ông để lại đúc kết tinh hoa suy nghĩ cả cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy năng động của ông, người đời sau xúc động thấy sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm là tấm lòng yêu nước thương dân vô hạn. Khi được tin dùng cũng như khi bị bỏ rơi, lúc bình thường cũng như lúc đau yếu, thậm chí trước lúc mất, lúc nào ông cũng lo vận nước, cũng đề đạt với triều đình từ những ý kiến lớn đến những biện pháp cụ thể nhằm làm cho dân giàu nước mạnh bằng canh tân, hiện đại hóa đất nước”(1). Bây giờ, đọc lại các bản điều trần này chúng ta vẫn còn kinh ngạc trước bộ óc siêu phàm của một trí thức lúc đó. Vốn là người có bản chất của một nhà khoa học, lại được đi nhiều nơi, tận mắt chứng kiến sự phát triển khoa học của các nước, Nguyễn Trường Tộ đã nhanh chóng tiếp thu và có những sáng kiến cải tiến nhiều công việc của đất nước. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng cho biết: “600 trang đánh máy, khổ pelure dài, lối 300.000 chữ, trong đó 4/5 là di thảo”.

Con số khô khan ấy nói với ta rất nhiều điều về trí thông tuệ của một nhà canh tân, nhà tư tưởng ở thế kỷ XIX. Chương trình cải cách của ông bao gồm nhiều lãnh vực:

Về ngoại giao: theo ông là nên hòa hoãn với Pháp, “Hòa thì không cưỡng lại ý trời, dưới có thể làm dân khỏi khổ, chấm dứt được sự dòm ngó của bọn gian nghịch, ngăn chặn được sự tranh giành của nước ngoài, thật là không thể kể xiết. Còn việc binh đao thật là tai họa nó làm cho vợ góa con côi, tổn thương hòa khí của trời đất, sinh ra hạn hán lụt lội. Thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dụng binh dẹp loạn. Nếu không đánh mà khuất phục được binh lính người mới là đánh giỏi”(Thiên hạ đại thế luận). Sau phân tích tương quan lực lượng giữa ta với giặc, ông khẳng định ta chưa thể chống lại sức mạnh của giặc thì chi bằng hòa với chúng – có điều lợi là “họ giữ phên giậu cho ta, con hổ mạnh đã ở núi thì đàn hổ không dám dòm ngó nữa” nghĩa là qua đó, các cường quyền khác không dám lăm le nhảy vào nước ta. Đó là cái lợi về đối ngoại. Còn đối nội “Dân đã yên, rồi sẽ sai kẻ hiền tài vượt biển ra ngoài, nghiên cứu các phép đánh giữ của các nước lớn, học tập những cái khôn khéo của thiên hạ. Khi đã ở với họ lâu, thì dò đức lường sức, biết rõ tình trạng của họ. Học đã tinh thì thành khéo, khéo đã cực thì thành mạnh. Nuôi chứa lấy hơi sức, đợi thời mà hành động, thì cái mất buổi sáng buổi tối có thể thu lại, chửa muộn gì…”.

Ngoài ra, còn phải giao thiệp với các cường quốc khác. “Tôi xem khắp thiên hạ từ xưa đến nay, các nước sở dĩ bảo tồn được lâu dài, không nước nào không do hai điều kiện là giàu và mạnh. Mà sở dĩ được giàu mạnh thì không thể không bắt đầu bằng việc mở rộng đất đai làm đông dân chúng, thông thương qua lại và giao du với các nước. Sau đó lấy nhân nghĩa, công bằng mà qua lại với các nước làm cho mình và người cả hai đều được lợi thì mới đạt được sở nguyện. Sau khi đề cập đến kinh nghiệm của nước Trung Quốc, Nhật Bản ông nhấn mạnh: “Còn như đối diện với nước ta là Xiêm La (tức Thái Lan). Nước ấy trước đây vốn chẳng có thế lực gì to lớn hùng mạnh. Nhưng từ khi người phương Tây quấy động khiến họ chợt thức tỉnh, bèn lấy Anh, Pháp làm bạn, lấy Ý, Bồ làm khách, mời hết các nước trên thế giới đến buôn bán, du lịch, còn nước ấy thì nghiễm nhiên làm ông chủ nhà lớn đàng hoàng, khiến nước lớn thì làm khách, nước nhỏ thì làm bạn, thiên hạ quây quần gọi là ông Đông, nói cười, giải vây, ứng đáp không ngại, chẳng cần đua đuổi cao xa mà cũng chia quyền lợi được với thiên hạ. Mặc dầu Anh, Pháp muốn phân chia quyền lợi ở đó nhưng cũng không thể làm sao ỷ mạnh mà đánh kẻ tươi cười với mình, nên cũng phải phó mặc chẳng biết làm sao. Hiện nay nước ấy nhờ ngoại giao mà lợi ích, ngày một nhanh chóng trở nên giàu mạnh, nội loạn không sinh, kẻ địch bên ngoài không đến, thuyền buôn qua lại trên mặt biển như mắc cửi, quan chức phân bố khắp các nước, dần dần lập được cái thế con rết trăm chân”(Di thảo số 55). Ngoài ra, ông còn “xin đem sáu điều lợi lớn trình bày” để làm thay đổi cục diện là mượn tay của nước khác – cụ thể là nước Anh – để ngăn chặn, ly gián, áp chế, gây hấn với Pháp (Lục lợi từ).

Về nội chính: Đối với vấn đề cai trị, theo ông nên giảm bớt số tỉnh, phủ, huyện để bớt số quan lại vô ích thì mới có thể tăng lương và nghiêm trị sự hối lộ. Nên phân định luật lệ rõ ràng để khen thưởng nghiêm minh. Trong việc võ bị thì phải gấp rút thay đổi như hậu đãi người theo võ nghiệp “Nếu vì nước hy sinh, vợ sẽ được lãnh lương chồng suốt đời” và “Quan võ mãn hạn về hưu cũng được ăn lương như còn tại chức”. Chứ trước đây “Cấp dưỡng cho người ta không đủ sống một đời bần hàn, thế mà đòi hỏi người ta phải nhảy vào nước sôi lửa bỏng để báo đền! Đối xử với người ta như tù đày nô lệ mà muốn người ta xem cái chết nhẹ như lông hồng” là điều không thể được; đón thầy ngoại quốc để dạy dỗ và huấn luyện binh sĩ theo binh pháp mới; tổ chức lại quân đội như “chọn lấy tráng binh tuổi từ 20 trở lên chưa có gia đình. Ngoài ra phải thải bớt những binh lính già yếu. Bớt đi một nửa số lính, lấy số lương cấp gấp đôi cho số tráng binh còn lại”; tổ chức lại việc phòng bị, xây đồn đắp lũy để khống chế nơi quan yếu, chế vũ khí, tích trữ vật liệu cần dùng khi có chiến tranh, sửa sang lại đường bộ, đường thủy trong nước. Thậm chí cả “Nhà cửa trong kinh thành bất luận của quan hay dân đều phải xây gạch lợp ngói. Vả lại còn phải sắp xếp phù hợp với binh pháp. Như vậy mới có lợi ích lớn. Như các nước phương Tây dùng nhà cửa làm thành. Đường sá qua lại chằng chịt. Ở những chỗ quan yếu có pháo đài nhỏ. Quan dân nhờ đó dễ phòng thủ. Khi có biến, dân chúng rút vào nhà hết. Có ai chạy lộn xộn ngoài đường thì đó là quan binh hoặc quân loạn nghịch mà thôi nên dễ kiểm soát tầm nã. Chứ không như thành phố của ta, nhà cửa cất lộn xộn chẳng theo hình thế trật tự gì cả. Lại còn đường mòn ngõ tắt, cây cối bụi bờ, bốn phương tám mặt đâu đâu cũng có thể ẩn nấp được. Ngoài ra trong thành ngoài thành nào tường nhỏ tường lớn, bờ đất, gò đống chỉ vói tay cũng có thể trèo qua được. Xem thế tuy nghiêm nhặt mà kỳ thật sơ hở vô cùng”. Để chỉnh đốn lại dần dần theo ông là thực hành theo biện pháp vận động các nhà giàu bỏ tiền ra xây, sau đó ngoài việc được nhà nước khen thưởng thì họ còn được cho thuê để thu hồi vốn.

Về giáo dục: ông chỉ trích kịch liệt lối học cũ “lúc còn nhỏ thì học văn, từ, thơ, phú, lớn lên ra làm thì lại luật, lịch, binh, hình. Lúc nhỏ nào học Sơn Đông, Sơn Tây mắt chưa từng thấy, lớn lên ra làm thì đến Nam Kỳ, Bắc Kỳ. Lúc nhỏ nào học thiên văn, địa lý, chính sự, phong tục tận bên Tàu (mà nay họ sửa đổi khác hết rồi), lớn lên ra làm thì lại dùng đến địa lý, thiên văn, chính sự, phong tục của nước Nam, hoàn toàn khác hẳn. Lúc nhỏ học những lễ nhạc, cách ăn uống, cư xử chiến đấu, doanh trại từ xa xưa của Tàu, lớn lên ra làm thì phải dùng đến lễ nhạc, cách chiến đấu, phép ăn ở theo quan dân nước ta ngày nay. Còn biết bao nhiêu những việc tương tự như thế, mòn bút khô môi cũng không kể hết. Xưa nay các nước trên thế giới chưa từng có nước nào có nền học thuật như vậy. Quả thật lạ đời”. Từ đó, ông xin cải cách việc học: ”Không có một nền học thuật sáng suốt thì phong tục sẽ ngày một bại hoại, lòng người sẽ ngày một giả dối, phù phiếm trống rỗng… Vậy học là gì? Là học những gì chưa biết mà đem ra thực hành. Đó là thực hành những gì thực tế trước mắt và còn để lại lợi ích cho đời sau nữa”. Theo ông phải dạy các khoa thực dụng như khoa canh nông, cơ khí, thiên văn, địa lý, luật học… Đặc biệt, ông chủ trương các khoa học này đều phải dùng quốc âm và phân tích rất thấu đáo, thuyết phục: “Ta đã học chữ Hán mà không đọc được như người Hán lại thêm một lần phát âm khác, thêm một lần giải thích nghĩa, khiến người có tài trí phải mất đi tinh lực nửa đời người dùi mài vào cái học ấy, không còn thời giờ, tâm trí để học những cái khác. Bây giờ ta cứ lấy chữ Hán chuyển đọc ra quốc âm, không cần học nghĩa, thế cũng vẫn dùng chữ Hán có gì mà không được. Thí dụ như chữ “Thực phạn” chỉ đọc là “ăn cơm” hoặc viết chữ “ăn cơm” thay chữ “Thực phạn”. Như vậy mà còn ai cho chữ “Thực phạn” là quý trọng, chữ “ăn cơm” là khinh thường, nhất định cố chấp chữ nho là quý trọng, là dễ; còn chữ ta là tiện, là khinh, là khó thì dẫu trời là giỏi phân biệt muôn loài khinh trọng quý tiện cũng không cãi lại bọn này”. Ngoài ra, ông còn đề nghị khuyến khích du học ở các nước châu Âu; dịch các sách khoa học của nước ngoài ra tiếng nước Nam để mở mang dân trí; in và phát hành các sách hữu ích, nhật trình để người dân biết luật lệ và công việc của triều đình.

Về tài chánh là vấn đề không kém phần quan trọng, vì muốn thực hành những cải cách trên thì trước hết phải có tiền. Theo ông là đánh thuế xa xỉ. “Điều này có hai cái lợi, một là sửa đổi dần dần những tiêu phí không cần thiết để họ được giàu có thuần hậu, hai là dần dần bổ sung tài chánh cần dùng cho quốc gia mà không tổn hại gì đến thường dân cả”. Bảy khoản thuế phải đánh thật nặng là: cờ bạc, rượu, thuốc lá, trà, hàng tơ lụa hoa mỹ, gánh hát du hí và các nhà giàu. Từ đó, khuyến khích dân trong nước dùng đồ nội hóa và công nghệ bản quốc. Bên cạnh đó, phải điều tra rõ dân số trong nước để đánh thuế công bằng; đạc điền để định rõ diện tích, thuế ngạch các ruộng đất cho công bằng và tránh gian lận. Ông quan niệm “Tài sản của dân là huyết mạch của quốc gia mà ra, nay dân lại đem cái của cải hữu dụng mà tiêu hao vào những chuyện vô ích, hơn nữa còn gây ra vô số tội ác thì Triều đình là bậc cha mẹ dân thấy dân ngu làm nhiều việc sai lầm lẽ tất nhiên phải gấp rút sửa đổi lại cho tốt. Bởi vì dân xài tiền mà sinh tội cũng như con nít múa kiếm làm đứt họng thì ta phải giật kiếm đi, khi nào biết múa mới được dùng. Các nước phương Tây sở dĩ đủ dùng cho việc nước là nhờ đánh thuế những nhà giàu có và các cơ sở thương mại thế mà dân không oán than vì đó là thứ thuế chính đáng. Nếu dân nghèo chỉ bắt đóng góp một ít công tác thôi. Đối với dân tùy theo giàu nghèo mà đóng thuế nhiều hay ít, làm sao cho công việc nước được phân phối thích hợp với mọi người. Ngoài ra, tùy theo tục lệ và dân tình, mỗi làng mỗi xã có thể tùy nghi uyển chuyển áp dụng theo mỗi địa phương, miễn sao hợp pháp không được thiên lệch, để cho ai nấy tuân hành như luật pháp quốc gia vậy”.

Về kinh tế: theo ông làm giàu cho công quỹ nhà nước vẫn chưa đủ mà còn phải có biện pháp giúp dân cũng được giàu bằng cách chấn hưng nông nghiệp, công nghệ, thương nghiệp, khai khẩn các mỏ v.v… Và ông cũng đề nghị lập viện dục anh và trại tế bần “Tôi thấy hiện nay Triều đình có xuất công quỹ lập viện tế bần để nuôi người nghèo khổ. Nhưng vì người thừa hành không làm hết nhiệm vụ, nên chỉ có danh nghĩa mà thực tế những người nghèo khổ không được hưởng sự cứu giúp bao nhiêu.

Không bằng các nước phương Tây người ta tự mở đồn điền, cất nhà lớn, nhiều người hảo tâm bỏ tiền ra giúp. Ở các nhà thờ, trường học tư, nhà chung v.v… đều có đặt hòm cứu tế. Ai muốn giúp đỡ bao nhiêu cứ bỏ tiền vào hòm. Mỗi ngày mở hòm lấy tiền chia cho các nơi. Hội thánh thâu hết những người nghèo về nuôi, chữa bệnh. Người nào khỏe mạnh thì dạy cho làm ruộng và các nghề vặt. Người tàn tật thì có công việc tàn tật, không ai ở không. Ngoài ra còn dạy cho họ các nghề thủ công để bán lấy tiền phụ thêm vào việc chi phí sửa sang trong viện. Nếu còn dư thì mua ruộng vườn chăn nuôi sinh lợi hơn nữa. Còn rất nhiều cách làm hay khác không thể kể hết.

Về mặt nhà nước thì cấm tuyệt không cho kẻ đi ăn xin.”

Trên đây chỉ là đôi nét chính trong Tế cấp bát điều (tám việc cần làm gấp) mà Nguyễn Trường Tộ viết vào ngày 15/11/1867. Càng đọc di thảo của ông để lại, chúng ta càng kinh ngạc đến mức độ khó lý giải tại sao một con người sống ở thế kỷ trước lại có được những suy nghĩ hiện đại và cập nhật với thời đại chúng ta đang sống đến thế? Học giả Dương Quảng Hàm cho rằng: “Cứ xem lời lẽ trong các văn bản điều trần thì biết Nguyễn Trường Tộ là người có học thức rộng, kiến văn nhiều, lại có lòng nhiệt thành yêu nước, muốn đem những điều sở đắc mà giúp vào việc cải cách cho nước ta trở nên giàu mạnh bằng người. Lúc đầu nhà vua thấy kế hoạch của ông có nhiều điều hay, cũng muốn đem ra thực hành, nên một lần (năm 1866) giao cho ông việc đi tìm mỏ, lại một lần (cũng năm ấy) phái ông sang Pháp mua máy móc và tuyển thợ khéo. Nhưng tiếc rằng triều thần bấy giờ phần nhiều không hiểu thời cục, chỉ một mực thủ cựu, không ai tán thành các việc ông xin, lại tìm cách bài bác, công kích, nên nhà vua không có chí quả quyết; bởi thế cái chương trình mà ông đã tốn bao tâm lực để dự thảo không được đem ra thực hành, thật là một việc rất đáng tiếc vậy”. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng cho rằng: “Ông nóng vội và nhất là ông không biết cơ chế triều đình Tự Đức không bao giờ cho phép suy nghĩ của ông trở thành hiện thực bởi chúng đụng đến bức tường lạc hậu kinh khủng về học vấn, về khoa học, sự mụ mẫm trong đầu các quan lại cao cấp, kể cả đấng chí tôn – nhưng ông vẫn không mệt mỏi, tấm lòng yêu nước thúc đẩy ông. Ta quý Nguyễn Trường Tộ chính ở chỗ đó”. Còn về phía mình, trước sự thất bại cay đắng ấy, ông có tâm sự qua bài thơ ứa nước mắt: không cần biết đến sự khen chê của người đời, miễn là việc làm của mình không trái với lương tâm, phù hợp với quyền lợi Tổ quốc, dù sao cũng đã có mình biết và Trời biết là đủ rồi:

Ngửa lòng trả nợ nước nhà
Người tuy chưa thấy, Trời đà thấy cho

hoặc:

Mặt trời cho dẫu không soi đến
Hướng dương xin vẫn nếp hoa quỳ

Cuối đời

Ngày 22/11/1871 sau cơn bệnh nặng – có lẽ vì bị xuất huyết bao tử – Nguyễn Trường Tộ có đọc hai câu thơ:

Nhất thất túc thành thiên cổ hận,
Tái hồi đầu thị bách niên cơ.

dịch:

Một lần xẩy chân ngàn đời ôm hận,
Quay đầu trở lại cơ đồ trăm năm.

Vừa dứt lời thì ông tắt thở, thọ 41 xuân. Hiện nay, trên tấm bia của ngôi mộ ông ở Bùi Chu, có khắc hai câu thơ này. Từ năm 1940, nhà giáo Nguyễn Lân cùng một học sinh là Đặng Chí Huyền đến Xã Đoài, được cháu đích tôn của Nguyễn Trường Tộ dẫn ra thăm mộ. Sau này, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân có kể lại: “Nhìn thấy nấm mồ, chúng tôi xúc động vô cùng trước cái cảnh tiêu điều dành cho một bậc vĩ nhân có lòng yêu nước sâu rộng, đã hiến thân cho nước hết mình. Vì thế, tôi quyết định về nghiên cứu sự nghiệp của cụ để viết một quyển sách nhỏ, lấy tiền gửi ra nhờ xây dựng một ngôi mộ đàng hoàng cho cụ. Sách viết xong năm 1941, may nhờ có tinh thần tha thiết của một doanh nghiệp là ông Viễn Đệ, sách mới có thể ra đời, và sau khi trả tiền in, tôi đã thu được một số tiền gửi ra Nghệ An để cùng bà con đóng góp thêm vào, xây nên một ngôi mộ xứng đáng với tấm lòng yêu nước vĩ đại của tiên sinh Nguyễn Trường Tộ”.

Đó là ngôi mộ mà ngày nay chúng ta đã thấy. Trên mộ có khắc nhiều câu đối như Trung quân chính sách quang tiền sử (Chính sách trung quân làm rạng rỡ trang sử trước), Ái quốc tinh thần khởi hậu nhân (Tinh thần yêu nước khơi dậy cho người sau). Thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải có bài thơ Vịnh tài đức Nguyễn Trường Tộ:

Non sông thiêng sáng đúc nên tài,
Những ước ra tâm giúp giống nòi.
Lấy đạo nghĩa xưa làm mực thước,
Đem khoa học mới để trau giồi.
Bao phen xuất ngoại lòng nuôi mộng,
Mấy độ trần tình lệ nhỏ rơi.
Hôn ám kể chi phường sống tạm,
Nghìn thu luống để tiếc thương ai.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 7 – Những nhà cải cách Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Trường Tộ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)