Khái quát
Người thầy có ảnh hưởng sâu sắc đến tri thức, tình cảm và ý chí của tôi là cụ Dương Quảng Hàm, một giáo sư uyên bác và mô phạm về mọi mặt. Học cụ, tôi vẫn tự nhủ là sau này phải cố gắng theo khuôn mẫu của cụ để trở thành một nhà giáo tiêu biểu như cụ. Năm 1988, khi được phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân, tôi có đọc một bài thơ về “Tình nặng nghĩa sâu”, trong đó, về cụ Hàm, tôi đã nói:
Trường Bưởi: Noi gương cụ giáo Hàm, Một nhà học giả thực phi phàm.
Làu thông Âu, Á, say nghiên cứu, Ham dạy Sử, Văn, lợi chẳng ham…
Trong hồi ký của mình, GS Nguyễn Lân đã trân trọng viết về thầy Dương Quảng Hàm như thế. Nhớ đến thầy, hẳn chúng ta không quên bộ Việt Nam văn học sử yếu và Việt Nam thi văn hợp tuyển. Những bộ sách này, GS.TS Phạm Minh Hạc nhận định: “Là một quyển sách văn học sử đầu tiên của nước ta được biên soạn công phu, có hệ thống và khoa học”. GS Phong Lê đánh giá: “Nó còn là sản phẩm, tâm huyết của một nhà giáo, một học giả yêu nước, yêu dân tộc”. Còn nhà nghiên cứu, nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã coi nó: “là bộ sách quý nhất trong tủ sách của tôi”. Hầu hết các nhận định đều thống nhất rằng, đây là bộ sách giáo khoa mẫu mực, có giá trị to lớn và lâu dài.
Xuất thân và con đường học tập
Thầy Dương Quảng Hàm sinh trong một gia đình giàu truyền thống hiếu học và yêu nước. Cụ nội là Dương Trọng Thanh (1804 – 1861) đã từng làm đốc học ở Hà Nội. Thân phụ là ông Dương Trọng Phổ, anh cả là ông Dương Bá Trạc, cả hai đều có tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và bị bắt đầy đi Côn Đảo. Thầy có hiệu là Hải Lượng, sinh ngày 14/7/1898 tại làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, huyện Khoái Châu, Hưng Yên (nay là huyện Châu Giang, Hải Dương). Thuở nhỏ, thầy học chữ Hán với cha anh để có được một số vốn Nho học nhất định. Sau đó, trên nền tảng này, thầy tự học thêm để có một vốn Hán học uyên thâm. Rồi ngọn gió của thời cuộc thổi đến đã xáo trộn nền tảng giáo dục thời bấy giờ. Sau nhiều lần thăm dò, từng bước thay đổi chương trình giáo dục, đến năm 1906, toàn quyền Beau đã đưa ra kế hoạch “cải cách” khá toàn diện. Rồi một chỉ dụ của nhà vua ký ngày 31/5/1906 thừa nhận nền giáo dục Pháp – Việt ở Trung Kỳ và Bộ học được thành lập ở Huế. Nhiều nhà nho đã quẳng ngọn bút lông để cầm lấy bút chì trong buổi giao thời này. Thầy Dương Quảng Hàm chuyển sang Tây học. Năm 1920 thầy đỗ đầu khoa Văn của trường Cao đẳng Sư phạm với tiểu luận tốt nghiệp: “Khổng Tử và học thuyết Khổng Mạnh trong nền tảng giáo dục cũ”.
Sự nghiệp giảng dạy
Cuộc đời đi dạy của thầy ở trường Bưởi bắt đầu từ những năm tháng này, lúc đó thầy vừa tròn 22 tuổi. Thời gian đầu, thầy dạy môn Sử, Địa, tiếng Việt, tiếng Pháp bậc Cao đẳng tiểu học, sau đó chuyển sang dạy Việt Văn bậc Trung học. Theo Nghị định ký ngày 21/12/1917 của toàn quyền Albert Sarraut “Quy chế chung về ngành giáo dục ở Đông Dương”: Ở bậc trung học Pháp – Việt mỗi tuần có 27 giờ rưỡi lên lớp thì 12 giờ chuyên học tiếng Pháp, 8 giờ học Toán Lý Hóa… cũng bằng tiếng Pháp, còn lại học chữ Quốc ngữ và chữ Nho – mà không được dạy quá 3 tiếng trong một tuần. Vậy mà chỉ sau năm năm giảng dạy, thầy đã biên soạn tác phẩm đầu tay là Quốc văn trích diễm. Trong đó, thầy trình bày kiến thức sâu sắc về văn học nước nhà. Phần mở đầu là Hán Việt văn biểu và phần thứ hai là trích dẫn 138 tác phẩm của nhiều tác giả chia làm mười một thể loại như thơ, hát nói, tuồng, phú, văn tế… Cuốn sách này đã trở thành sách giáo khoa chính thức trong chương trình Việt văn ở các trường sư phạm và cao đẳng tiểu học Pháp Việt.
Không dừng lại ở đó, mười lăm năm sau, 1940, thầy tiếp tục hoàn thành quyển Việt văn giáo khoa thư. Đây là những bước chuẩn bị để năm 1943, thầy cho xuất bản bộ sách hai tập: Việt Nam văn học sử yếu và Việt Nam thi văn hợp tuyển. Có thể nói, công trình của thầy ra đời vào thời điểm này đã góp phần không nhỏ cho việc đánh thức niềm tự hào trong công chúng về văn hóa của dân tộc. Vì đó cũng là thời điểm mà nhiều công trình nghiên cứu công phu, gần như mẫu mực trong học thuật đã ra đời: Việt Nam văn hóa sử cương (1938) của Đào Duy Anh, Việt Nam cổ văn học sử (1942) của Nguyễn Đổng Chi, Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh – Hoài Chân, Nhà văn hiện đại (1942-1943) của Vũ Ngọc Phan, Văn học đời Lý (1941) của Ngô Tất Tố…
Với chủ ý của việc biên soạn này, thầy cho biết:
Ai cũng biết rằng hiện nay không có quyển sách nào chép về văn học lịch sử nước ta, không nói gì đến những sách tham khảo tinh tường cho các học giả dùng, ngay đến những sách tóm tắt các đại cương cho học sinh dùng cũng không có.
Như vậy với bộ sách này, thầy Dương Quảng Hàm đã có một cái nhìn và phương pháp làm việc khoa học: bất cứ một nhận định nào cũng đều căn cứ trên văn bản, chứ không nói một cách vu vơ, mơ hồ. Trong phần biên tập đại ý, thầy viết:
Khi xét về vấn đề nào trước hết sưu tập các tài liệu tản mạn ở các sách các báo rồi khảo sát suy nghĩ: điều gì xác thực chắc chắn mới chép, điều gì còn hồ nghi thì để huyền, điều gì có nhiều thuyết tương đương thì giải bày rõ ràng để sau này có thể nghiên cứu thêm rồi quyết định. Tóm lại chúng tôi lấy sự thực làm trọng, không khi nào dám lấy ý riêng mà giải quyết một nghi vấn theo cách võ đoán, cũng không hấp tấp theo liều những ý kiến thông thường nhiều khi sai lầm hoặc thiên lệch
và thầy còn bình thường nhấn mạnh:
Việc học văn học sử phải căn cứ vào tác phẩm: học trò không những cần biết những điều cốt yếu về văn thể và văn nghiệp của mỗi tác giả, mà cần đọc nhiều thơ văn của tác giả ấy mới có thể lĩnh hội được cái khuynh hướng về tư tưởng và cái đặc sắc về văn từ của tác giả ấy.
Phương pháp giảng dạy qua hồi ức học trò
Những điều thầy viết khi soạn sách cũng được áp dụng nghiêm khắc khi giảng dạy. Để hiểu về thầy, có lẽ không có gì tốt hơn bằng cách nghe các môn đệ của thầy kể lại những năm tháng được thầy dạy dỗ. Nhà nghiên cứu, nhà văn Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) tác giả của trên 100 đầu sách đã xuất bản – đã bùi ngùi nhớ lại:
Cụ sống rất giản dị. Từ nhà ở đầu phố Hàng Bông lên trường, đường dài khoảng ba cây số, mà quanh năm, hè cũng như đông, mua cũng như nắng, ngày nào cụ cũng chậm chạp đạp một chiếc xe cũ; suốt hai năm học cụ, tôi nhớ chỉ một hai lần cụ đi xe kéo vì mua gió lớn quá hoặc vì trong mình khó ở…
Y phục của cụ thì hình như chỉ có vài bộ, mốt cổ, nhưng lúc nào cũng sạch sẽ và có nếp. Ngay những bạn biếng học nhất, nghịch ngợm nhất cũng ngưỡng mộ cụ, coi cụ là một nhà mô phạm kiểu mẫu; một số, trong đó có anh Phạm Trọng Bào và tôi, coi cụ như cha nữa. Cụ nghiêm trang mà hiền hòa và tôi chắc chắn cụ không thù ai, ghét ai. Đôi khi thấy chúng tôi có nghịch ngợm quá thì chỉ cau mày, rầy một câu rồi bỏ qua, rồi nụ cười rất hồn nhiên của cụ lại nở trên môi, cặp mắt sáng, hiền từ và vui, nhờ mấy nét nhăn ở đuôi mắt.
Cụ dạy Pháp văn và Việt văn cho chúng tôi trong hai năm liền: năm thứ ba và năm thứ tư.
Mới vào lớp, cụ nở ngay một nụ cười, cho phép chúng tôi ngồi xuống, rồi bước lên bục, chậm rãi lấy chiếc đồng hồ quả quít ra đặt trên bàn, mở chiếc cặp, lấy sách, sổ, cây viết ra, sắp thứ nào vào chỗ nấy, rồi mới thủng thẳng giảng bài.
Cụ luôn luôn có hai cây viết: một cây viết máy ngòi vặn vô được (kiểu này ngày nay không ai dùng nữa), để viết vô số của trường; và một cây viết chì tím, ngắn, nhỏ hơn đầu đũa để viết vô số riêng của cụ. Vì cụ có một số tay khổ nhỏ như tấm bưu thiếp, trong đó cụ chép tên tất cả các học sinh. Mỗi khi cụ muốn gọi một trò nào đọc bài hoặc trả bài, cụ mở cuốn sổ tay ra coi, chứ không coi trong sổ lớn của trường; như vậy để biết học sinh nào đã có điểm rồi và để học sinh trong lớp được hỏi đều hết. Không bao giờ cụ “truy” riêng một trò nào cả, cũng không bao giờ cụ mến một trò nào mà hỏi trò đó nhiều hơn những trò khác. Lối đó rất công bằng, nhưng một số học sinh lần này trả bài rồi thì có thể chắc chắn lần sau khỏi phải trả nữa mà không cần học bài. Chắc cụ cũng biết vậy.
Khi cho điểm, cụ cẩn thận dùng viết máy ghi vào sổ của trường rồi dùng viết chì tím ghi vào sổ tay của cụ. Tới cuối năm, cụ coi lại sổ tay rồi mới xét về sự học của học sinh mà phê trong học bạ. Cụ làm việc thực có quy củ và công bằng. Tôi không bao giờ thấy cụ viết tháu.
Lối dạy học của cụ rất đúng quy tắc sư phạm: theo sát chương trình, không nhấn mạnh vào phần nào mà bỏ qua một phần khác, cũng không giảng ra ngoài chương trình. Cụ theo trình độ của học sinh trung bình trong lớp mà giảng rất rành mạch.
Còn ông Dương Xuân Nghiêm – nguyên chuyên viên ở Bộ Giáo dục và Đào tạo – nhớ lại:
Hồi đó thầy còn rất trẻ. Lần đầu tiên tiếp xúc với thầy, chúng tôi đã cảm nhận được đây là một thầy giáo mẫu mục, hành vi và lời nói thật là mô phạm, tính khí có phần hơi nghiêm. Chúng tôi tự nhủ: với một ông thầy như thế này, phải học nghiêm túc, không thể coi nhẹ môn tiếng Việt, không thể học đại khái, qua loa được.
Cũng như các giáo sư khác, thầy mặc Âu phục nhưng không ăn vận thoải mái tự do, thầy lúc nào cũng trang phục chỉnh tề. Áo vét lúc nào cũng cài đủ ba cúc nên người thầy nom thẳng, hơi cứng. Thầy bước thong thả, khoan thai, đầu ngẩng cao, thể hiện một dáng tự tin, tự hào, một ý thức bình đẳng với mọi người, kể cả với giám đốc, giáo sư người Tây. Bao giờ lên lớp, thầy cũng cấp cặp đàng hoàng, khác với một số thầy khác chỉ cầm trong tay cuốn sách nhỏ, hay chẳng cầm gì cả. Thầy đến lớp rất đúng giờ và bao giờ bài giảng của thầy cũng khớp với thời gian qui định. Sau này tôi dần dần được biết thầy rất có uy tín trong các bạn đồng nghiệp người Việt. Về phía người Tây, họ cũng rất nể thầy.
Cách lên lớp của thầy, phương pháp giảng dạy của thầy in đậm vào ký ức của tôi đến nỗi tôi có thể kể tường tận một giờ giảng văn của thầy thường được tiến hành như thế nào.
Khi vào lớp, thầy không phải mất thì giờ kiểm danh học sinh, xem có học sinh nào vắng mặt. Việc đó đã có các giám thị lo. Việc đầu tiên đến lớp, bao giờ thầy cũng xóa hết những gì giờ học trước còn lưu lại trên bảng đen. Thầy không bao giờ chấp nhận trong giờ giảng của thầy mà trên bảng lại chi chít những công thức toán học, hay các châm ngôn triết học… Thầy không muốn bất cứ cái gì có thể làm học sinh phân tán tư tưởng. Sau đó thầy bắt đóng một bên cửa sổ, chỉ cho mở của bên đối diện thôi. Nếu nóng bức thì vặn quạt lên. Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ thấy sợ mở cả hai bên cửa sổ thì học sinh dễ bị gió lùa chăng?
Mặc dầu chúng tôi đã là học sinh lớn, học ban tú tài, nhưng trong giờ tiếng Việt chúng tôi vẫn bị kiểm tra như thường. Đây là những giờ phút chúng tôi hồi hộp nhất. Nội dung kiểm tra là đọc thuộc lòng một đoạn thơ hay văn xuôi có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật. Sau này chúng tôi mới được biết đó là một nguyên tắc sư phạm. Theo cụ Song An Hoàng Ngọc Phách viết trong hồi ký về trường Cao đẳng sư phạm thì: “Dạy văn học mà không chú ý đến những bài học thuộc lòng (récitation) là một khuyết điểm lớn. Nó sẽ dẫn đến chỗ thiếu vốn. Làm văn và viết văn mà thiếu vốn thì khó thành một nhà văn hay được…”. Thực ra bài đọc thuộc lòng cũng chả có gì ghê gớm lắm. Nhiều bạn tôi, trên đường đến trường, vừa đi vừa nhẩm cũng thuộc. Chúng tôi hoảng nhất giờ phút này vì thầy có lệ ai không thuộc hay đọc ngắc ngứ thì phải đứng tại chỗ để vừa nghe các bạn đọc, vừa nhẩm theo cho tới khi nào đọc thuộc bài mới được ngồi xuống. Thật là một việc không dễ chịu chút nào, vì lớp học có một số học sinh nữ. Dù sao cũng nhờ học thuộc lòng đều đặn như vậy, nên cho tới nay trong chúng tôi vẫn còn in sâu những câu thơ hay của Truyện Kiều như:
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt thahoặc câu trích trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi có ý nghĩa sâu sắc:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy trí nhân để thay cường bạo v.v…Sau mươi phút kiểm tra học thuộc lòng, thầy chuyển sang giảng bài mới. Thầy theo một cách giảng khác với cách phổ biến ngày nay. Thầy không cần phải tuyên bố rõ mục đích yêu cầu bài giảng, thầy rất ít dùng bảng đen và cũng chẳng yêu cầu học sinh ghi chép “tóm tắt” bài giảng. Thầy có một cách giảng mà ai cũng chú ý lắng nghe. Thầy nói thong thả, đủ nghe, giảng kết hợp nội dung với hình thức. Có chỗ nào khó thầy giảng đến nơi, đến chốn. Anh Ngô Trí Du sau này công tác ở Trung ương Đoàn và báo Nhân dân nhớ mãi hai câu thơ trong Kiều, nhờ có thầy giảng kỹ anh mới thấy được cái hay, cái đẹp, cái sâu sắc của nó. Đó là:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chungSau khi giảng xong bài mới, thầy kiểm tra xem học sinh có hiểu không, rồi mới kết thúc, ra bài cho học sinh học thuộc lòng.
Phương pháp của thầy cứ như vậy lặp đi lặp lại với những nội dung luôn luôn đổi mới, tác động, thấm dần vào tâm trí chúng tôi, khuấy động trong chúng tôi những tình cảm thầm kín tự hào về văn chương Việt Nam, đến tự hào dân tộc, lòng yêu nước, căm ghét ngoại bang xâm lược.
Đóng góp đối với văn học và giáo dục
Có thể nói, ở thầy Dương Quảng Hàm là sự kết hợp hài hòa của nhà giáo, nhà tu thư và nhà khoa học – mà đặc điểm nổi bật là lòng nhiệt thành đối với tiếng Việt. Trong chương đầu của bộ Việt Nam văn học sử yếu, thầy đã viết: “Nay người nước Nam ta cũng biết lấy tiếng nước Nam làm trọng, ai cũng mong cho quốc văn ngày một phát đạt”; sau đó thầy khẳng định: “Nền quốc văn mới, tuy vừa được thành lập ít lâu nay, cũng đã có phần khỏi sắc. Và nếu các nhà viết văn chịu gia công luyện tập, các nhà đọc văn biết khuyến khích cổ võ thì ta có thể hy vọng rằng, nền văn ấy sẽ có một tương lai tốt đẹp”. Điều dự báo ấy, đến nay đã trở thành sự thật.
Do yêu tiếng Việt và di sản văn hóa của nước nhà nên thầy còn biên soạn tập sách mà nay ít người biết đến là Lý Văn Phúc – tiểu sử – văn chương. Thầy viết tập sách này vào năm 1945 và giao bản thảo cho Thanh Hoa thư xã (Hà Nội) mà chủ nhiệm lúc bấy giờ là ông Phan Thế Roanh. Sau đó, ông Roanh vào Sài Gòn và làm Giám đốc Học vụ trường Đại học Sư phạm và giao cho Nhà xuất bản Nam Sơn in tập sách này (1955). Đây là tác phẩm cuối cùng của thầy.
Những năm cuối đời và tưởng niệm
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công (1945) thầy được giao nhiệm vụ Thanh tra trung học vụ, rồi Hiệu trưởng trường Chu Văn An (tức trường Bưởi cũ). Giữa lúc thầy cùng các đồng nghiệp của mình đem hết tâm trí, nhiệt tình xây dựng nền giáo dục mới thì thực dân Pháp gây hấn. Tình hình chiến sự bắt đầu căng thẳng. Trường được lệnh đóng cửa để cho học sinh tản cư. Đêm 19/12/1946 tiếng súng nổ râm ran. Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu. Vợ chồng thầy cùng các người dân nội thành được tự vệ dẫn đi tản cư. Lúc đầu họ còn đi chung với nhau, sau phải chia thành từng tốp nhỏ. Vợ thầy cùng các phụ nữ đi trước. Thầy được dẫn đi tốp sau. Từ đó, không ai còn thấy thầy nữa. Thầy đã mất tích trong lúc tản cư. Theo GS Dương Trọng Bái – con trai của thầy – thì có thể thầy được chôn ở nơi gọi là “Chợ âm phủ” cạnh Tòa án nhân dân tối cao. Nhưng “Ông mất ở đâu, lúc nào, trong hoàn cảnh nào, không ai biết. Năm ấy ông mới 48 tuổi”.
Nhớ đến thầy, chúng tôi xin mượn lời của GS.TS Phạm Minh Hạc phát biểu trong Hội thảo khoa học nhân 49 năm ngày mất của thầy – được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 14/7/1995:
Chúng ta bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn to lớn đối với cố giáo sư, một người thầy giáo yêu nước, một hiệu trưởng có tinh thần trách nhiệm cao, một nhà nghiên cứu văn hóa sâu rộng và nghiêm túc, một tâm hồn đầy tính nhân văn, đã để lại một tấm gương sáng chói cho những thế hệ con cháu, học trò tiếp bước noi theo.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.