Bối cảnh xã hội
Năm 1867, Nguyễn Trường Tộ – nhà cải cách xuất sắc dưới thời Tự Đức đã viết Tế cấp bát điều (tám việc cần làm gấp) dâng lên vua, những mong suy nghĩ “nung nấu tâm can vò võ trán” của mình sẽ được nhà vua thực thi, nhằm góp phần thay đổi vận nước. Hành động tích cực ấy, gần 150 năm sau có một người cộng sản nối gót tiền nhân thực hiện, chỉ khác, lúc ấy ông là người đang đứng đầu một cơ quan quyền lực; chỉ khác, những ý kiến của ông đã được các cấp thực thi, góp phần không nhỏ trong công cuộc cải thiện tình hình xã hội đương thời. Nhà báo Hữu Thọ nhớ lại: “Chiều chủ nhật ngày 24/5/1987, đồng chí thường trực tòa soạn báo Nhân Dân đưa đến Ban biên tập một phong thư, nói là của một “người đứng tuổi” nhờ đưangay cho đồng chí Tổng biên tập. Trong phong bì có một bức thư và một bài báo, cả hai đều viết tay. Sau này, chúng tôi mới biết chính đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã đến báo Nhân Dân đưa bài báo ấy. Sáng hôm sau, ngày 25/5, bạn đọc xa gần thấy xuất hiện trên báo Nhân Dân bài báo với đầu đề in chữ đậm “Những việc cần làm ngay”. Đầu đề bài báo đầu tiên đã trở thành một chuyên mục được đông đảo bạn đọc ưa thích”.
Thân thế
Người cộng sản mẫu mực ấy là Nguyễn Văn Linh. Ông tên thật Nguyễn Văn Cúc, sinh ngày 1/7/1915 trong một gia đình công chức tại xã Giai Phạm, huyện Mỹ Văn (Hưng Yên). Từ nhỏ, do mồ côi cha mẹ nên ông được ông Hùng – người chú họ đưa về Hải Phòng nuôi nấng và cho ăn học. Tại đây, ông học lớp nhì trường Bonnal (nay trường Ngô Quyền). Học trên ông một lớp là những người mà sau này cũng nổi tiếng như nhà thơ Thế Lữ, luật sư Vũ Văn Hiền… May mắn cho ông là những năm tháng này, ông được học với người thầy dạy có tinh thần yêu nước. Những lúc không có giám thị của trường, thầy thường đọc cho học trò nghe những bài báo bằng tiếng Pháp của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc. Những “hạt giống đỏ” đầu tiên đã gieo vào trong tình cảm và ý thức của ông. Sau đó, ông được đứng vào hàng ngũ Học sinh Đoàn của trường – tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí Hội chỉ đạo. Hôm làm lễ kết nạp tại nhà của Thế Lữ, trên bàn thờ có treo ảnh cụ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, họ đã… chặt cổ một con gà trống! Dù không nói ra nhưng mọi người ngầm hiểu, nếu ai phản bội, không giữ lời thề của tổ chức cũng chịu sự trừng phạt như thế! Hoạt động cách mạng đầu tiên của ông diễn ra vào ngày 1/5/1930, lúc đó ông mới 15 tuổi.
Cuộc đời
Ông cùng các bạn học cùng lớp được phân công rải truyền đơn dọc theo phố Cát Dài (Hải Phòng). Khi đi đến ngã tư, cảnh binh phát hiện nhóm bạn trẻ này và bắt. Khi ra tòa, do chưa đủ tuổi vị thành niên, ông chỉ bị kêu án 18 tháng tù. Bấy giờ cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng, dù thất bại, nhưng vẫn khiến thực dân Pháp khiếp đảm, vì thế chính Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier phải lập Hội đồng Đề hình đểxét những vụ án có liên quan đến cuộc khởi nghĩa. Do tình thế chính trị đang diễn ra nên ông bị xử thêm án phát lưu chung thân, bị đày ra Côn Đảo. Trong tù, ông ở chung với những người cộng sản trung kiên như Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng… và bắt đầu được tham gia những khóa huấn luyện về chủ nghĩa Mác – Lênin. Năm 1936, do phong trào đấu tranh tiến bộ của Mặt trận Bình dân Pháp nên cùng với một số tù chính trị khác, ông được thả tự do. Ra tù, ông về Hà Nội ở chung với các anh Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện… Sau, tổ chức phân công ông về hoạt động tại Hải Phòng, lúc đó ông mới vừa 22 xuân xanh, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau này, ông nhớ lại: “Đến năm 1938, anh Nguyễn Văn Cừ là Tổng bí thư Trung ương Đảng. Lúc này Hải Phòng cơ sở đã được phục hồi khá rộng, phong trào đấu tranh của quần chúng đòi dân sinh, dân chủ, tự do cơm áo hoàn bình và phong trào lập Ái Hữu phát triển rầm rộ mạnh mẻ. Cơ sở Đảng và các đoàn thể cách mạng đã gầy dựng phục hồi và phát triển ở nhiều nơi. Khoảng cuối năm 1938 đầu năm 1939 anh Nguyễn Văn Cừ và Trung ương điều động tôi vào Sài Gòn hoạt động và tham gia Thành ủy Sài Gòn”. Thế nhưng, đâu năm 1941, ông lại bị địch bắt ở Vinh và bị chúng đưa về Sài Gòn xử án 5 năm tù và đày ra Côn Đảo lần thứ hai.
Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, ông được tàu đón về đất liền. Từ những năm tháng hào hùng và gian khổ này cho đến lúc về cõi hư không, có thể nói hoạt động của người cộng sản Nguyễn Văn Linh đã gắn bó mật thiết với Nam bộ – một vùng đất là “máu của máu Việt Nam, xương của xương Việt Nam” mà không một thủ đoạn, một thế lực nào có thể chia rẽ được. Theo nhà báo Phạm Dân – nguyên Phó Tổng giám đốc Việt Nam Thông tấn xã: “Đời sống và phong trào của nhân dân Sài Gòn là tư liệu thực tiễn để anh (Nguyễn Văn Linh) rút ra những bài học bổ ích cho lãnh đạo và chỉ đạo của tập thể Thành ủy”. Tháng 12/1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được Trung ương bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên cương vị Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh đã có nhiều đóng góp cho công cuộc đổi mới. Ý thức đổi mới là một trong những tố chất đã hình thành nên người cộng sản Nguyễn Văn Linh. Ông ý thức điều này ngay trong thời gian còn hoạt động bí mật, cụ thể là thời gian ngồi tù Côn Đảo. Trong bài nói chuyện “Đổi mới tư duy và phong cách” tại lớp nghiên cứu Nghị quyết Đại hội VI do Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc tổ chức vào tháng 5/1987, ông tâm sự: “Nhân đây, tôi nhớ lại những năm tháng ở nhà tù Côn Đảo. Hồi đó, những người tù chính trị chúng tôi, sống trong hoàn cảnh vật chất cực kỳ khó khăn, bị đày đọa về thể xác, nhưng ngày ngày vẫn không quên trau dồi lý luận cách mạng. Chúng tôi bí mật chuyển tay nhau từng quyển sách lý luận mác-xít như “Tư bản luận”, “Những vấn đề của chủ nghĩa Lênin” bằng tiếng Pháp, đọc đi đọc lại nhập tâm đến mức thuộc lòng từng đoạn dài. Tôi nhớ có một lần anh Ngô Gia Tự – vốn là người đọc nhiều và có phương pháp nghiên cứu tốt – trao đổi kinh nghiệm với tôi về cách học và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin. Anh nói: khi học chủ nghĩa Mác – Lênin, phải học một cách cơ bản và có hệ thống, chỉ như vậy mới nắm được thực chất và toàn bộ chủ nghĩa Mác – Lênin. Nhưng khi ra hoạt động cách mạng, giác ngộ quần chúng đấu tranh, phải làm theo trình tự ngược lại. Nghĩa là, không phải bắt đầu bằng cách bê nguyên xi những điều học được để giảng giải cho quần chúng, mà phải tham gia vào phong trào, cùng họ đấu tranh chống đế quốc và chống phong kiến. Từ đó, dùng những điều mà mình đã học được về lý luận kết hợp với thực tiễn sinh động trong công cuộc đấu tranh của quần chúng để cắt nghĩa cho nông dân hiểu sưu cao thuế nặng là một hình thức bóc lột địa chủ phong kiến; cắt nghĩa cho công nhân hiểu là bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư; cắt nghĩa thế nào là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản; thế nào là mâu thuẫn cơ bản của xã hội thuộc địa… Chỉ có qua hoạt động thực tiễn của bản thân quần chúng, họ mới hiểu lý luận một cách tự nhiên, cụ thể và sinh động. Đó là con đường tốt nhất, một phương pháp hay nhất để đưa lý luận thâm nhập vào quần chúng.
Đó cũng là con đường để mỗi cán bộ lý luận hiểu được chiều sâu và thực chất của lý luận”.
Do ý thức như thế, dù ở cương vị Tổng bí thư nhưng Nguyễn Văn Linh vẫn đủ tầm nhìn để biết và chia sẻ “những điều trong thấy…” trong tầng lớp lao động trong xã hội. Tưởng đơn giản, nhưng lịch sử đã cho thấy không phải bất cứ ai khi ở vị trí chót vót quyền lực cũng sống trong tâm thế ấy. Theo nhà nghiên cứu Trần Tình, cũng là người có thời gian trực tiếp giúp việc cho ông:
“Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng, đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi lịch sử của dân tộc ta. Nhưng từ năm 1976 đến đầu những năm 80, những khó khăn về kinh tế- xã hội diễn ra vô cùng gay gắt. Mùa màng ở miền Bắc liên tiếp bị thất bát, cơ chế quản lý hợp tác xã (HTX) – từng phát huy tác dụng tốt trong những năm chiến tranh – nay đang mất dần sức sống, không gắn được nông dân với đồng ruộng. Các tỉnh lúa như Hải Hưng, Thái Bình, có năm tới 40 – 50% nông dân thiếu lương ăn. Hàng hóa tiêu dùng thiết yếu khan hiếm. Ở miền Nam, cơ chế hợp đồng thu mua lương thực không chú ý đúng mức lợi ích người nông dân trong khi sản xuất nông nghiệp đã có tính chất sản xuất hàng hóa, nên nông dân kém hăng hái sản xuất. Nhiều tỉnh, nhất là Khu 6 (cũ), liên tục báo cáo tình hình căng thẳng về cân đối lương thực; Nhỏ như tỉnh Bến Tre, có năm thiếu tới 53.000 tấn gạo ăn… Lúc ấy, anh Linh còn ở ngôi nhà số 117 đường Yên Đổ (nay là đường Lý Chính Thắng) thành phố Hồ Chí Minh. Đối diện là một cửa hàng lương thực. Hàng ngày, hễ mở cửa nhìn sang là thấy cảnh từng hàng người đứng chầu chực mua gạo. Anh rất buồn và thường day dứt tự hỏi: “Miền Nam là vựa lúa mà giờ đến nông nỗi này là vì sao?”
Trong thương nghiệp và công nghiệp, sự thể diễn ra càng phức tạp. Chủ trương của Trung ương về tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam, nhấn mạnh phải gắn cải tạo với xây dựng, lấy xây dựng làm chính đã không được các cấp quán triệt và tìm cách thực hiện có kết quả. Tư tưởng duy ý chí, nôn nóng muốn đốt cháy giai đoạn, muốn làm một số đợt cải tạo cho xong diễn ra khá phổ biến. Trên 700 kho thế chấpvà hàng ngàn cơ sở sản xuất, kinh doanh, do chủ cũ bỏ lại được Nhà nước tiếp quản ngay, nhưng hàng hóa bị thất thoát nghiêm trọng. Nạn đầu cơ lương thực và hàng tiêu dùng thiết yếu phát triển. Sản xuất và lưu thông đình đốn. Nhiều nhà tư sản cỡ nhỏ cũng hoang mang muốn hiến tài sản cho Nhà nước với bất cứ điều kiện nào để khỏi bị “đánh”. Số người vì sinh kế bỏ nước ra đi mỗi lúc một tăng…
Bao nhiêu vấn đề góc của sản xuất, của dân sinh phải giải quyết hàng ngày trở thành nội dung quan trọng, bức bách đặt ra trong chương trình hoạt động của Trung ương Đảng và Chính phủ. Những ngày ấy, anh Linh được Trung ương giao “đứng mũi chịu sào”, lãnh trách nhiệm chính, trực tiếp chỉ đạo công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam, làm Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Trách nhiệm đối với dân, với Đảng đè nặng lên vai Anh.
Là những người trực tiếp giúp việc Anh hồi ấy, chúng tôi cảm nhận sâu sắc những trăn trở và cả cả những ý tưởng mới mẻ, táo bạo mà Anh từng ấp ủ. Ngay trước những năm 80, anh đã gợi ra vấn đề: Liệu có thể “gia giảm trên cơ sở cách làm ăn cũ” mà xoay chuyển được tình thế không, hay cần phải có những biện pháp triệt để, có tính cách mạng hơn? Vốn cẩn trọng, Anh dành nhiều thời gian để học hỏi lý luận và bám sát thực tiễn, phân tích những kinh nghiệm hay và những điển hình tốt dù mới còn ít ỏi và chưa hoàn chỉnh để khảo nghiệm những ý tưởng mà Anh đang nung nấu. Nhiều lần, Từ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội công tác, Anh dặn chúng tôi phải thu xếp chương trình cho Anh gặp các nhà nghiên cứu lý luận để, theo cách nói của anh: “Xin các đồng chí ấy cho nghe về lý luận và những lời khuyên” đối với những vấn đề Anh đang quan tâm”.(1)
Những năm tháng trăn trở và “dấn thân” này đã cho thấy hình ảnh một Nguyễn Văn Linh rất năng nỗ và luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân. Trước hết, trong vấn đề cải tạo công thương nghiệp, nay nhìn lại ta đã thấy sự ấu trĩ và những bước đi không đúng, thì ngay trong thờ điểm đó bằng sự nhậy cảm, sự nhận thức sâu sắc Nguyễn Văn Linh đã có những suy nghĩ mà không hẳn ai cũng đồng tình. Ông Nguyễn Võ Danh – nguyên Phó Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh nhớ lại:
“Lúc trực tiếp làm Trưởng ban cải tạo Công thương nghiệp cũng như lúc anh không còn làm nữa mà trực tiếp là Bí thư Thành ủy, anh luôn đi sát và theo dõi tình hình chung cũng như tình hình thành phố và các tỉnh thực hiện công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa. Anh rất băn khoăn ray rứt về đường lối cải tạo xã hội chủ nghĩa nên như thế nào? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất mới phải thích ứng, phù hợp với nhau ra sao? Cải tạo quan hệ sản xuất nhưng làm sao để sản xuất tiếp tục phát triển, đẩy mạnh lực lượng sản xuất tiến lên? Nếu cải tạo Công thương nghiệp xong mà sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân khó khăn hơn thì có nên cải tạo không? Do đó, theo anh, phải nghiên cứu kỹ về tổ chức quản lý thế nào cho phù hợp để khi ta cải tạo xí nghiệp, công ty có thể đi vào cơ chế quản lý mới, điều hành công việc sản xuất được ngay, có năng suất và hiệu quả cao hơn trước khi cải tạo.
Anh đề nghị cải tạo tư sản mại bản trước. Tổ chức quản lý mới ổn rồi sẽ làm tiếp các bước sau. Đối với các hộ tư sản, tư thương nên để cho họ tiếp tục kinh doanh theo đúng luật pháp Nhà nước. Sau này, khi các tổ chức quốc doanh ta vững mạnh, đủ sức ta sẽ tiến hành liên doanh với họ, hướng họ đi vào con đường tư bản Nhà nước… Ý kiến của anh không được chấp thuận. Sau đợt cải tạo ào ạt cả tư sản mại bản, tư sản, tư thương, cả tiểu thương, tình hình xã hội trở nên rối ren. Sản xuất bị giảm sút. Xe cộ không lưu thông được vì thiếu xăng. Máy móc – thiếu phụ tùng thay thế, nhà máy thiếu nguyên liệu, nhiên liệu, hoạt động cầm chừng. Lực lượng tư sản, tiểu chủ về nông thôn nói là để phát triển sản xuất nhưng thiếu nông cụ, không có nhà trường, trạm y tế, phương tiện sinh sống lại kéo về thành phố. Cán bộ cộng nhân viên chức sống nhờ tem phiếu v.v…” (1).
Hình dung lại khó khăn chung của đất nước trong những năm tháng này, chúng ta càng khâm phục và hiểu rõ hơn bản lĩnh của Nguyễn Văn Linh. Đó là bản lĩnh của một người tiên phong đi tìm phương thức mới để tháo gỡ sự bức bách chung đang trì trệ cả xã hội. Cách đi của ông là kết hợp biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Theo ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp – nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh – thì điểm đột phá trước nhất mà ông chọn là xóa bao cấp về lương thực. Ông Nghiệp cho biết: “Trung ương cũng như trong chính quyền, các cuộc họp đã được mở ra liên tiếp để bàn cách giải quyết thực trạng “làm không đủ ăn, xuất không đủ nhập, thu không đủ chi…” đang là nỗi bức xúc lớn. Bấy giờ đồng chí Nguyễn Văn Linh là Bí thư Thành ủy, cùng với Thành ủy nghiên cứu làm thí điểm, mạnh dạn thực hiện việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, mà đi đầu lúc đó xóa bao cấp về lương thực. Hồi tưởng thời điểm ấy, ắt không quên cảnh thường xuyên thiếu hụt lương thực, phải ăn gạo ẩm, gạo mốc và phải ăn độn. Lúc chị Ba Thi làm giám đốc Công ty lương thực đã có nói đi nói lại một câu mà tôi nhớ mãi: “Cái cơ chế của chúng ta, mua thì như cướp, bán thì như cho”, đủ thấy tinh hình phức tạp như thế nào. Sau khi đồng chí Nguyễn Văn Linh và Thành ủy đã chỉ đạo làm thử (có khi “làm lén”, chưa dám báo cáo lên trên): xóa bao cấp, thực hiện ba lợi ích, lương sản phẩm trong công ty xí nghiệp, khoán sản phẩm trong nông nghiệp, trong đánh bắt cá ngoài biển v.v… Với cơ chế mới này thì tình hình đã thay đổi rõ rệt theo chiều hướng tích cực: sản xuất bung ra, công nhân có việc làm, đời sống được cải thiện. Lương thực không còn là vấn đề căng thẳng nữa, chúng ta được ăn gạo trắng, gạo ngon, ngoài ra còn giúp đỡ những nơi khó khăn hoặc đang thiếu đói vì bão lụt. Bấy giờ một số đồng chí lại phê phán nghiêm khắc thành phố Hồ Chí Minh nhạy theo “cơ chế thị trường”, phát triển “chủ nghĩa tư bản”, bước xuống sân bay Tân Sơn Nhất nghe “sặc mùi Nam Tư”… Do vậy trong nội bộ đã có sự tranh luận rất gay gắt, căng thẳng. Mở cuộc họp mặt, phải công nhận là có tính lịch sử, ở Đà Lạt, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã đưa bốn đồng chí giám đốc doanh nghiệp, trong đó có hai giám đốc trực thuộc Bộ, Ngành Trung ương báo cáo với những đồng chí có trách nhiệm cao nhất ở Trung ương về tình hình làm ăn theo kiểu xóa tập trung quan liêu bao cấp (lúc đó chưa có danh từ “đổi mới”). Tôi vẫn còn nhớ, được nghe kể lại một đồng chí giám đốc trực thuộc Bộ Ngành Trung ương vừa khóc vừa nói với đồng chí Trường Chinh rằng: “Chúng tôi phải làm theo cơ chế của thành phố, bởi nếu không thì nhà máy phải đóng cửa, công nhân chịu thất nghiệp, tình hình sẽ vô cùng khó khăn, bế tắc, không lối thoát”. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Trường Chinh có nói đại ý: Nếu đúng như các đồng chí trình bày, thì hóa ra từ trước đến nay tôi nhận được những thông tin không đúng sự thật.
Sau đó, đồng chí Trường Chinh và các đồng chí trong Bộ Chính trị đã trực tiếp đi tìm hiểu nhiều cơ sở, nghe các công ty xí nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh báo cáo. Thực tế sinh động đã giúp các đồng chí thấy rõ, hiểu sâu sát tình hình, trên cơ sở đó các đồng chí lãnh đạo Trung ương, nhất là đồng chí Trường Chinh quyết tâm và dứt khoát xóa bỏ cơ chế cũ, thực hiện đường lối đổi mới. Và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 6, Nghị quyết có lính lịch sử ra đời, đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam chuyển sang bước ngoặt mới.
Công lao “đổi mới” thuộc về tập thể, nhưng tôi nghĩ công bằng mà nói, đồng chí Nguyễn Văn Linh bằng tấm lòng và tư duy của mình, từ thực tiễn của thành phố và những tỉnh thành bạn, là người đã góp phần to lớn, quan trọng và đi trước”.
Tiếc rằng, nội dung của cuộc họp “có tính lịch sử, ở Đà Lạt” cụ thể như thế nào thì đến nay ta vẫn chưa biết rõ. Theo tài liệu của Đại tá, bác sĩ Lê Hồng Quang – người đặc trách chăm sóc sức khỏe ông Nguyễn Văn Linh từ năm 1967 – có cho biết đôi nét: sự kiện này diễn từ ngày 12/7/1987 đến ngày 20/7/1987 là kết thúc. Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh gồm nhiều cán bộ chủ chốt và một số các doanh nhân, doanh nghiệp khác. Trong những ngày này, Đoàn đã báo cáo lại tình hình Thành phố Hồ Chí Minh với Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng, Thường trực Ban bí thư Trung ương Đảng Võ Chí Công…
Để làm được “thuyết phục” được Trung ương và được nhân dân ủng hộ, trong thời gian làm Bí thư Thành ủy từ tháng 12/1981, ông Nguyễn Văn Linh đã tạo được những dấu ấn có tính đột phá nhằm thoát khỏi cơ chế quan liêu bao cấp. Ông Võ Thành Công – nguyên Phó chủ tịch UBND thành phố, phụ trách Công nghiệp nhớ lại: “Sau khi nắm tình hình thực tế ở cơ sở, đồng chí (Nguyễn Văn Linh) giao cho Ban Công nghiệp Thành ủy và các chuyên viên nhiệm vụ tham mưu, giao cho lãnh đạo nhà máy dệt Thành Công đi đầu trong thí điểm, phải sơ kết và kết luận về cơ chế đã cho thí điểm ở đó, để phát hiện những điều bất hợp lý, sai trái trong chế độ kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp hiện hành. Nghe và tranh luận rất sôi nổi về mô hình Dệt Thành Công, đồng chí Bùi Văn Long, nguyên Tổng giám đốc ngành dệt phía Nam, với lòng xúc động đã thốt ra mấy vần thơ mộc mạc:
Thành Công nhà máy đi đầu
Phá rào bao cấp ai đâu có ngờ
Thành Công dệt được bài thơ
Kinh tế mở cửa bây giờ chứng minh
Việc làm đúng lý, đúng tình
Có trên, có dưới, có mình, có ta…
Thành Công vang dội bài ca
Phá rào bao cấp đó là nghiệp chung…
Các giám đốc ngành dệt rất tâm đắc khi nghe đồng chí Nguyễn Văn Linh nói: “Chỉ có một Thành Công không đủ, phải cả trăm nghìn cơ sở thành phố tiến mạnh vào mặt trận chống quan liêu bao cấp, tháo gỡ để sản xuất bung ra, hiệu quả kinh tế tăng lên, đồng vốn, tay nghề của người thợ, tiểu chủ thành phố phải được huy động, công nhân có việc làm”. Trong nhiều phiên họp của Thành ủy, đồng chí nêu nhiều ý kiến lãnh đạo, chỉ đạo mở rộng thí điểm cho nhiều đơn vị với nhiều mô hình khác nhau, nhiều ngành nghề và từng loại sở hữu khác nhau, có xí nghiệp do các Bộ Trung ương quản lý, có loại do thành phố và quận quản lý. Ngoài việc tiếp tục làm thí điểm Dệt Thành Công, không chỉ về cơ chế quản lý mà còn cơ chế Đảng lãnh đạo, thủ trưởng quản lý, công nhân tham gia quản lý, mở rộng thêm thí điểm với các xí nghiệp sau đây: Dệt Phước Long, Phong Phú, Việt Thắng, v.v…;
Nhà máy Caric, Công ty Dược (xí nghiệp Dược 2-9), Xí nghiệp Công tư hợp doanh cao su Phạm Hiệp, Xí nghiệp gạch lát Đời Tân, Liên hiệp thuốc lá miền Nam – Nhà máy liên hiệp bia Sai Gòn – Công ty bột giặt Viso, LISATA (sự liên kết công nghiệp vừa, nhỏ và gia đình), Quận 5 và quận 11…
Nhiều đơn vị không được chọn làm thí điểm nhưng cũng đã nao nức lập đề án đổi mới cơ chế như Thủy tinh Gò Vấp, Khánh Hội, Vikyno, Vinapro, các xí nghiệp đóng sửa chữa tàu, Công ty Vận tải, Cung ứng vật tư…
Trước tình hình đó, tập hợp ý kiến, nguyện vọng của nhiều giám đốc xí nghiệp, đồng chí Nguyễn Văn Linh chấp nhận hình thức tổ chức câu lạc bộ giám đốc, đồng chí Võ Thành Công được chỉ định là chủ nhiệm. Chức năng của Câu lạc bộ này là tập hợp có chọn lọc các cách làm nhằm tháo gỡ những khó khăn do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp áp đặt lâu nay, tìm cho được mô hình: kinh doanh phải có lãi, xí nghiệp không những chỉ đứng vững trên cơ sở vật chất cũ mà qua mỗi chu kỳ sản xuất phải thực hiện cho được tái sản xuất mở rộng, đời sống cán bộ, công nhân viên từng bước được ổn định và cải thiện”.
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) mở đầu công cuộc đổi mới, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam, thì vai trò của Tổng Bí thư của Nguyễn Văn Linh đã để lại những dấu ấn lớn, có tính cách quyết định số phận của nhiều tầng lớp nhân dân trong xã hội. Không chỉ là người nắm bắt thực tiễn, qua thực tiễn để hiểu rõ tâm tư của quần chúng, Nguyễn Văn Linh còn là một nhà lý luận. Ông đã công bố các tác phẩm chính luận sắc bén như Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm, Đổi mới tư duy và phong cách, Về công tác quần chúng, Đổi mới để tiến lên (4 tập), Theo con đường Bác Hồ đã chọn… đã tạo được tiếng vang lớn và góp phần tạo quần chúng niềm tin vào chính sách Đổi mới của Đảng mà Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị đi đầu. Trong tập Tìm hiểu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (NXB Lao Động – 2003) ghi nhận: “Đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Tổng bí thư nhiệm kỳ đầu tiên của thời kỳ đổi mới, khi đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội sâu sắc và kéo dài suốt những năm 80; lạm phát 3 con số; dự trữ quốc gia ở mức thấp, có năm thiếu đói, lòng dân không yên. Những khó khăn đối nội đó lại được nhân lên bởi sự bao vây, cấm vận của chính quyền Mỹ; thêm vào đó chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đứng trước sự sụp đổ tan vỡ. Trước thực tế hiểm nghèo đó, đồng chí đã cùng Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VI của Đảng. Thắng lợi trong những năm đầu của sự nghiệp đổi mới còn là sự chuẩn bị cơ sở lý luận và thực tiễn cho Đảng ta đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và hoạch định kế hoạch dài hạn trong xây dựng đất nước ở Đại hội VIII. Trong nhiệm kỳ của Đại hội VI (1981- 1991) trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Linh có nhiều đóng góp to lớn trong cho công cuộc đổi mới đất nước. Công lao của đồng chí có thể khái quát ở hai vấn đề cơ bản như sau: “- Góp phần đề ra, bổ sung, phát triển đường lối đổi mới kể từ sau Đại hội VI; – Tổ chức, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân thực hiện công cuộc đổi mới, bước đầu thu được nhiều thành tựu”. Ngoài các sự kiện tiêu biểu ta đã biết, thì trong lãnh vực văn hóa nghệ thuật ông cũng là người để lại dấu ấn Đổi mới rất đậm nét. Theo tường thuật của báo Văn Nghệ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam (số 42 ra ngày 17/10/1987) thì cuộc gặp gỡ giữa ông với hàng trăm văn nghệ sĩ trong hai ngày, từ ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987 tại Hà Nội được ghi nhận “Một sự kiện lịch sử”! Bài báo tường thuật: “Lời mở đầu của đồng chí Tổng Bí thư là một câu hỏi nhìn thẳng vào sự thật. Đồng chí nói: “… Tôi có một băn khoăn: hình như từ sau ngày giải phóng đất nước đến nay những thành tựu văn học nghệ thuật của chúng ta nghèo hơn trước, không biết có đúng thế không? Nếu không đúng như thế, thì tôi mừng. Còn nếu đúng như thế thì tại sao? Hay do lãnh đạo có sự kiểm duyệt, sự hạn chế gì?… Nếu có tình hình ấy, tôi đề nghị có thể đó là một chủ đề để chúng ta trao đổi. Tôi mong được nghe ý kiến các đồng chí…”. Từ cuộc đối thoại nầy, với ý thức “cởi trói cho sự sáng tạo” ta thấy một loạt tác phẩm tốt ra đời chính là từ giai đoạn này.
Cuối đời
Cả một đời tận tụy với sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước; có thời điểm là người “đứng mũi chịu sào” với bản lĩnh bền bĩ, trung kiên, sáng tạo tìm phương thức mới để đưa đất nước vượt qua khó khăn, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh xứùng đáng được nhân dân tuyên dương là một người cộng sản mẫu mực “tận trung với Nước, tận hiếu với Dân” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy. Ông mất ngày 27/4/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 7 – Những nhà cải cách Việt Nam, Nxb Trẻ.